Những nội dung cơ bản của BHXH
- Đối tượng BHXH
Đối tượng của BHXH là người lao động. Tuy nhiên, theo bản chất vốn có, đối tượng của
BHXH là thu nhập của người lao động chứ không phải bản thân họ. BHXH được hình
thành để góp phần cân bằng thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu
nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc khả năng lao động không được sử dụng.
Còn đối tượng đảm bảo của BHXH là người lao động và gia đình họ theo quy định của
phápluậtBHXH.
Đối tượng tham gia BHXH là người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước trong
một số trường hợp.
- Các chế độ BHXH
Nội dung của Công ước số 102 về BHXH bao gồm một hệ thống 9 chế độ như sau:
1. Chế độ chăm sóc y tế
2. Chế độ trợ cấp ốm đau
3. Chế độ trợ cấp thất nghiệp
4. Chế độ trợ cấp tuổi già
5. Chế độ trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp
6. Chế độ trợ cấp gia đình
7. Chế độ trợ cấp thai sản
8. Chế độ trợ cấp tàn tật
9. Chế độ trợ cấp tiền tuất
Trong đó Các chế độ bảo hiểm ngắn hạn bao gồm:
1. Chế độ chăm sóc y tế
2. Chế độ trợ cấp ốm đau
3. Chế độ trợ cấp thất nghiệp
5
4. Chế độ trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp
5. Chế độ trợ cấp gia đình
6. Chế độ trợ cấp thai sản
Hiện nay pháp luật BHXH của Việt Nam quy định có 5 chế độ: chế độ trợ cấp cho
những trường hợp bị ốm đau (gọi tắt là chế độ ốm đau); chế độ BHXH cho lao động nữ
khi sinh con (gọi tắt là chế độ thai sản); chế độ trợ cấp BHXH cho người lao động bị
tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (gọi tắt là chế độ TNLĐ & BNN); chế độ chôn
cất và trợ cấp mất người nuôi dưỡng (gọi tắt là chế độ tử tuất); chế độ bảo hiểm tuổi
già (gọi tắt là chế độ hưu trí).
Có thể nói, các chế độ là nội dung cốt lõi nhất của hệ thống BHXH, nó thể hiện được
vai trò và phạm vi trách nhiệm của BHXH đối với người lao động khi họ tham gia
BHXH.
Trong các chế độ BHXH, quy định đối tượng được thụ hưởng, các điều kiện hưởng
BHXH, mức hưởng và thời hạn được hưởng trợ cấp BHXH (sẽ được đề cập sâu hơn ở
những phần sau - tác giả).
Trợ cấp BHXH là khoản tiền từ quỹ BHXH được bên BHXH (cơ quan BHXH) chi trả
cho mọi người được BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập bị giảm, mất khả năng
lao động hoặc mất việc làm và có đủ các điều kiện quy định.
- Quỹ BHXH
Quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của các bên tham gia BHXH và
các nguồn thu hợp pháp khác, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung, được sử dụng để chi trả
cho những người được Quỹ BHXH được hình thành bởi nhiều nguồn khác nhau. Trước
hết, đó là phần đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước. Đây là
nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất và cơ bản của quỹ. Thứ hai, là phần tăng thêm do bộ phận
nhàn rỗi tương đối của quỹ được tổ chức BHXH chuyên trách đưa vào hoạt động sinh lợi.
Thứ ba, là phần nộp phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế vi phạm luật lệ về BHXH.
Ngoài ra, quỹ còn có các nguồn thu hợp pháp khác được pháp luật của mỗi nước quy định.
6
Theo mục đích của BHXH, quỹ BHXH phải đảm nhận chi những khoản chủ yếu
như: trả trợ cấp theo các chế độ BHXH (khoản chi này chiếm tỷ trọng lớn nhất); chi phí
cho bộ máy hoạt động BHXH chuyên nghiệp (tiền lương, đào tạo ) chi phí bảo đảm các
cơ sở vật chất cần thiết và chi phí quản lý khác.
Ở Việt Nam :1961-1985 phần quỹ cho 3 chế độ mất sức lao động,tử tuất và mất sức lao
đông=1%tổng quỹ lương.
1988 tăng lên 2% tăng dần lên.
- Tổ chức quản lý BHXH
Quản lý BHXH chung nhất, được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý vào đối
tượng và khách thể quản lý trong các hoạt động của BHXH, nhằm đạt được mục tiêu đề ra
với những nguyên tắc và phương pháp quản lý phù hợp với hệ thống quản lý chung của
nền kinhtế.
Ở Việt Nam:Tổ chức thực hiện BHXH theo mô hình 3 cấp, từ trung ương đến địa phương.
II. Các chế độ bảo hiểm ngắn hạn.
1.Chế độ chăm sóc y tế
-Mục đích của chế độ chăm sóc y tế
Chăm sóc y tế nhằm mục đích chữa bệnh và, trong một số điều kiện theo quy định,
nhằm mục đích phòng bệnh. Mục đích của chế độ này là cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế
để duy trì, khôi phục và cải thiện sức khoẻ và khả năng làm việc cũng như đáp ứng nhu
cầu cá nhân của họ. Chế độ này giúp người tham gia BHXH nhanh chóng hồi phục sức
khoẻ và đảm bảo ASXH.
- Đối tưởng hưởng chế độ chăm sóc y tế: người lao động ốm và thân nhân người lao động
ốm (con nhỏ và đối tượng khác)
- Điều kiện hưởng chế độ chăm sóc y tế: ốm đau và mọi trường hợp cần can thiệp của chế
độ y tế
7
- Mức trợ cấp và thời gian trợ cấp chăm sóc y tế: thiết kế thời gian dài hơn gồm thời gian
giới hạn và thời gian bổ sung,ngoại lệ,có sự khống chế thời gian loại dịch vụ và danh mục
y tế
2.Chế độ trợ cấp ốm đau
-Khái niệm
Ốm đau là sự kiện pháp lý làm cho người lao động tạm thời mất khả năng lao động
dẫn đến gián đoạn về thu nhập.
Theo Luật bảo hiểm xã hội thì bảo hiểm ốm đau là trường hợp được trợ cấp khi
mất khả năng lao động do ốm đau, tai nạn lao động, chăm sóc con ốm đau mà người lao
động bị gián đoạn về thu nhập.
-Mục đích
Đối với người lao động, bảo hiểm ốm đau là sự trợ giúp ngắn hạn hỗ trợ người lao
động và thành viên gia đình người lao động khi họ bị gián đoạn về thu nhập. Đây là sự bù
đắp giúp người lao động có khả năng phục hồi sức khỏe, duy trì cuộc sống của bản thân và
gia đình người lao động. Bảo hiểm ốm đau còn là cơ sở pháp lý động viên người lao động
điều trị hiệu quả và khuyến khích người lao động trong quá trình thực hiện công việc của
mình.
-Đối tượng hưởng chế độ ốm đau: người lao động bị ốm phải nghỉ việc để điều trị
-Điều kiện hưởng chế độ ốm đau
Người lao động được hưởng chế độ ốm đau khi có các điều kiện sau:
- Bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc
- Có con ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc
- Người lao động có đóng bảo hiểm xã hội.
-Thời gian và mức hưởng trợ cấp ốm đau: gồm 3 mức
Mức 1: trợ cấp < mức thu nhập bị mất
Mức 2: trợ cấp > mức thu nhập bị mất
Mức 3: trợ cấp = mức thu nhập bị mất
8
Thời gian hưởng là tối đa và thiết kế các trường hợp ngoại lệ
3.Chế độ trợ cấp thất nghiệp
-Mục đích của chế độ trợ cấp thất nghiệp
Một bộ phận không nhỏ lao động do nhiều nguyên nhân khác nhau bị mất việc làm,
đời sống rất khó khăn, ảnh hưởng đến an sinh xã hội. Bảo hiểm thất nghiệp ra đời sẽ giúp
góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao động được học nghề và tìm việc làm,
sớm đưa họ trở lại làm việc.
-Đối tượng hưởng trợ cấp: Người lao động mất việc làm hoăcj rơi vào tình trạng thất
nghiệp nói chung
-Điều kiện hưởng trợ cấp: thiết kế chi tiết cụ thể ( người lao động thất nghiệp nhưng do
nguyên nhân khách quan, có năng lực và sẵn sàng làm việc ) và còn phụ thuộc vào thời
gian tham gia bảo hiểm
-Thời gian và mức hưởng trợ cấp
Thời gian:thiết kế thời gian tối đa do tỷ lệ thất ngiệp ngày càng tăng ,thời gian kéo dài thời
gian tìm việc làm và thực trạng của nền kinh tế suy thoái, khủng hoảng lạm phát nên kéo
dài thất nghiệp hơn.
Mức hưởng trợ cấp: tối thiểu , thấp rất thấp,chỉ đủ đảm bảo các nhu cầu sống thiết yếu
-Quỹ bảo hiểm thất nghiệp: Nguồn hình thành quỹ
Người lao động. Người sử dụng lao động Nhà nước hỗ trợ từ ngân Tiền sinh lời của hoạt
động đầu tư từ quỹ. Các nguồn thu hợp pháp khác.
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được sử dụng: 1. Trả trợ cấp thất nghiệp. 2. Hỗ trợ học nghề. 3.
Hỗ trợ tìm việc làm. 4. Đóng bảo hiểm y tế cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp. 5. Chi
phí quản lý. 6. Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định
9
4.Chế độ trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp
-Khái niệm và mục đích : Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là sự
bù đắp một phần thu nhập cho người lao động về những thiệt hại của họ, giúp họ phục hồi
sức khỏe do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp làm giảm hoặc mất đi khả năng lao động
dẫn đến mất hoặc giảm thu nhập. Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhằm trợ giúp
cho người lao động khắc phục những thiệt hại tạm thời cũng như lâu dài để gióp phần ổn
định cuộc sống của người lao động do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp gây ra.
-Đối tượng được trợ cấp: những người làm công ăn lương, đối tượng trợ cấp còn
có thể là vợ goá hoặc con cái của người lao động trong trường hợp họ bị tai nạn lao động
hoặc bệnh nghề nghiệp và bị tử vong. Trường hợp này còn gọi là trợ cấp tiền tuất cho
người thân của họ.
-Điều kiện được hưởng: người lao động gặp rủi ro, tai nạn và mắc bệnh nghề
nghiêp theo danh mục các bệnh nghề nhiệp quy định vì nguyên nhân nào đó mà bị ốm đau,
mất khả năng lao động dẫn đến gián đoạn một phần hoặc toàn bộ thu nhập. Trợ cấp chỉ áp
dụng đối với người lao động làm công ăn lương trên lãnh thổ quốc gia vào lúc xảy ra tai
nạn hoặc bệnh nghề nghiệp.
-Mức trợ cấp và thời gian trợ cấp: Vì các rủi ro, tai nạn và bệnh nghề nghiệp mang
tính chất ngẫu nhiên, người lao động phải gánh chịu rủi ro cho người khác nên trong
trường hợp này rủi ro đạo đức thấp, cần phải trợ cấp tối đa. Trợ cấp hợp lý nhất trên cơ sở
lương tháng cuối cùng trước khi xảy ra tai nạn. Thời gian trợ cấp là suốt thời gian người
lao động gặp rủi ro ngay từ ngày đầu tiên khi họ không có thu nhập. Riêng đối với trường
hợp mất khả năng lao động có thể quy định thời gian chờ không quá 3 ngày đầu tiên của
mỗi lần gián đoạn thu nhập.
5.Chế độ trợ cấp gia đình
-Muc đích: cung cấp các nhu yếu phẩm và dịch vụ thiết yếu cho cuộc sống con cái
và người thân của người lao động vói mục đích giảm nhẹ gánh nặng vế con cái giúp họ yên
tâm trong quá trình lao động .Thực hiện mục tiêu bình đẳng và công bằng xã hội,góp phần
hình thành nenn nguồn nhân lực có trí lực và thể lực tốt trong tương lai.
-Đối tượng :người thân của người lao động
10
-Điều kiện hưởng : người lao động là trụ cột trong gia đình và có gánh nặng về con
cái hoặc người thân cân hỗ trợ về tài chính.
-Thời gian trợ cấp là toàn bộ khoảng thời gian mà người lao dộng thỏa mãn các
điều kiện quy định để được hưởng trợ cấp gia đình.
6.Chế độ trợ cấp thai sản
-Khái niệm Chế độ thai sản là chế độ thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với lao
động đặc thù và nhóm người nhận nuôi con nuôi.
Mục đích: Chế độ thai sản nhằm bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi có thai,
sinh con, nhân nuôi con nuôi sơ sinh. Đồng thời đó cũng là một khoản trợ cấp nhằm trợ
giúp cho người lao động góp phần bảo đảm cân bằng về thu nhập và ổn định sức khỏe cho
người lao động. Thông qua chế độ thai sản, chức năng làm mẹ của lao động nữ được nhà
nước quan tâm và bảo đảm thực hiện.
-Đối tượng hưởng chế độ thai sản: Người lao động trong thời gian sinh con và nuôi
con sơ sinh.
-Điều kiện hưởng chế độ thai sản
- Lao động nữ mang thai
- Lao động nữ sinh con và nuôi con nhỏ.
-Thời gian trợ cấp và mức trợ cấp
Thời gian hưởng trợ cấp:dựa trên cơ sở kinh tế ; cơ sơ sinh học (phụ thuộc vào chế độ làm
việc, số con trong một lần sinh và tuổi của đứa trẻ sơ sinh nhận nuôi) ;ngoài ra còn phụ
thuộc vào thời gian đóng bảo hiểm trước đó.
Mức trợ cấp:cao nhất mà quỹ cho phép,trợ cấp > hoặc = với thu nhập.
11
CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA BHNH Ở
VIỆT NAM
1. Quá trình phát triển của hệ thống BHXH ở Việt Nam
A-Thời kì Pháp thuộc :
Trong ngót một thế kỉ ,Việt Nam là thuộc địa của đế quốc Pháp.Nhân dân lao đông Việt
Nam bị áp bức bóc lột đến xương tủy ,sống một cuốc đời cơ cực.Trong các nhà máy hầm
mỏ đồn điền của thực dân Pháp,điều kiện lao động nặng nhọc,vất vả, chế độ lao động hà
khắc tiền lương rẻ mạt, hàng vạn người lao động đã vùi xác trong các đồn diền,hầm mỏ
của thực dân.Luật lệ lao động không có còn nói gì tới BHXH.
Từ khi thành lập Đảng ta, trong luận cương chính trị đã đề ra khẩu hiệu đòi nữ
công nhân khi đẻ phải được nghỉ có lương và đòi các quyền lợi bảo hiểm khác.Đến thời kì
mặt trận dân chủ Đông Dương do Đảng ta lãnh đạo,hoạt động công khai,đưa phong trào
dấu tranh của nhân dân lao động lên đỉnh cao,khi đó bọn thực dân Pháp mới chịu nhượng
bộ và ban hành quy chế lao động Đông Dương rồi đến quy chế tai nạn lao động.Nhưng
những quy chế này chỉ là cái bánh vẽ biết bao nhiêu vụ tai nạn lao động đã không được
chúng bồi thường và để lại cho ta giải quyết khi ta tiếp quản các vùng bị tạm chiếm năm
1954.
Tuy nhiên nhân dân Việt Nam có truyền thống cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau những
khi gặp rủi ro hoạn nạn. Đặc biệt là sự che chở của họ hàng làng xã thân tộc. Cũng có một
số nhà thờ tổ chức nuôi trẻ mồ côi, thực hiện tế bần (BHXH sơ khai).
B-Thời kì CMT8 1945 đến 1961 (tức là khi ban hành điều lệ BHXH )
CM tháng tám thành công, nhân dân làm chủ đất nước mặc dù gặp nhiều khó khăn
về kinh tế,chính trị,quân sự nhưng ngay sau khi dành được chính quyền Đảng và chính phủ
rất quan tâm tới đời sống nhân dân lao động :thành lập bộ lao động .Việc làm đầu tiên là
bãi bỏ các luật lệ hà khắc của thực dân để lại và tiến hành nghiên cứu xây dựng ngay bộ
luật lao động đầu tiên của nước ta ( Sắc lệnh số 29/ SL ngày 12/3/1947 )
Chính phủ ban hành sắc lệnh số 76, 77 ngày 20 và 22 tháng 5 năm 1960 về quy chế
công nhân, viên chức nhà nước trong đó có những quy định của BHXH.
12
Hòa bình lặp lại, miến bắc bước vào thời kì khôi phục và phát triển kinh tế nhiều xí
nghiệp cũ đươc khôi phục, nhà máy được xây dựng.Đội ngũ công nhân chức không ngừng
lớn mạnh.Trước tình hình đó chính phủ dần dần ban hành các chế độ tiền lương lao đông,
phúc lợi và BHXH thích hợp cho từng loại đối tượng.
Đối với xí nghiệp tư bản tư doanh, nhà nước ban hành điều lệ tạm thời về quan hệ
chủ thợ số 646/TTG ngày 27/12/1955 quy định về bao hiểm khi ốm đau,sinh đẻ, tai nạn lao
động.
Nhìn chung các chế độ nói trên hoặc vì ban hành trong hoàn cảnh khó khăn ,kinh tế
thiếu thốn nên các chế độ trợ cấp mang tính chất cung cấp bình quân với tinh thần đồng
cam cộng khổ có tính chất tạm thời trước mắt
Về mặt biên bản có nhiều thông tư,nghị định chắp vá khó khăn cho việc áp dụng và
thi hành. Về mặt kinh phí thì mọi chỉ tiêu BHXH còn thấp trong quỹ lương còn bất hợp lí
thiếu tác động khuyến khích sản xuất và sự quản lý chặt chẽ.Do đó năm 1960, hội đồng
chính phủ đã quyết định đi đôi với việc cải tiến chế độ tiền lương càn ban hành các chính
sách cụ thể về BHXH và phúc lợi cho công nhân viên chức cán bộ.Sau khi hoan thành
thắng lợi kế hoạch và cải tạo kinh tế phát triển miền bắc đã bước vào thực hiện kế hoạch
dài hạn 5 năm .Chính phủ ban hành ‘’Điều lệ tạm thời về các chế độ BHX Giai đoạn này
là cơ sở cho việc hình thành hệ thống pháp luật các chế độ BH ngắn hạn sau nàyTrong đó
có các quy định về chế độ thai sản, chế độ trợ cấp ốm đau. Tuy nhiên do hoàn cảnh lúc
bấy giờ nên diện trợ cấp còn hẹp và mức trợ cấp còn thấp, chủ yếu được thực hiện bằng
hiện vật (gạo)
C-Giai đoạn 1961-1985
Miền bắc tiến lên công cuộc xây dựng CNXH ,miền nam chiến đấu và thống nhất
nước sau chiến tranh.Để đảm bảo cuộc sống cho người lao động chính phủ ban hanh nghị
định số 218/CP ngày 30/10/1964 làm theo điều lệ ưu đại tạm thời đối với quân nhân :2
điều lệ được coi là hai bản gốc của PL BHXH . Hai điểm hạn chế sự bao cấp trong các
khoản trợ cấp và sự chồng chéo của nhiều văn bản bổ sung.
Đây là giai đoạn hình thành hệ thống BHXH trong đó có ba chế độ BH ngắn hạn gồm:
+ Chế độ trợ cấp ốm đau
13
+ Chế độ trợ cấp thai sản
+ Chế độ trợ cấp ti nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
Tuy nhiên thời gian này còn nhiều hạn chế do nguồn hình thành quỹ chủ yếu do
ngân sách nhà nước đài thọ nên đối tượng còn hạn chế ,mức trợ cấp so với lương còn
thấp,chưa có hệ thống văn bản rõ ràng,chi tiết và đầy đủ nhưng đã đánh dấu bước ngoặt
lớn cho sự phát triển của BHXH ở Việt Nam.
D-Giai đoạn 1985- nay
Giai đoạn 1986 đến nay, cũng như các nước có nền kinh tế thị trường, kinh tế thị
trường ở Việt Nam đã làm cho đời sống kinh tế - xã hội năng động hơn, đa dạng và phong
phú hơn. Người dân có nhiều cơ hội, điều kiện hơn để phát huy tiềm năng sức sáng tạo của
mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các hoạt động xã hội. Mặt khác kinh tế
thị trường cũng đặt ra nhiều thách thức như: Phá sản, thất nghiệp là những nguy cơ luôn tiềm
ẩn các tệ nạn xã hội, phân hóa giàu nghèo là điều khó tránh khỏi… Những rủi ro này làm
tăng nhu cầu về an sinh xã hội của người dân. Đặc trưng cơ bản của an sinh xã hội trong nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn này là đã có sự chuyển giao dần “công việc” từ
Nhà nước sang cho xã hội, cho cộng đồng.
BHXH bắt đầu đổi mới được đánh dấu từ sau khi đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 năm 1986
Hàng loạt văn bản pháp luật được ban hành hiến pháp năm 1992; NĐ số 43/CPQĐ
tạm thời về BHXH
23/6/1994 thông qua luật lao động .
NĐ 12/CP 26/01/1995 kèm theo điều lệ BHXH.
NĐ 45/CP 15/7/1995 ban hành điều lệ BHXH với sỹ quan,quân dân chuyên nghiệp và hạ
sỹ quan
29/6/2006 chính phủ thông qua luật BHXH có hiệu lực từ ngày 1/1/2007
BHXH bao gồm 3 loại hình sau:
BHXH bắt buộc: sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2007.
BHXH tự nguyện: sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2008
BH thất nghiệp: sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2009.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét