thêu Huế, chạm bạc Đồng Xâm, sứBình Dương, v.v Riêng tỉnh Hà Tây
có đến 411 làng nghề, được mệnh danh là “đất trăm nghề”, nhiều nhất
nước.
Khi cuộc cạnh tranh với quy mô toàn cầu mở ra, những sản phẩm thủ
công mỹ nghệ mà doanh nhân nước ta mang ra thị trường đều phải có sức
cạnh tranh cao hơn trước, không những trên thị trường WTO mà ngay trên
thị trường trong nước, đó là điều đã rõ. Song, điều cần nhấn mạnh là: đó
không chỉ là những hoạt động đơn thuần kinh tế, mà ẩn chứa bên trong các
sản phẩm thủ công mỹ nghệ ấy, luôn luôn có hàm lượng văn hóa, trước hết
là văn hóa của mỗi cơ sở sản xuất và rộng hơn, là bản sắc văn hóa của từng
làng nghề và của cả Việt Nam ta. Nói cách khác, kinh tế và văn hóa gắn bó
với nhau, hòa quyện vào nhau trong mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ.
Văn hóa thủ công mỹ nghệ làng nghề không chỉ được thể hiện rõ,
nhận biết ngay được trong sản phẩm truyền thống của các làng nghề, mà
còn thể hiện ngay trong phương thức kinh doanh của mỗi doanh nghiệp,
cũng như trong thái độ ứng xử của mỗi doanh nhân. Có thể ví dụ: nếu như
trong vải lụa, trong chiếc khăn thổ cẩm, bộ bàn ghế mây tre, chất lượng
không tốt, dùng chóng hỏng, không đồng đều,mầu sắc chóng phai, v.v thì
rõ ràng là nội dung văn hóa trong sản phẩm, hàng hóa đã không được bảo
đảm, ảnh hưởng xấu đến thương hiệu của nhà sản xuất, mất tín nhiệm đối
với người tiêu dùng.
Chúng ta mang hàng thủ công mỹ nghệ ra thị trường WTO càng
nhiều càng tốt, nhưng tất cả cần phải toát lên bản sắc văn hóa Việt Nam,
làm cho sản phẩm, hàng hóa mang thương hiệu làng nghề Việt Nam vẫn có
những nét riêng của từng làng nghề, không lẫn được với sản phẩm, hàng
hóa của nước khác, cũng tức là mang văn hóa kinh doanh Việt Nam ra thế
giới, góp phần làm phong phú thêm văn hóa kinh doanh toàn cầu. Thực
hiện các giải pháp thiết thực để thể hiện giá trị văn hóa trong hàng hóa,
5
chống sản xuất và kinh doanh hàng giả, hàng rởm chính là gìn giữ và
phát huy giá trị văn hóa của thủ công mỹ nghệ làng nghề, bảo vệ và phát
huy uy tín, thương hiệu của làng nghề.
b.Tổng quan về ngành sơn mài
*.Lịch sử phát triển,đặc điểm:
Sơn mài được coi là một trong các chất liệu hội họa ở Việt Nam Đây là
sự tìm tòi và phát triển kỹ thuật của nghề sơn (nghề sơn ta) thủ công truyền
thống của Việt Nam thành kỹ thuật sơn mài riêng. Tuy nhiên, từ dùng để
gọi sơn mài (tiếng Anh: lacquer) thường được hiểu sang các đồ dùng sơn
mỹ nghệ của Nhật, Trung Quốc. Xin lưu ý, kỹ thuật mài là điểm khác biệt
lớn giữa đồ thủ công sơn mỹ nghệ và tranh sơn mài Việt Nam.
Tranh sơn mài sử dụng các vật liệu màu truyền thống của nghề sơn như sơn
then, sơn cánh gián làm chất kết dính, cùng các loại son, bạc thếp, vàng
thếp, vỏ trai, v.v. vẽ trên nền vóc màu đen Đầu thập niên 1930, những họa
sĩ Việt Nam đầu tiên học tại trường Mỹ thuật Đông Dương đã tìm tòi phát
hiện thêm các vật liệu màu khác như vỏ trứng, ốc, cật tre, v.v. và đặc biệt
đưa kỹ thuật mài vào tạo nên kỹ thuật sơn mài độc đáo để sáng tác những
bức tranh sơn mài thực sự. Thuật ngữ sơn mài và tranh sơn mài cũng xuất
hiện từ đó. Tranh có thể được vẽ rồi mài nhiều lần tới khi đạt hiệu quả mà
họa sĩ mong muốn. Sau cùng là đánh bóng tranh.
Người ta thường lưu ý rằng sơn mài có những điểm "ngược đời": muốn lớp
sơn vừa vẽ khô, tranh phải ủ trong tủ ủ kín gió và có độ ẩm cao. Muốn nhìn
thấy tranh lại phải mài mòn đi mới thấy hình. bạc thếp, bạc dán, bạc xay,
bạc dầm
Hầu hết họa sĩ đồng ý rằng: kỹ thuật vẽ sơn mài khó và có tính ngẫu nhiên
nên nhiều khi các họa sĩ dày dặn kinh nghiệm cũng bất ngờ trước một hiệu
quả đạt được sau khi mài tranh.
6
Các nguyên liệu sử dụng trang trí
Một sản phẩm sơn mài sử dụng khá nhiều nguyên liệu: đó là sơn, màu và
các nguyên liệu khác. Có thể kể ra đây một vài nguyên liệu phổ biến như:
• Sơn: khai thác từ cây sơn ngoài ra còn dùng dầu trẩu, dầu trám, nhựa
thông và nhựa dó
• Màu: sơn mài cổ truyền dùng 2 màu cơ bản là cánh gián đen và đỏ,
loại màu chế từ khoáng chất vô cơ (ví dụ: son) nên không bị phân
huỷ trước ánh sáng và thời gian.
• Các sản phẩm từ bạc như
• Các sản phẩm từ vàng như vàng thếp
• Các vật liệu khác: vỏ trứng, vỏ trai, vỏ ốc, bột điệp
• Ngày nay, người ta đã chế tạo thành công các loại sơn công nghiệp
có thể thay thế các loại sơn mài cổ truyền do có nhiều ưu điểm, nhất
là dễ dàng trong sản xuất tranh và màu sắc thì vô cùng phong phú.
Các công đoạn chính của công nghệ sơn mài
Có thể nói công nghệ sơn mài chỉ có nguyên lý chung nhưng khác biệt
trong kinh nghiệm, kỹ thuật của từng cá nhân, từng gia đình cũng như nó
được biến đổi kỹ thuật làm tranh khác với làm tượng, lại khác với trang trí
đồ vật, sơn phủ hoàng kim Có thể chia làm một số công đoạn chính sau:
bó hom vóc, trang trí, mài và đánh bóng.
Bó hom vóc
Việc hom bó cốt gỗ (đồ vật cần sơn) ngày xưa thường được người làm sử
dụng giấy bả, loại giấy chế từ gỗ dó nên rất dai, có độ bền vững hơn vải.
Cách bó hom vóc được tiến hành như sau: dùng đất phù sa (ngày nay người
thợ có thể dùng bột đá) trộn sơn ta giã nhuyễn cùng giấy bản rồi hom, chít
các vết rạn nứt của tấm gỗ. Mỗi lớp sơn lại lót một lớp giấy (hoặc vải màn)
sau đó còn phải đục mộng mang cá để cài và gắn sơn cho các nẹp gỗ ngang
7
ở sau tấm vóc (ván gỗ) để chống vết rạn xé dọc tấm vải. Sau đó để gỗ khô
kiệt mới hom sơn kín cả mặt trước, mặt sau. Công đoạn này nhằm bảo vệ
tấm vóc không thể thấm nước, không bị mối mọt, không phụ thuộc môi
trường làm gỗ co ngót. Xử lý tấm vóc càng kỹ, càng kéo dài tuổi thọ cho đồ
vật cần sơn, mỗi tác phẩm sơn mài có tuổi thọ 300-400 năm.
Trang trí
Khi có được tấm vóc nói trên (hoặc các mô hình chạm khác bình hoa, các
bộ đồ khác), người chế các món đồ phải làm các công đoạn gắn, dán các
chất liệu tạo màu cho tác phẩm trước tiên như: vỏ trứng, mảnh xà cừ, vàng,
bạc sau đó phủ sơn rồi lại mài phẳng, tiếp đến dùng màu.
Với kỹ thuật sơn phủ tượng và đồ nội thất như: hương án, hoành phi, câu
đối người thợ phải làm trong phòng kín và quây màn xung quanh để tránh
gió thổi các nguyên liệu: quỳ vàng, quỳ bạc, tránh bụi bám vào nước sơn
còn ướt.
Mài và đánh bóng
Vì dầu bóng đã pha màu để vẽ nên độ bóng chìm trong cốt màu tạo thành
độ sâu thẳm của tranh, do đó sau mỗi lần vẽ phải mài. Người xưa sử dụng
lá chuối khô làm giấy nháp. Đến nay, nguyên tắc đánh bóng tranh lần cuối
chưa có gì thay thế phương pháp thủ công vì loại tranh này không được
phép phủ dầu bóng. Đó chính là điểm độc đáo của tranh sơn mài. Sự thành
công của một bức tranh sơn mài phụ thuộc rất lớn vào công đoạn sau cùng.
Có một số thứ để mài và đánh bóng như: than củi xoan nghiền nhỏ, tóc rối,
đá gan gà v.v
Làng nghề sơn mài
Việc làm sơn mài luôn phụ thuộc thời tiết - nó rất thích hợp mùa xuân và
những ngày mưa đầu hạ. Điều đó làm ta thấy sự phân bố làm nghề sơn mài
không những chia theo khu vực sản phẩm mà còn có yếu tố liên kết phục
vụ lẫn nhau.
8
Làng nghề sơn mài Phù Lào (Tiên Sơn - Bắc Ninh) thường lấy quỳ vàng,
quỳ bạc của làng Kiêu Kị (Gia Lâm), lấy giấy dó của làng Đông Cao, lấy
vải màn của làng Đình Cả, lấy vóc hoặc sản phẩm chạm khắc của làng Phù
Khê, lấy nguồn sơn thô của Phú Thọ, Yên Bái và lấy nguồn dầu trẩu, dầu
trám của Lạng Sơn, Cao Bằng
Hà Nội ngày nay vẫn là đầu mối tập trung nguyên liệu và các bậc chế tác
nghệ thuật sơn mài nổi tiếng. Đa phần họ có gốc thành viên của các làng
nghề truyền thống nhập cư Hà Nội và tạo nên 36 phố phường ngày trước.
Một số làng nghề sơn mài nổi tiếng:
LÀNG SƠN MÀI CÁT ĐẰNG
Trong số các làng sơn mài nổi tiếng trong nước, Cát Đằng được biết đến
bởi các sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao, mang những nét sáng tạo riêng,
thường được dùng trong trang trí nội, ngoại thất ở các lăng tẩm và cung
đình xưa.
Làng sơn mài Cát Đằng thuộc xã Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Theo sử sách ghi lại, nghề sơn mài làng Cát Đằng ra đời từ khoảng thế kỷ
XI, do hai ông Ngô Dũng và Đinh Ba (làm quan trong thời nhà Đinh) đến ở
và truyền dạy cho trai tráng trong làng. Để nhớ ơn hai nhân vật này, hàng
năm, dân làng tổ chức ngày giỗ tổ nghề vào rằm tháng giêng trong không
khí trang trọng và cũng không kém phần sôi nổi.
Bên cạnh cách làm truyền thống, tức sử dụng loại gỗ tốt để làm nên những
sản phẩm sơn mài chất lượng và hiệu quả về mặt mỹ thuật, người thợ nơi
đây còn từng bước sáng tạo ra cách làm sơn mài trên nứa và nâng lên thành
bí quyết kỹ thuật, không phải nơi nào cũng có được. Nứa là loại cây dễ tìm,
nhẹ, giá nguyên liệu rẻ, lại đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật vì vậy, nó ngày
càng được sử dụng phổ biến.
9
Bên cạnh vấn đề chất lượng của nguyên liệu chế biến, yếu tố quyết định
vẫn thuộc về kỹ thuật, tay nghề và những bí quyết của người thợ. Để làm ra
một tác phẩm sơn mài bóng đẹp, người thợ phải chọn lọc những cây nứa
bánh tẻ, nghĩa là không quá non cũng không quá già. Khi đem về phải
ngâm nước, ít nhất 6 tháng để sản phẩm không bị mối mọt khi sử dụng. Sau
đó, đến khâu pha nan, vót và đánh bóng nan. Người ta để nghiêng nan uốn
chặt theo khuôn, rồi bôi lên một lớp keo sao cho không còn kẽ hở giữa các
vòng nứa rồi mới đem mài cho đến khi sản phẩm nhẵn bóng và đạt độ
mỏng cần thiết. Đến đây coi như khâu sơ chế đã hoàn thành.
Những sản phẩm ấy tiếp tục được chuyển đến tay các nghệ nhân trang trí
thêm các loại, kiểu hoa văn trên sản phẩm. Theo các nghệ nhân trong làng,
khâu pha chế và phun sơn là khó nhất vì đây chính là bí quyết của nghề,
không truyền cho bất kỳ ai ở ngoài làng. Nhiều người ở nơi khác đến Cát
Đằng học nghề, nhưng vẫn không thể biết hết bí quyết pha trộn sơn, nhất là
khi sơn gặp trời mưa thì phải xử lý thế nào để sơn không bị phai màu. Nếu
không có những bí quyết ấy, người thợ sẽ phải sơn lại từ đầu, nhưng đối
với nghệ nhân làng Cát Đằng, họ vẫn có thể giữ nguyên được màu sơn ở
bất kỳ điều kiện nào của thời tiết.
Với lịch sử hình thành lâu đời của làng nghề, sự sáng tạo không ngừng của
các thế hệ nghệ nhân nơi đây vì vậy, dù trải qua bao thăng trầm của thời
gian, làng Cát Đằng vẫn luôn đi lên và khẳng định vị thế của mình trong
làng sơn mài cả nước, vừa góp phần bảo tồn và phát huy truyền thống văn
hóa làng nghề vừa giới thiệu đến đông đảo du khách quốc tế những sản
phẩm sơn mài có giá trị mỹ thuật và chất lượng cao được tạo tác nên từ
những bàn tay vàng đất Việt.
LÀNG NGHỀ SƠN MÀI HẠ THÁI
Làng nghề sơn son thếp vàng và sơn mài Hạ Thái thuộc xã Duyên Thái,
huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây có 200 năm lịch sử. Bên cạnh việc kế thừa
10
kinh nghiệm truyền thống ông cha để lại, sự cần cù, chịu khó học hỏi, sáng
tạo của người thợ hôm nay đã đem lại cho làng nghề bước phát triển mới.
Người thợ sơn Hạ Thái đã bao đời nay pha sơn theo kinh nghiệm cổ truyền.
Tuy nhiên, trong sản xuất đồ sơn mài hiện nay, họ đã áp dụng kỹ thuật hiện
đại để pha chế, thay đổi một vài công đoạn phủ sơn nhằm giảm bớt thao tác
thừa, tạo ra loại sơn mới có độ bóng, bền, đẹp. Nghệ nhân Đinh Văn Lịch,
năm nay đã ngoài 90 tuổi giới thiệu cho chúng tôi các công đoạn cơ bản
của nghề sơn. Cụ cho biết: “Làng Hạ Thái sử dụng sơn ta trong sản xuất
các sản phẩm sơn son thếp vàng. Việc pha chế sơn ta có vai trò đặc biệt
quan trọng, quyết định đến sự thành bại của sản phẩm. Vì vậy, công đoạn
pha chế sơn ta trước đây cũng như bây giờ vẫn đòi hỏi ở người thợ sơn phải
có kinh nghiệm từ khâu nấu sơn, cô sơn đặc, cho đến khâu thử sơn chín.
Nói chung, khâu nào cũng đòi hỏi người thợ phải kiên nhẫn, tỷ mỷ” .
Hiện tại, người thợ sơn Hạ Thái bên cạnh việc sản xuất các sản phẩm sơn
son thếp vàng truyền thống như tượng Phật, đồ thờ cúng họ đã biết tạo ra
hàng nghìn mẫu sản phẩm hấp dẫn, đáp ứng thị hiếu, nhu cầu của khách
hàng trong và ngoài nước như bát, đĩa, lọ hoa, khay, tranh sơn, tranh
khảm Riêng đồ sơn mài, Hạ Thái nhiều năm nay trở thành địa chỉ có uy
tín xuất khẩu đến nhiều quốc gia trên thế giới như Anh, Pháp, Nga, Mỹ,
Nhật, Hàn Quốc Sơn mài Hạ Thái khẳng định thương hiệu nhờ chất
lượng, mỗi sản phẩm sơn mài đều bóng, mịn, có độ bền cao, là dấu ấn tài
hoa của người thợ.
Gần 80% người dân làng nghề Hạ Thái làm nghề sản xuất đồ sơn son thếp
vàng và sơn mài, mỗi năm sản xuất hàng triệu sản phẩm theo nhu cầu của
khách hàng. Sự ổn định của làng nghề cùng với việc bảo tồn những giá trị
văn hoá vật chất và tinh thần của sản phẩm đã góp phần để Hạ Thái trở
thành một trong hai làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống trong cả
11
nước được Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) chọn làm điểm chiến
lược phát triển làng nghề bền vững đến năm 2010.
Trong hàng trăm, ngàn di vật do cha ông ta sáng tạo ra từ bao đời nay, còn
được lưu giữ, dưới góc độ thẩm mỹ, sơn mài có một nét độc đáo nhất định.
Bởi vì sơn không phải là chất liệu để tạo nên đồ vật như gỗ, tre, nứa, đất,
đá, đồng v.v mà sơn là chất liệu góp phần làm tăng giá trị thẩm mỹ của
đồ vật. Nó dường như được sản sinh ra bởi nhu cầu của thẩm mỹ !
Nghề sơn mài ở đất Bình Dương xưa ra đời trong điều kiện lịch sử có
nhiều lớp nghệ nhân từ miền Bắc, miền Trung vào miền Đông Nam Bộ để
khai hoang lập ấp. Họ đã tận dụng nguồn gỗ vô cùng phong phú của vùng
đất mới kết hợp với kỹ thuật truyền thống của cha ông để tạo ra nhiều sản
phẩm gia dụng, nhiều tác phẩm mỹ thuật trang trí phục vụ cho nhu cầu sinh
hoạt, nhu cầu thẩm mĩ của cộng đồng. Có thể nói Bình Dương - Thủ Dầu
Một là vùng đất lâu đời với nhiều điều kiện ưu đãi của thiên nhiên để phát
triển các nghề truyền thống, và đặc biệt vùng đất duy nhất này ở phía Nam
(và cả nước) chứa đựng đầy đủ 3 loại hình của sơn mài truyền thống đó là:
sơn mài trang trí, sơn mài ứng dụng và tranh sơn mài trong một không gian
thống nhất nhưng lại rất riêng biệt về ngôn ngữ tạo hình và nghệ thuật thể
hiện thông qua các đặc điểm nghệ thuật và kỹ thuật mà các nghệ nhân, họa
sĩ đã khéo kết hợp giữa truyền thống và cách tân, giữa các vùng và địa
phương để tạo nên một địa danh nghệ thuật, một thương hiệu nổi tiếng: Sơn
mài Bình Dương.
Không phải ngẫu nhiên, sản phẩm sơn mài của Bình Dương lại nổi tiếng,
được khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng. Để sản xuất ra một sản
phẩm hoàn chỉnh, từ gỗ nguyên liệu đến khâu cuối cùng phải qua quá trình
với 25 công đoạn. Công việc của mỗi công đoạn đòi hỏi phải có kỹ thuật
12
riêng, vừa tỉ mỉ lại vừa công phu. Có công đoạn làm đi làm lại tới 6 lần mới
đạt yêu cầu như công đoạn hom, sơn lót
Quá trình thực hiện một sản phẩm sơn mài ứng dụng của Bình Dương rất
phức tạp, công phu, trong đó, để bảo đảm độ phẳng, bóng láng nghệ thuật,
người thợ phải gia công rất kỹ lưỡng các công đoạn, trung bình mỗi sản
phẩm phải mất từ 3 tới 6 tháng mới đảm bảo yêu cầu chất lượng. Và trong
quá trình thực hiện hệ thống quy trình đó, trải qua nhiều thời kỳ, những bí
quyết nghề nghiệp được truyền thụ cho nhau trong từng gia đình, dòng họ,
địa phương, chính nhờ vậy sản phẩm sơn mài mới đạt được giá trị nghệ
thuật cao và độc đáo so với các sản phẩm sơn mài ứng dụng ở những nơi
khác. Kỹ thuật sơn mài ứng dụng của Bình Dương vẫn giữ được nét đẹp
truyền thống, đậm đà tính cách á Đông.
Để một sản phẩm có giá trị và đảm bảo được độ bền, quy trình thực hiện
cốt vóc là yếu tố khá quan trọng. Các họa sĩ, nghệ nhân ở Bình Dương đã
tuân thủ nghiêm ngặt các bước thực hiện cốt vóc như sau:
l. Mài nhám gỗ, lót sơn sống hom sớ gỗ, làm phẳng mặt gỗ trước khi bọc
vải.
2. Bọc vải lót sơn mặt gỗ: Dùng vải tám bọc sát và sơn lót lên mặt vải một
lớp sơn nữa. Bọc vải nhằm giúp cho sản phẩm không bị co rút, méo mó
hoặc bị nứt.
3. Hom chu: hom chu 3 lần để tăng tính bền chắc cho sản phẩm. Lần hom
thứ ba, mài bằng đá, mực nang hoặc giấy nhám cho phẳng.
4. Lót và mài lót: Tiếp tục lót 3 lớp sơn sống, ủ khô, để tăng độ bền chắc
của sản phẩm, cuối cùng mài lớp sơn tùy theo màu nền của đề tài.
Đến nay, qua khảo sát thực tế, kỹ thuật sơn mài Bình Dương bao gồm 7
hình thức thể hiện sau đây:
l . Vẽ màu vàng bạc:
13
a. Dát vàng làm nền: Sau khi sản phẩm được chuẩn bị xong phần cốt vóc,
mài quang phẳng mịn xong đến giai đoạn tra sơn phủ hoặc sơn cẩm sách
lên họa tiết thật mỏng, đem ủ cho ráo mặt sau đó dùng vàng hay bạc dán
lên sản phẩm, là đến giai đoạn vẽ hoạ tiết lên. (Minh họa H. 1 và H. 2)
b. Dát vàng trên họa tiết: Sản phẩm đã được chuẩn bị phần cốt vóc, mài
quang phẳng mịn, đánh bóng xong thì đến giai đoạn tra sơn phủ hoặc sơn
cẩm sách (còn gọi là cẩm sắc) lên họa tiết thật mỏng, đem ủ cho ráo mặt
sau đó dùng vàng hay bạc dát lên họa tiết, ủ khô vẽ chi tiết lên hoạ tiết .
2. Vẽ phủ (còn gọi là Vẽ phủ mỏng):
Dùng lớp sơn trong phủ lên để hình ảnh và màu sắc chìm dưới lớp sơn này.
Tạo cho tranh cảm giác ẩn hiện, thường được áp dụng trong những đề tài
như cá vàng, chim trĩ, hoa điểu. (Minh họa H. 3)
3. Vẽ lặn :
a. Vẽ lặn mỏng: Sau khi lót, mài lót là in mẫu và vẽ hoạ tiết lên thật mỏng
và đều, sau đó phủ lớp sơn cánh dán hoặc đánh lên một lớp verni.
b. Vẽ lặn phức tạp: là hình thức gồm nhiều chất liệu như vỏ trứng, ốc, vàng
lá, bạc lá, cách thực hiện gồm nhiều giai đoạn: in mẫu, cẩn trứng, cẩn ốc,
vẽ màu, theo các bước sau:
- Đặt mẫu vẽ lên sản phẩm.
- Đặt giấy can có rắc bột phấn vào giữa.
- Dùng bút chì cứng hoặc vật nhọn để đồ theo mẫu vẽ, vẽ nét phấn lại bằng
cọ, chạm sơn đen, xong đem ủ khô. Phần nào cẩn trứng, cẩn ốc thì dùng
dao cắt khoét xuống cẩn ốc, để khi vẽ lên tranh được bằng phẳng. ủ khô
dùng sơn hoặc màu lót lên phần ốc và trứng rồi mài cho bằng phẳng, kế đến
vẽ màu, tạo chất liệu vàng bạc cho bức tranh và làm phông. Sau khi hoàn
chỉnh đem ủ khô, phủ mài đánh bóng. Cách thể hiện này có khác với cách
thể hiện nhiều lớp màu theo từng mảng của truyền thống nhưng vẫn đạt
hiệu quả trong suốt của chất liệu do vẽ bằng sơn ta và đáp ứng được thời
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét