Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của nghành dệt may

doanh nghiệp làm cho giá giảm đi. Bởi lẽ, trong cạnh tranh không chỉ có một
doanh nghiệp sản xuất hàng hoá mà còn có rất nhiều hãng cùng tham gia sản
xuất và ai có thể đảm bảo rằng hàng hoá mình sản xuất ra sẽ bán hết và thu đợc
nhiều lợi nhuận? Và chắc gì sản phẩm của mình đã tốt hơn đối thủ cạnh tranh
kia? Và nh vậy rất có thể khách hàng sẽ mua hàng của đối thủ cạnh tranh chứ
không phải của mình. Để tránh tình trạng đó, thu hút khách hàng mua hàng hoá
của mình thì doanh nghiệp phải sản xuất hàng hoá sao cho sản phẩm có sức thu
hút cao. Điều đầu tiên mà khách hàng hớng tới đó là giá cả hàng hoá, dĩ nhiên
hai hàng hoá nh nhau về công dụng và mẫu mã, đợc bán với phơng thức phục vụ
nh nhau thì khách hàng sẽ mua hàng hoá nào có thành sản phẩm rẻ hơn. Và nh
vậy thì doanh nghiệp phải tính sao cho giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
mình rẻ hơn đối thủ cạnh tranh. Việc các đối thủ cạnh tranh cùng đua nhau thu
hút khách hàng mua hàng hoá của doanh nghiệp mình làm cho giá cả thị trờng
giảm xuống (doanh nghiệp bât chấp cả việc giảm lợi nhuận thu đợc tính trên
từng sản phẩm).
*Cạnh tranh làm cho các doanh nghiệp phải không ngừng áp dụng khoa
học kỹ thuật. Không ai có thể phủ nhận vai trò của sự phát triển và ứng dụng
khoa học công nghệ. Nhờ sự phát triển đó mà ngày nay ngời ta mới có thể có đ-
ợc mức hởng thụ nh ngày nay, đạt đợc sự thoả mãn cao mà chi phí thấp.
Các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá không ngừng ứng dụng các tiến bộ khoa
học nhằm có đợc những hàng hoá có chất lợng cao, mẫu mã đẹp, cũng bởi sản
xuất hàng hoá có sự giúp đỡ của khoa học công nghệ nên năng suất lao động
cao. Tất cả các điều này làm cho chi phí để sản xuất ra một sản phẩm thấp từ đó
làm cho giá thành sản phẩm thấp, nâng cao đợc năng lực cạnh tranh của sản
phẩm, giá thành sản phẩm bán ra trên thị trờng sẽ thấp hơn giá cả thị trờng.
*Cạnh tranh là công cụ tớc quyền thống trị về mặt kinh tế trong lịch sử.
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ làm cho các doanh nghiệp phải cùng nhau
nâng cao chất lợng hàng hoá và hạ giá thành sản phẩm. Doanh nghiệp nào có đ-
ợc sản phẩm mới, dịch vụ mới mà tung ra thị trờng đầu tiên thì doanh nghiệp đó
có quyền hởng lợi nhuận lớn nhất trong kinh doanh, sẽ thống trị về mặt kinh tế.
Chính vì vậy bất cứ khi nào cũng có thể có lúc sản phẩm hàng hoá mình bán ra
không phải là sản phẩm mới hoặc có nhiều u điểm tiến bộ. Vì vậy bất cứ khi
nào một doanh nghiệp cũng có thể mất đi sự thống trị về mặt kinh tế.
5
3. Bản chất của cạnh tranh
Cạnh tranh là hiện tợng phổ biến trong nền kinh tế thị trờng để đạt đợc
mục tiêu lợi nhuận. Sẽ không thể có doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh nếu
chúng sống trong một môi trờng không có cạnh tranh. Nói cách khác, một
doanh nghiệp rất khó trở thành doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh nếu đợc
dung dỡng trong môi trờng thiếu tính cạnh tranh.
Trên thực tế, không thể có một thị trờng nào ở trạng thái cạnh tranh hoàn
hảo hoặc hoàn toàn độc quyền. Theo quy luật chung cạnh tranh luôn có xu h-
ớng dẫn đến độc quyền. Bản chất của cạnh tranh tự bản thân nó luôn có xu hớng
dẫn đến độc quyền. Về nguyên tắc ngời ta coi một nền kinh tế cản trở sự cạnh
tranh là một nền kinh tế thiếu tính cạnh tranh và ngợc lại.
4. ý nghĩa của cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trờng ý nghĩa của cạnh tranh là không thể phủ nhận
bởi vì:
*Thứ nhất, cạnh tranh tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế.
Trong xu thế ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia sản xuất và dĩ
nhiên nh vậy là có xu hớng ngày càng có thêm đối thủ cạnh tranh. Để tối đa hoá
lợi nhuận thì doanh nghiệp phải bán hết hàng hoá do mình sản xuất ra với giá
cao nhất có thể bán đợc. Tuy nhiên khách hàng thì luôn luôn tìm mua những
hàng hoá có giá thành sản phẩm. Các doanh nghiệp có cùng sản phẩm sản xuất
hoặc sản phẩm có công dụng tơng tự cạnh tranh với nhau, cùng nhau tranh
giành khách hàng, tìm mọi biện pháp để sao cho khách hàng mua hàng hoá của
mình chứ không phải của đối thủ cạnh tranh. Trong xu thế đó, các doanh nghiệp
cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hoá của mình bằng cách giảm
giá thành, nâng cao chất lợng hàng hoá cũng nh dịch vụ bán hàng. Doanh
nghiệp nào mà chi phí trên một đơn vị hàng hoá càng thấp sẽ có lợi nhuận càng
nhiều, đây là yếu tố tạo cho các doanh nghiệp một triết lý rằng lợi nhuận mà
doanh nghiệp đã đạt đợc cha phải đã là lợi nhuận cao nhất mà doanh nghiệp có
thể đạt đợc. Chính vì lý do các doanh nghiệp tranh đua nhau nh vậy đã tạo nên
một động lực thúc đẩy sản xuất hơn, tiếp tục giảm chi phí một cách nhiều nhất
các yếu tố đầu vào, cùng việc không ngừng đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ
thuật để lợi nhuận thu đợc ngày một tăng cao.
6
*Thứ hai, cạnh tranh là cách hữu hiệu nhất để tối đa hoá lợi nhuận và lợi
ích của cả ngời cung cấp lẫn ngời tiêu dùng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ.
Nh đã nói ở trên, thông qua cạnh tranh ngời ta mới đua nhau sản xuất,
kiếm lợi nhuận, qua cạnh tranh doanh nghiệp luôn nhận thấy lợi ích sẽ thu đợc
trong tơng lai hoàn toàn phụ thuộc vào chính doanh nghiệp, chứ không phải
trông chờ vào một thế lực nào tạo hoá ra đợc. Vì vậy có thể nói thông qua cạnh
tranh doanh nghiệp mới tối đa hoá lợi ích của mình một cách thực sự, hoàn toàn
là sự thuận mua vừa bán giá cả hàng hoá giữa khách hàng và doanh nghiệp, chứ
không phải nh trong độc quyền chỉ dựa vào việc quyền mà ép giá đầu ra hoặc
đầu vào.
Còn đối với ngời tiêu dùng, do đợc tự do lựa chọn hàng hoá mình định
mua, số doanh nghiệp sẵn sàng đáp ứng loại hàng hoá mình mua thì rất nhiều
nên hàng hoá mua đợc hoàn toàn tự làm hài lòng, mang lại lợi ích cho ngời tiêu
dùng là tối đa.
II. Những nội dung, công cụ của cạnh tranh và các chỉ tiêu
đánh giá khả năng cạnh tranh
Để cạnh tranh với đối thủ trên thị trờng, các doanh nghiệp đang sử dụng
các công cụ phổ biến trong quá trình cạnh tranh sôi động hiện nay là:
*Thứ nhất, chất lợng của hàng hoá.
Trên thơng trờng nếu nhiều hàng hoá có công dụng nh nhau, giá cả bằng
nhau thì ngời tiêu dùng sẵn sàng mua hàng hoá nào có chất lợng cao hơn. Do
đó, đây là công cụ đầu tiên và quan trọng mà các doanh nghiệp sử dụng để
thắng các đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, chất lợng hàng hoá phụ thuộc vào điều
kiện kỹ thuật của từng đơn vị sản xuất, từng ngành, từng vùng và từng quốc gia.
*Thứ hai, giá cả hàng hoá.
Hai hàng hoá có cùng công dụng, chất lợng nh nhau thì ngời tiêu dùng sẽ
mua hàng hoá nào có giá rẻ hơn. Giá cả hàng hoá đợc quyết định bởi giá trị
hàng hoá. Song sự vận động của giá cả còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán
của ngời tiêu dùng. Mức sống còn thấp, ngời tiêu dùng tìm mua những hàng hoá
có giá rẻ. Thực tế cho thấy, phần lớn hàng hoá tiêu dùng của Trung Quốc đợc
tiêu thụ mạnh tại Việt Nam. Các nhà sản xuất đã thực hiện một chiến lợc kinh
7
doanh là làm ra hàng hoá có khả năng thanh toán thấp về phía mình. Trong kinh
doanh để cạnh tranh về giá, một số doanh nghiệp chấp nhận lời ít, bán với giá
thấp nhng dùng số nhiều để thu lại. Ngợc lại, khi mức sống cao hơn ngời tiêu
dùng sẽ quan tâm đến hàng hoá có chất lợng tốt, chấp nhận mức giá cao.
*Thứ ba, áp dụng khoa học kỹ thuật và quản lý hiện đại.
Sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp sẽ tăng lên khi giá cả hàng
hoá cá biệt của họ thấp hơn giá cả trung bình trên thị trờng. Để có lợi nhuận đòi
hỏi các doanh nghiệp phải tập trung các nguồn lực để tăng năng suất lao động,
hạ thấp chi phí đầu vào, nâng cao chất lợng hàng hoá nhằm làm cho giá trị hàng
hoá cá biệt của mình thấp hơn giá trị xã hội. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải
thờng xuyên cải tiến công cụ lao động, hợp lý hoá sản xuất, nhanh chóng ứng
dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và quản lý hiện đại vào trong quá trình
sản xuất kinh doanh. Thực tiễn đã chứng minh các doanh nghiệp tồn tại và phát
triển đợc cần có dâu chuyền công nghệ mới, hiện đại có phơng pháp tổ chức
quản lý khoa học.
*Thứ t là thông tin.
Thông tin là một công cụ cạnh tranh lợi hại của doanh nghiệp. Thông tin
về thị trờng mua bán, thông tin về tâm lý thị hiếu khách hàng, về giá cả, về đối
thủ cạnh tranh có ý nghĩa quyết định kinh doanh của doanh nghiệp. Đủ thông
tin và xử lý đúng thông tin, một mặtn giúp các doanh nghiệp hạn chế rủi ro
trong kinh doanh; mặt khác qua thông tin có thể tìm ra và tạo ra lợi thế so
sánh của doanh nghiệp trên thơng trờng, chuẩn bị và đa ra đúng thời điểm
những sản phẩm mới thay thế để tăng cờng sức cạnh tranh của hàng hoá. Thông
tin đủ đúng hoặc bng bít thông tin có thể thúc đẩy thị trờng một cách tích cực
hoặc tạo ra những nhu cầu giả tạo, hành vi cạnh tranh sai trái làm biến dạng thị
trờng. Vì thế, không ngạc nhiên khi tình trạng quảng cáo sản phẩm hiện nay
ngày càng nhiều trên các phơng tiện thông tin đại chúng, chi phí cho hoạt động
quảng cáo, giới thiệu, trng bày sản phẩm chiếm tỷ trọng nhất định trong chi phí
chung của các doanh nghiệp.
*Thứ năm, phơng thức phục vụ và thanh toán trong sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Phơng thức phục vụ và thanh toán là công cụ cạnh tranh khá quan trọng.
Ai nắm đợc công cụ này sẽ thắng trong cạnh tranh. Bởi vì, công cụ này tạo đợc
8
sự tiện lợi cho khách hàng. Phơng thức phục vụ và thanh toán trớc hết đợc thể
hiện ở ba giai đoạn của quá trình bán hàng: trớc khi bán, trong khi bán và sau
khi bán hàng.
Trớc khi bán hàng, các doanh nghiệp thực hiện các động tác nh quảng
cáo, giới thiệu, hớng dẫn thị hiếu khách hàng, các hoạt động triển lãm, trng bày
hàng hoá. Những động tác này hấp dẫn, lôi cuốn khách hàng đến với sản phẩm
cuảe doanh nghiệp mình.
Trong quá trình bán hàng, khâu quan trọng nhất là nghệ thuật chào mời
khách hàng. Điều này đòi hỏi ngời bán hàng phải thật sự tôn trọng khách hàng,
lịch sự, ân cần và chu đáo.
Sau khi bán hàng, phải có các dịch vụ nh bao bì và giao hàng hóa đến tận
tay ngời ngời mua, các dịch vụ bảo hành, sửa chữa hàng hoá Những dịch vụ
này tạo sự tin tởng, uy tín của doanh nghiệp đối với ngời tiêu dùng. Sau nữa, ph-
ơng thức phục vụ trên sẽ phát huy tác dụng khi đợc đảm bảo các yêu cầu sau:
các dịch vụ phải nhanh, chính xác Phơng thức thanh toán phải linh hoạt, đa
dạng bao gồm các loại nh: thanh toán một lần, thanh toán chậm (bán chịu), bán
trả góp, bán có thởng, thanh toán linh hoạt khi trả bằng ngoại tệ
*Thứ sáu, tính độc đáo của sản phẩm .
Mọi sản phẩm khi xuất hiện trên thị trờng đều mang một chu kỳ sống
nhất định, đặc biệt vòng đời của nó sẽ rút ngắn khi xuất hiện sự cạnh tranh.
Để kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm , các doanh nghiệp dùng nhiều biện pháp
trong đó có biện pháp là thờng xuyên cải tiến mọi mặt sản phẩm , tạo ra nét độc
đáo riêng, liên tiếp tung ra thị trờng những sản phẩm thay thế sản phẩm cũ.
Trong điều kiện doanh nghiệp cha đủ sức tạo ra tính độc đáo của sản phẩm
mới, thì có thể sử dụng nhãn hiệu của một sản phẩm đang đợc uy tín trên thi tr-
ờng thông qua hình thức liên doanh. Sự thay đổi thờng xuyên về mẫu mã, nhãn
hiệu sản phẩm cũng nh không ngừng nâng cao chất lợng, tính năng hàng hoá sẽ
tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp hiện nay.
*Thứ bảy, chữ tín.
Chữ tín là công cụ cạnh tranh của các doanh nghiệp. Trong quá trình kinh
doanh các doanh nghiệp sử dụng nhiều biện pháp nhằm giành giật khách hàng
về phía mình, đặc biệt thực hiện linh hoạt trong khâu hợp đồng, thanh toán nh:
9
quy ớc về giá cả, số lợng, kích cỡ, mẫu mã bằng văn bản hoặc bằng miệng, hay
việc thanh toán với các hình thức nh bán trả góp, bán chịu, bán gối đầu Những
hành vi này sẽ thực hiện đợc tốt hơn khi giữa doanh nghiệp và khách hàng có
lòng tin với nhau. Do vậy, chữ tín trở thành công cụ sắc bén trong cạnh tranh,
giúp cho quá trình buôn bán diễn ra nhanh chóng và tiện lợi. Mặt khác, công cụ
này còn tạo cơ hộicho nhiều ngời ít vốn có điều kiện tham gia kinh doanh, do
đó mở rộng thị phần hàng hoá , tạo sức mạnh cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Ưu điểm đó giải thích tại sao trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhà nớc
với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thờng linh hoạt hơn, có nhiều bạn hàng
hơn so với doanh nghiệp nhà nớc. Tuy nhiên, sử dụng công cụ này đòi hỏi các
chủ thể cạnh tranh phải có bản lĩnh. Bởi vì, có nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh
nh tình trạng chụp giật, đối tác làm ăn có ý đồ đen tối.
*Thứ tám, sự mạo hiểm, rủi ro.
Trong kinh doanh, lợi nhuận của doanh nghiệp thờng tỷ lệ thuận với sự
mạo hiểm, rủi ro trong kinh doanh. Các chủ thể kinh doanh có khuynh hớng đầu
t kinh doanh (kể cả đầu t nghiên cứu khoa học ) vào những mặt hàng mới,
những lĩnh vực mới mà rủi ro ở đó thờng cao. Đây cũng là khuynh hớng khách
quan, vì nó có hy vọng thu đợc lợi nhuận cao trong tơng lai. Mặt khác, nó giảm
đợc áp lực từ phía các đối thủ cạnh tranh hiện tại. Sự mạo hiểm chấp nhận rủi ro
nhằm thu đợc lợi nhuận lớn bằng cách đi đầu trong kinh doanh là công cụ cạnh
tranh cực kỳ hiệu quả nhng cũng cực kỳ nguy hiểm trong quá trình cạnh tranh.
Việc sử dụng hiệu quả công cụ này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có tài năng
và bản lĩnh.
III. Những nhân tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của
các ngành
Các nhân tố ảnh hởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể
đợc phân theo nhiều cách. Theo Hội nghị liên hợp Quốc tế về thơng mại và phát
triển (UNCAD) thì các yếu tố đó có thể là công nghệ, nguồn nhân lực, vốn,
chính sách thơng mại, các đối thủ cạnh tranh mới. Còn đối với Diễn đàn kinh tế
thế giới (WEF) lại đa ra các yếu tố tác động đến khả năng cạnh tranh là sự mở
cửa của nền kinh tế, vai trò của nhà nớc, khả năng tài chính, cơ sở hạ tầng, công
nghệ, quản lý, lao động, thể chế.
10
Micheal Porter lại đề xuất cách khác để nói về các yếu tố ảnh hởng đến
khả năng cạnh tranh của các ngành. Đó là: Các điều kiện về yếu tố đầu vào
(nhân tố sản xuất ), các điều kiện về cầu, các ngành liên quan và các ngành hỗ
trợ, chiến lợc, cấu trúc thị trờng và mức độ cạnh tranh. Ngoài các yếu tố nói
trên, thời cơ và đặc biệt vai trò củ1 nhà nớc đợc xem nh những điều kiện tổng
hợp thúc đẩy hoặc hạn chế khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
1- Những nhân tố sản xuất
Yếu tố sản xuất là các yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất
nh lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn, cơ sở hạ tầng.
Các yếu tố sản xuất là đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra lợi thế cạnh
tranh. Hệ thống các yếu tố sản xuất bao gồm các yếu tố sản xuất cơ bản nh khí
hậu, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và các yếu tố yếu tố sản xuất mới gồm
cơ sở hạ tầng, thông tin, trình lao động, khả năng nghiên cứu phát triển, bí
quyết công nghệ.
Bất cứ hãng sản xuất nào cũng đợc đặt trong một môi trờng nhất định với
các yếu tố cơ bản nhất định. Việc xác định để đặt hãng sản xuất của mình trong
các yếu tố đó sao cho phù hợp rất có ý nghĩa, đặc biệt những ngành phụ thuộc
nhiều vào điều kiện tự nhiên, chi phí vận chuyển cao nh ngành sản xuất cà
phê
Điều kiện khí hậu có thể ảnh hởng tới quá trình sinh học của nhiều loại
sản phẩm đặc biệt sản xuất chế biến các loại sản phẩm từ nông nghiệp. Nếu
hãng đặt ở nơi có khí hậu phù hợp thì sẽ có năng suất cao hơn nhiều so với nơi
không phù hợp khí hậu. Bởi khí hậu phù hợp sẽ đỡ bị hỏng đi rất nhiều.
Còn điều kiện tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý nếu hãng đặt tại nơi
sẵn có tài nguyên, lại gần nơi có nhu cầu tiêu thụ sẽ giúp hãng giảm chi phí vận
chuyển đi rất nhiều, trong khi ngời ta ớc tính chi phí vận chuyển trong giá thành
sản phẩm chiếm từ 30% đến 80%.
Điều kiện khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý nếu đợc thuận lợi
sẽ giúp cho hãng sản xuất giảm chi phí đi rất nhiều, từ đó nâng cao khả năng
cạnh tranh hàng hoá của hãng nhờ có giá thành sản phẩm đi rất nhiều. Song
việc lựa chọn địa điểm không đơn giản, rất ít khi mà có đợc một cách trọn vẹn.
11
Yếu tố sản xuất cơ bản quyết định rất lớn đến khả năng cạnh tranh của
hãng song yếu tố sản xuất mới còn quan trọng hơn trong việc tạo ra lợi thế cạnh
tranh để nâng cao năng lực cạnh tranh. Không giống nh yếu tố sản xuất cơ bản,
các yếu tố sản xuất mới là kết quả của sự đầu t của chính phủ, các công ty và
các cá nhân.
Những yếu tố sản xuất cơ bản mọi công ty đều có thể sở hữu và do đó
không xây dựng lợi thế cạnh tranh lâu dài đợc. Tuy nhiên những yếu tố sản xuất
mới cần phải đợc đầu t và duy trì mạnh mẽ. Chúng khó có thể sao chép đợc,
chính điều này tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Cơ sơ hạ tầng có phát triển tạo ra một điều kiện cực kỳ thuận lợi cho các
hãng, nhất là trong lĩnh vực vận chuyển giúp hãng có thể giảm đợc chi phí sản
xuất đi rất nhiều. Điều kiện nay giúp khắc phục phần nào của yếu tố sản xuất cơ
bản.
Nguồn lực khan hiếm thờng giúp các hãng sản xuất có năng lực cạnh
tranh hơn. Sự giàu mạnh về nguồn lực sẽ dẫn đến lãng phí và sự khan hiếm phát
sinh tinh thần sáng tạo. Buộc những ngành, quốc gia này phải đổi mới để vợt
qua trở ngại do khan hiếm nguồn lực.
Chính phủ với các khoản đầu t của mình vào các lĩnh vực cơ bản nh giáo
dục, nâng cao trình độ dân trí, khuyến khích hoạt động nghiên cứu và phát triển,
nâng cao chất lợng các cơ sở đào tạo sẽ có thể cải thiện đợc thực trạng không
thuận lợi của yếu tố sản xuất mới.
Việc có cơ sở hạ tầng phát triển giúp hãng giảm chi phí, nâng cao khả
năng cạnh tranh, có điều kiện thuận lợi để phục vụ đợc nhiều khách hàng trên
toàn đất nớc và cả quốc tế. Trớc hết, hãng phải tính sản phẩm làm ra bán cho
khách hàng có đạt yêu cầu của khách hay không, điều đó còn phụ thuộc vào
trình độ lao động. Đội ngũ lao động có tay nghề cao mới có thể tạo ra sản phẩm
đạt yêu cầu với năng suất cao, có nh thế sản phẩm của hãng mới bán đợc rộng
rãi với khối lợng lớn, khả năng cạnh tranh hàng hoá mới cao, từ đó mới thu đợc
lợi nhuận tối đa.
Để tăng hơn nữa khả năng cạnh tranh của mình thì hãng cần quan tâm tới
vấn đề áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ. Hãng cần thu hút chất xám về
cho mình, đầu t nghiên cứu và phát triển tạo ra những bí quyết công nghệ để có
12
đợc những sản phẩm u việt, hiện đại, mẫu mã đẹp với chất lợng cao đáp ứng tốt
nhu cầu của khách hàng.
Qua phân tích trên ta nhận thấy các yếu tố sản xuất cơ bản tạo ra những
lợi thế ban đầu và kết quả của nó là cung cấp khả năng đầu t để mở rộng và phát
triển các yếu tố sản xuất mới và ngợc lại sự hạn chế về các yếu tố sản xuất cơ
bản cũng có thể tạo ra áp lực để phát triển các yếu tố sản xuất mới. Đây là mối
quan hệ phức tạp giữa các yếu tố sản xuất cơ bản và các yếu tố sản xuất mới.
Việc cân nhắc thiên về yếu tố nào hơn là vấn đề không phải dễ dàng và tất yếu
phải có bởi không phải tất cả mọi cái đều tuyệt đối. Cả hai yếu tố đó đều ảnh h-
ởng quan trọng quyết định đến năng lực cạnh tranh của hãng. Hãng muốn nâng
cao năng lực cạnh tranh của mình thì trớc hết hãng cần phải tạo ra đợc lợi thế về
các yếu tố đó, những yếu tố trực tiếp tác động đến năng lực cạnh tranh của
hãng.
2. Điều kiện của cầu
Các hãng trong một ngành còn phải cạnh tranh với các ngành sản xuất
các sản phẩm thay thế. Các sản phẩm thay thế hạn chế mức lợi nhuận tiềm
năng của một ngành bằng cách đặt ngỡng tối đa cho mức giá mà các hãng trong
ngành có thể kinh doanh có lãi. Khả năng lựa chọn về giá cả của các sản phẩm
thay thế càng hấp dẫn thì ngỡng chặn trên đối với lợi nhuận của ngành càng
vững chắc hơn. Chính vì lý do đó, bất kỳ lúc nào khách hàng cũng có thể mua
sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trong ngành và cả những sản phẩm thay thế
nếu sản phẩm của công ty không đáp ứng yêu cầu của khách hàng hoặc cha
thoả mãn nhu cầu của họ.
Ngời mua tranh đua với ngành bằng cách bắt ép giá giảm xuống, mặc cả
để có chất lợng tốt hơn và đợc phục vụ nhiều hơn. Hơn nữa, họ còn làm cho các
đối thủ cạnh tranh chống lại nhau, tất cả đều làm tổn hao mức lợi nhuận ngành,
làm khả năng cạnh tranh bị ảnh hởng.
Thị trờng nội địa khó tính và tinh tế sẽ là một nhân tố quan trọng tạo nên
năng lực cạnh tranh của hãng. Những doanh nghiệp nào tồn tại trên những thị
trờng này sẽ có khả năng sản xuất và bán đợc những mặt hàng cao cấp và việc
tiếp xúc với những khách hàng khó tính giúp cho doanh nghiệp hiểu biết tốt hơn
nhu cầu và sở thích ngời tiêu dùng. Nếu giá trị riêng biệt của hàng nội địa đợc
13
các thị trờng ngoài nớc chấp nhận, các doanh nghiệp trong nớc sẽ có tính cạnh
tranh trên thị trờng toàn cầu.
Tuy nhiên, hãng sản xuất sản phẩm để bán cho khách hàng, phải coi
khách hàng là thợng đế, cần đáp ứng tốt nhu cầu của họ thì mới thu đợc nhiều
lợi nhuận. Nhu cầu đóng vai trò quan trọng để tạo ra động lực để nâng cao khả
năng cạnh tranh. Vì vậy, đặc tính của cầu là đặc biệt quan trọng trong việc hình
thành các đặc tính sản phẩm và tạo ra những áp lực để phát triển sản phẩm mới
hoặc cải tiến chất lợng sản phẩm mới. Mục đích của các hãng kinh doanh là thu
đợc lợi nhuận qua việc phục vụ, đáp ứng nhu cầu khách hàng, chính vì thế, họ
phải thoả mãn nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất nếu có thể. Nói nh vậy có
nghĩa là nếu nh nhu cầu ở trình độ cao thì sẽ tạo áp lực buộc các công ty phải
cải tiến lại mình, tiêu chuẩn hoá sản phẩm , tạo ra sản phẩm mới ngày càng đáp
ứng tốt hơn hoặc tốt nhất nhu cầu mong muốn của khách hàng. Thông thờng,
một ngành có thể thu đợc lợi thế cạnh tranh hay có đợc năng lực cạnh tranh cao
nếu cầu thị trờng ở trình độ cao và phức tạp.
Hầu hết các ngành bán hàng không chỉ cho một loại khách hàng mà là
cho nhiều loại khách hàng, thế nhng rất ít khi nhóm khách hàng lại đồng nhất.
Khách hàng tiêu dùng sản phẩm có thể khác nhau khá lớn về khối lợng mua, về
thu nhập, về trình độ giáo dục và về nhiều tiêu thức khác.
Khách hàng khác nhau có thể đòi hỏi khác nhau về mức độ dịch vụ, chất
lợng và độ bền sản phẩm, thông tin cần thiết trong việc chuẩn bị bán hàng Nói
chung là khác nhau về nhu cầu mua hàng. Những nhu cầu khác nhau là nguyên
nhân tại sao khách hàng có những lựa chọn mua của hãng sản xuất khác nhau.
Do sự tăng trởng khối lợng hàng mua của mỗi khách hàng một khác hay nói
cách khác đó là khách hàng sẽ mua tiếp với khối lợng sản phẩm lớn nữa hay
không?
Do nhiều nguyên nhân mà chi phí cho việc phục vụ những khách hàng
riêng biệt sẽ khác nhau, thờng những khách hàng mua với khối lợng ít thì đắt
hơn so với khách hàng có khối lợng mua nhiều do giảm đợc chi phí vận chuyển.
Chính tính hỗn hợp này việc lựa chọn những khách hàng mục tiêu rất
quan trọng, hãng nên bán cho khách hàng thuận lợi nhất có thể. Hãng có khả
năng tới đâu, có thể đáp ứng nhu cầu của nhóm khách hàng nào. Sự lựa chọn
khách hàng, xem xét về cầu, có tác động mạnh tới khả năng cạnh tranh, tới tỷ lệ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét