Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
• So sánh giữa số thự hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để
thấy được tình hình tài chính của doanh nghiệp đang ở tình trạng tốt
hay xấu, được hay chưa được so với các doanh nghiệp cùng ngành.
• So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng loại trong tổng
hợp ở mỗi bản báo cáo. So sánh theo chiều ngang để thấy được sự
biến đổi về cả số tương đối và số tuyệt đối của một khoản mục nào
đó qua niên độ kế toán liên tiếp.
4.2. Phương pháp phân tích tỷ lệ
Đây là phương pháp truyền thống, được sử dụng phổ biến trong phân tích
tài hính. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng
ngày càng được bổ xung và hoàn thiện. Bởi lẽ:
Thứ nhất, nguồn thông tin kế toán tài chính được cải tiến và được cung cấp
đầy đủ hơn. Đó là cơ sở hình thành các chỉ tiêu tham chiếu tin cập cho việc đánh
giá mọi tỷ lệ tài chính của doanh nghiệp.
Thứ hai, việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc
đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ.
Thứ ba, phương pháp này giúp cho nhà phân tích khai thác có hiệu quả các
số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian
liên tục hoặc theo từng giai đoạn.
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài
chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu
phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét đánh giá tình hình tài
chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với các tỷ lệ
tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành
các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động của
doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về nội dung thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
5
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
cấu vốn và nguồn vốn, nhóm các tỷ lệ về năng lực hoạt động, nhóm các tỷ lệ về
khả năng sinh lời.
4.3. Phương pháp tính toán chỉ số ngành
Do hạn chế của việc thu thập số liệu, nên việc tính toán chỉ số ngành dựa
vào tất cả các số liệu ngành là một công việc khó khăn. Chính vì vậy, đề tài xin
đưa ra 3 cách chọn mẫu phi xắc suất, từ đó tính ra chỉ số ngành theo nhóm các
ngân hàng được chọn lựa một cách ngẫu nhiên. Với phạm vi của đề tài, xin được
áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
Khi tính toán ra chỉ số ngành cuối cùng, để tránh sự sai khác nhau về tính
qui mô của ngân hàng, các chỉ số của ngân hàng sẽ được nhân với một trọng số
đó là tổng tài sản của ngân hàng được chọn mà trong đề tài được đề cập đến là
ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu và ngân hàng ngoại thương
Vietcombank.
4.3.1. Chọn mẫu chủ quan
Quy trình chọn mẫu chủ quan hay còn gọi là chọn mẫu có chủ đích dựa
trên giả thiết cho rằng cán bộ nghiên cứu có thể chọn các yếu tố đại diện cho
một “mẫu điển hình” từ đối tượng nghiên cứu mục tiêu phù hợp. Chất lượng
mẫu được chọn sử dụng phương pháp này phụ thuộc vào tính chính xác của
những lý giải mang tính chủ quan của mẫu điển hình.
Rất khó thu được kết quả có ý nghĩa từ mẫu chủ quan bởi vì không bao
giờ có hai chuyên gia hoàn toàn nhất trí với nhau về nội dung chính xác của mẫu
điển hình. Vì vậy, khi không có tiêu chí từ bên ngoài, không có cách nào để có
thể đánh giá kết quả nghiên cứu thu được từ mẫu chủ quan này chính xác hơn
kết quả nghiên cứu thu được từ mẫu kia.
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
6
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
4.3.2. Chọn mẫu tạo sự thuận tiện
Mẫu tạo sự thuận tiện là thuật ngữ được sử dụng để mô tả mẫu mà ở đó
các yếu tố được chọn từ đối tượng nghiên cứu mục tiêu trên cơ sở sự thuận tiện
mà chúng mang lại cho cán bộ nghiên cứu.
Mẫu tạo sự thuận tiện đôi khi được gọi là “mẫu ngẫu nhiên” bởi vì các
yếu tố được chọn mẫu chỉ đơn giản là vì chúng ở gần nơi cán bộ nghiên cứu tiến
hành thu thập số liệu (về mặt không gian và hành chính).
Giả thiết chính liên quan đến chọn mẫu tạo sự thuận tiện là các thành viên
thuộc đối tượng nghiên cứu mục tiêu là đồng nhất. Điều đó có nghĩa là sẽ không
có sự khác biệt nào trong kết quả nghiên cứu thu được từ mẫu ngẫu nhiên, mẫu
hợp tác hoặc mẫu được thu thập từ một bộ phận đối tượng không tiếp cận được.
Đối với chọn mẫu chủ quan, không có cách nào để cán bộ nghiên cứu có
thể kiểm tra độ chính xác của một mẫu thuận tiện so với mẫu kia. Thực ra,
những người chỉ trích phương pháp này cho rằng trong nhiều trường hợp nghiên
cứu, các yếu tố sẵn có và tiếp cận được của đối tượng nghiên cứu mục tiêu sẽ
khác đáng kể so với các yếu tố ít tiếp cận hơn. Vì vậy, họ kết luận rằng việc sử
dụng phương pháp chọn mẫu tạo sự thuận tiện có thể gây ra độ nghiêng đáng kể
trong ước tính mẫu về các thông số đối tượng nghiên cứu.
4.3.3. Chọn mẫu định mức
Chọn mẫu định mức là kiểu chọn mẫu phi xác suất thường được sử dụng.
Đôi khi kiểu chọn mẫu này thường được gọi với cái tên không chính xác là
“chọn mẫu đại diện” bởi vì số lượng các yếu tố thu được từ nhiều tầng đối tượng
nghiên cứu mục tiêu tỷ lệ với quy mô của các tầng này.
Mặc dù chọn mẫu định mức có sự hạn chế tương đối chặt chẽ về số lượng
các yếu tố mẫu cho mỗi tầng, thường là có rất ít hoặc không có sự kiểm soát về
quy trình sử dụng để chọn yếu tố trong các tầng này. Ví dụ, có thể áp dụng chọn
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
7
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
mẫu chủ quan hoặc mẫu tạo sự thuận tiện trong bất kỳ tầng nào hoặc tất cả các
tầng. Vì vậy, hình thức bề ngoài của tính chính xác liên quan đến tính đại diện
tương xứng của các tầng phải được xem xét trong bối cảnh là không có cách nào
để kiểm tra tính chính xác của các ước tính thu được từ bất cứ tầng nào hoặc từ
việc kết hợp các ước tính riêng lẻ của mỗi tầng.
Căn cứ theo phương pháp chọn mẫu được nêu trên, 2 ngân hàng được
chọn để đại diện cho mẫu và căn cứ vào tính chỉ số ngành đó là Vietcombank và
ACB.
5. Cấu trúc đề tài
• Phần mở đầu của đề tài sẽ nói rõ sự cần thiết của đề tài, mục đích
nghiên cứu, đề tài có ảnh hưởng đến những đối tượng nào, giới hạn –
phương pháp nghiên cứu.
• Trong chương I sẽ giới thiệu về cơ sở nền tảng về lý luận để xây
dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành. Người đọc sẽ được tiếp cận
với những kiến thức căn bản như: khái niệm ngành kinh tế được hiểu
là gì, các cách phân ngành của Việt Nam và thế giới, các chỉ tiêu tài
chính quan trọng…
• Chương thứ II sẽ bàn về thực trạng của hệ thống NHTM ở Việt Nam
hiện nay, các đặc điểm cơ bản của các ngân hàng thương mại, các
hoạt động cơ bản của các NHTM Việt Nam.
• Chương thứ III dựa vào những cơ sở lý thuyết đã trình bày ở chương
I & chương II sẽ áp dựng vào xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích
ngành Ngân Hàng.
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
8
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
Chương I: Cơ sở lý luận về xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành
1.1. Khái quát về ngành kinh tế
1.1.1. Khái niệm ngành kinh tế
Ngành kinh tế “Industry” có gốc từ tiếng Latin “Industrius” có nghĩa là bộ
phận của nền kinh tế chuyên tạo ra hàng hóa – dịch vụ.
Trong nền kinh tế phong kiến, cơ cấu nền kinh tế còn nghèo nàn, các hoạt
động kinh tế ở quy mô nhỏ. Ngành kinh tế chủ yếu khi đó là nông nghiệp và
thương mại. Các ngành kinh tế được đa dạng hóa và hình thành như hiện nay bắt
đầu từ những năm 1800 (hơn 2 thế kỷ trước), và kể từ đó liên tục phát triển cho
đến ngày nay với sự trợ giúp bởi tiến bộ công nghệ. Rất nhiều nước phát triển
(như Hoa Kỳ, Anh quốc, Canada) phụ thuộc sâu sắc vào khu vực sản xuất. Các
quốc gia, các nền kinh tế và các ngành công nghiệp của các quốc gia đó đan xen,
liên kết, tương tác nhau trong một mạng lưới phức tạp mà không dễ hiểu biết
tường tận nếu chỉ nghiên cứu sơ sài.
(Nguồn : Wikipedia)
Ngành kinh tế cũng có thể được miêu tả như một hoạt động chính hay mang
tính chung nhất. Nếu một công ty hoạt động đa ngành đa nghề, đa lĩnh vực,
ngành nghề chính luôn được hiểu là hoạt dộng mang lại doanh thu nhiều nhất.
Một cách tiếp cận dễ dàng nhất: “Ngành được định nghĩa là một nhóm các
hoạt động chính của công ty, luôn được quyết định bằng nguồn doanh thu lớn
nhất”
Nhiều năm trước đây, những xu hướng của thị trường đã khẳng định rằng
các công ty với cùng khu vực địa lý thì có sự hoạt động tương tự nhau. Vì
nguyên nhân trên, nhiều nhà đầu tư đã cảm thấy rằng rất hữu ích khi so sánh sự
biến động của các cổ phiếu của công ty theo cùng và theo từng quốc gia khác
nhau. Cho đến tận bây giờ, việc phân chia các công ty cũng như các cổ phiếu
theo vùng vẫn tỏ ra rất hữu ích nhưng sẽ tốt hơn nữa nếu phân các cổ phiếu của
công ty đó theo từng ngành nghề cụ thể.
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
9
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
1.1.2. Phân loại ngành kinh tế
Hiện nay trên thế giới, các nước có nền kinh tế đã phát triển như : Mỹ,
Nhật, Anh đều có cách phân ngành cụ thể. Nhưng nói chung các nền kinh tế của
các quốc gia khác đều áp dụng theo 2 cách phân ngành phổ biên nhất đó là :
GICS (Global Industry Classification Standard) và ICB (Industry Classification
Benchmark). Nhưng chung nhất, các công ty được phân loại theo ngành chiếm
60% tổng doanh thu của công ty.
Tại Việt Nam sử dụng cách phân ngành của tổng cục thống kê. Ngoài ra
công ty chứng khoán Biển Việt còn cung cấp một cách thức phân ngành CBV
của riêng mình gồm 10 ngành chính: Tiêu dùng, Tài chính, Công nghiệp,
Nguyên vật liệu, Dầu khí, Công nghệ, Dịch vụ, Y tế, Điện nước, Viễn thông.
Trong khuôn khổ của đề tài, xin được tập trung vào cách phân ngành của ICB –
một cách phân ngành được coi như chuẩn mực và áp dụng hầu hết tại các công
ty niêm yết và trên toàn thế giới. Bên cạnh đó cách phân ngành của tổng cục
thống kê và GICS được giới thiệu để tham khảo. Chi tiết về các ngành nghề sẽ
nằm trong phần phụ lục.
1.1.2.1. Phân ngành của tổng cục thống kê
Chính phủ Việt Nam áp dụng Hệ thống ngành kinh tế theo Quyết định số
Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng
Chính phủ, gồm các 21 nhóm ngành, 642 hoạt động kinh tế cụ thể:
Tiêu chuẩn phân ngành của tổng cục thống kê dựa trên tiêu chí là xác địch
hệ số tương quan của một công ty với các công ty khác. Do vậy các kết quả tính
theo phương pháp này đều dựa vào số liệu trong quá khứ, và thiếu tính logic
trong việc nhóm các công ty.
• Nhóm A: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản.
• Nhóm B: Khai khoáng.
• Nhóm C: Công nghiệp chế biến, chế tạo.
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
10
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
• Nhóm D: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước
và điều hòa không khí.
• Nhóm E: Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước
thải.
• Nhóm F: Xây dựng.
• Nhóm G: Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy, và xe có
động cơ khác.
• Nhóm H: Vận tải, kho bãi.
• Nhóm I: Dịch vụ lưu trú và ăn uống.
• Nhóm J: Thông tin và truyền thông.
• Nhóm K: Hoạt động ngân hàng-tài chính, bảo hiểm.
• Nhóm L: Hoạt động kinh doanh bất động sản.
• Nhóm M: Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ.
• Nhóm N: Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ.
• Nhóm O: Hoạt động của Đảng Cộng sản, tổ chức Chính trị-Xã hội,
quản lý Nhà nước, an ninh quốc phòng, bảo đảm xã hội bắt buộc.
• Nhóm P: Giáo dục-Đào tạo.
• Nhóm Q: Y tế và hoạt động trợ giúp Xã hội.
• Nhóm R: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí.
• Nhóm S: Hoạt động dịch vụ khác.
• Nhóm T: Hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia đình,
sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tự tiêu dung của hộ gia đình.
• Nhóm U: Hoạt động của các tổ chức và cơ quan quốc tế.
1.1.2.2. Phân ngành của GICS
Global Industry Classification Standard ( GICS) được phát triển bởi
Morgan Stanley Capital International (MSCI) và Standard & Poor's vào năm
1999. GICS được đưa ra nhằm thiết lập một tiêu chuẩn chung cho việc phân loại
các công ty vào các ngành và nhóm ngành có liên quan với nhau.
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
11
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
GICS được xây dựng theo các tiêu chí:
- Universal (Toàn cầu)
- Accurate (chính xác)
- Flexible (linh hoạt)
- Elvolving (phát triển)
Hiện nay, GICS bao gồm 10 nhóm ngành chính (sectors), 24 nhóm ngành
(industry groups), 67 ngành (industries) và 147 ngành con (sub-industries).
10 nhóm ngành chính của GICS bao gồm:
• Năng lượng: bao gồm các công ty thăm dò, khai thác, chế biến, vận
tải các sản phẩm dầu khí, tha đá, nhiên liệu chất đốt.
• Nguyên vật liệu: đây là một nhóm ngành rộng bao gồm các công ty
hoá chất, vật liệu xây dựng, kính, giấy, lâm sản; các công ty khai mỏ
và luyện kim; các cty sản xuất các sản phẩm bao bì đóng gói (gồm cả
bao bì giấy, kim loại, thuỷ tinh).
• Công nghiệp: gồm các cty chế tạo các loại máy móc công nghiệp,
thiết bị điên; công nghiệp quốc phòng, xây dựng, giao thông vận tải
cùng các dịch vụ liên quan.
• Hàng tiêu dùng không thiết yếu. Gồm những nhóm hàng tiêu dùng
nhạy cảm với chu kì của nền kinh tế như: xe hơi, hàng gia dụng lâu
bền (đồ điện tử gia dụng), hàng may mặc và các thiết bị giải trí, giáo
dục. Nhóm dịch vụ bao gồm khách sạn, nhà hàng, trung tâm giải trí,
truyền thông.
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
12
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
• Hàng tiêu dùng thiết yếu : bao gồm các công ty sản xuất và phân
phối lương thực, thực phẩm, nước giải khát, thuốc lá và các sản phẩm
gia dụng ko lâu bền, các vật dụng cá nhân. Nó cũng bao gồm các siêu
thị, trung tâm bán lẻ thực phẩm và thuốc.
• Chăm sóc sức khoẻ : bao gồm các cty cung cấp các dịch vụ, thiết bị
chăm sóc sức khoẻ và các công ty nghiên cứu, phát triển sản xuất
dược phẩm và các sản phẩm công nghệ sinh học.
• Tài chính: gồm các ngân hàng, cty bảo hiểm, các quỹ đầu tư tài
chính và bất động sản, các công ty cung cấp các dịch vụ tài chính
khác.
• Công nghệ thông tin : bao gồm các công ty nghiên cứu và sản xuất
phần mềm cùng các dịch vụ liên quan và các công ty sản xuất các
thiết bị công nghệ phần cứng cùng các công ty sản xuất chất bán dẫn
và thiết bị bán dẫn.
• Dịch vụ viễn thông : gồm các công ty cung cấp các dịch vụ viễn
thông như: dịch vụ viễn thông cố định, không dây, băng thông rộng
• Dịch vụ Điện nước: gồm các công ty sản xuất và phân phối điện
năng, các cty quản lý hệ thống nước, gas sinh hoạt.
1.1.2.3. Phân ngành của ICB
Tiêu chuẩn phân ngành chuẩn quốc tế- Industry Classification Benchmark
( bản quyền của FTSE & Dow Jones Company)
ICB là một hệ thống đánh giá và phân ngành kinh tế mang tính toàn diện
bao gồm các chức năng so sánh các công ty từ 4 phân ngành và thuộc các quốc
gia khác nhau. Hệ thống này phân chia các doanh nghiệp vào từng phân ngành
một cách chi tiết nhất dựa trên tính chất kinh doanh của các doanh nghiệp đó.
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
13
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích ngành Ngân Hàng Việt Nam
Các chỉ tiêu phân ngành được xác định dựa trên nguồn doanh thu hay nguồn
doanh thu chính của một doanh nghiệp.
Các ngành của ICB phân ra gồm : 10 ngành lớn giúp nhà đầu tư theo dõi
hướng phát triển từng ngành, 18 phân ngành cấp 1 giúp nhà đầu tư phân tích
diễn biến kinh tế vĩ mô dể tìm kiếm cơ hội đầu tư, 39 phân ngành cấp 2 cung cấp
những chuẩn đầu tư, 104 phân ngành cấp 3 cung cấp cho nhà đầu tư thông tin
chi tiết cho phân tích kỹ thuật.
Trên thực tế thì trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam, các công ty chứng
khoán đều áp dụng theo nguyên tắc này, trong phạm vi của đề tài nghiên cứu,
xin được
• Dầu khí: bao gồm các công ty thăm dò, khai thác, sảm xuất, lọc dâù và
cung cấp các sản phẩm dầu khí. Các công ty thăm dò, khai thác, sảm xuất, lọc và
phân phối các sản phẩm dầu khí. Các công ty cung cấp dịch vụ và thiết bị phục
vụ cho ngành dầu khí như xây dưng dàn khoan, khai thác, thăm dò địa chất.
Các công ty sở hữu, vận hành các ống dẫn dầu, dẫn khí hoặc các năng lượng
khác. Các công ty cung cấp, vận chuyển khí gas trực tiếp đến người tiêu dung sẽ
không được xếp trong hạng mục này. Các công ty này sẽ được xếp loại trong
nhóm ngành phân phối khí Ga.
• Nguyên vật liệu: bao gồm các nhà máy sản xuất gỗ, nhà máy cưa. Các
công ty sản xuất sản phẩm đồ gỗ hoàn thiện không được xếp vào hạng mục này
Các công ty sẽ dược xếp ở nhóm ngành Nguyên vật liệu xây dựng & thiết bị lắp
đặt. Các công ty sản xuất, phân phối giấy các loại. Các công ty in ấn các loại
biểu mẫu, sản xuất các loại sản phẩm bằng giấy như cốc giấy, tã, bỉm cho trẻ sơ
sinh không được xếp vào danh mục này mà được xếp trong danh mục Hàng
tiêu dùng nhanh. Các công ty khai thác, sản xuất, phân phối quặng nhôm phục
vụ các ngành công nghiệp khác. Ngoại trừ các công ty sản xuất các sản phẩm
nhôm đã thành phẩm. Các công ty này được xếp loại tuỳ thuộc vào loại hình
Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguyễn Thanh Phúc
TCDN47A, Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét