Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn ở công ty TNHH đầu tư – sản xuất xuất nhập khẩu Việt Nhật

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn
là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp có thể thực hiện các chiến lược và
sách lược kinh doanh, thu hút nhân tài; triển khai và áp dụng tiến bộ khoa học
– công nghệ mới trong kinh doanh và quản lý; khai thác tốt các thông tin thị
trường và khách hàng. Vốn là chất keo để nối chắp, kết dính các quá trình kinh
doanh và quan hệ kinh tế - thương mại với các đối tác gần xa, là dầu nhớt bôi
trơn cho cỗ máy kinh tế vận động.
1.1.2. Phân loại vốn kinh doanh
Ta có thể đứng trên các giác độ khác nhau để xem xét và phân loại vốn
kinh doanh:
 Đứng trên giác độ pháp luật : Vốn ở doanh nghiệp được quy định
thành: vốn pháp định, vốn điều lệ, vốn có quyền biểu quyết
Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật
để thành lập doanh nghiệp. Tùy theo từng ngành nghề, từng loại hình sở hữu
và từng thời kỳ, Nhà nước có quy định mức vốn pháp định hoặc doanh nghiệp
phải đăng ký mức vốn cần có khi thành lập doanh nghiệp.
Vốn điều lệ: là số vốn do tất cả các thành viên đóng góp và được ghi vào
điều lệ công ty. Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở
hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt
Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền
sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong điều lệ
công ty do các thành viên góp để tạo thành vốn của công ty.
Vốn có quyền biểu quyết: là phần vốn góp, theo đó, người sở hữu có
quyền biểu quyết về những vấn đề được Hội đồng thành viên hoặc Đại hội
đồng cổ đông quyết định…
 Đứng trên giác độ hình thành vốn : Vốn ở doanh nghiệp gồm: vốn ban
đầu, vốn bổ sung, vốn liên doanh và vốn đi vay.
- 5 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn
Vốn ban đầu: là số vốn có khi hình thành doanh nghiệp, là số vốn cần
thiết để đăng ký kinh doanh, hoặc là số vốn đóng góp của công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp tư
nhân, hoặc vốn Nhà nước giao của doanh nghiệp Nhà nước, vốn của chủ
doanh nghiệp.
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, phần vốn đóng
góp của tất cả các thành viên phải được đóng đủ ngay khi thành lập công ty.
Đối với công ty cổ phần: vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần. Công ty cổ phần có cổ phần ưu đãi và cổ phần
phổ thông. Chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác
nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó gọi là cổ phiếu.
Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu.
Vốn bổ sung: là số vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận, do Nhà nước
bổ sung bằng phân phối, sáp nhập hay cơ cấu lại doanh nghiệp, do sự đóng góp
của các thành viên, do bán trái phiếu…
Vốn liên doanh: là vốn đóng góp do các bên cùng cam kết liên doanh
với nhau để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vốn đi vay: trong hoạt động kinh doanh, ngoài số vốn tự có và coi như
tự có (vốn chủ sở hữu), doanh nghiệp còn phải sử dụng một khoản vốn đi vay
khá lớn của các ngân hàng thương mại. Ngoài ra còn có các khoản vốn chiếm
dụng lẫn nhau của các đơn vị nguồn hàng, các khách hàng và bạn hàng, cũng
như các tổ chức tài chính – tín dụng khác.
 Đứng trên giác độ thời gian sử dụng vốn kinh doanh : Toàn bộ vốn
kinh doanh được chia thành: vốn kinh doanh thuộc nguồn tài trợ dài hạn và
trung hạn (vốn trung và dài hạn) và vốn kinh doanh thuộc nguồn tài trợ ngắn
hạn (vốn ngắn hạn). Vốn kinh doanh thuộc nguồn tài trợ dài hạn và trung
hạn có thời gian trên một năm. Vốn kinh doanh thuộc nguồn tài trợ ngắn hạn
- 6 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn
có thời gian hoàn trả trong vòng một năm và lãi suất thường thấp hơn tài trợ
dài hạn.
 Đứng trên giác độ quyền sở hữu đối với vốn kinh doanh : Vốn kinh
doanh ở doanh nghiệp được chia thành hai bộ phận: vốn của chủ sở hữu doanh
nghiệp và vốn vay (nợ vay).
Vốn chủ sở hữu (vốn của chủ sở hữu doanh nghiệp): là phần vốn do nhà
nước giao cho doanh nghiệp Nhà nước; vốn cổ phần, vốn góp của công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã hoặc doanh
nghiệp tư nhân. Vốn chủ sở hữu được sử dụng lâu dài. Doanh nghiệp không
phải trả lãi cho vốn cổ phần đã huy động được mà sẽ chia lợi tức cổ phần cho
các chủ sở hữu theo kết quả kinh doanh đạt được và theo điều lệ của doanh
nghiệp hoặc theo quy định của Nhà nước.
Vốn đi vay (vốn nợ): là các khoản vốn doanh nghiệp đi vay. Các đơn vị
tài trợ cho doanh nghiệp không phải là người chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phải trả lãi cho các khoản tiền vay theo mức lãi thỏa thuận trong
suốt cả thời hạn vay. Hết thời hạn, doanh nghiệp phải trả lãi và vốn hoặc gia
hạn mới nếu muốn kéo dài thời gian sử dụng.
Mỗi bộ phận trên lại được cấu thành từ các khoản mục khác nhau tùy
theo tính chất của chúng. Dưới đây ta sẽ đi cụ thể vào từng bộ phận:
1.2. Phương thức huy động vốn của doanh nghiệp
Căn cứ vào khái niệm vốn ở trên, ta có thể hiểu một cách đơn giản: Huy
động vốn là thực hiện các hành động nhằm làm tăng thêm lượng vốn dùng
trong hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp.
Tùy theo loại hình và các đặc điểm riêng có cụ thể, mỗi doanh nghiệp có
thể có các phương thức huy động vốn khác nhau. Trước khi lựa chọn phương
- 7 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn
thức huy động vốn, doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ và cụ thể về từng phương
thức, về ưu nhược điểm và hoàn cảnh áp dụng từng phương thức.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn của
doanh nghiệp được đa dạng hóa nhằm khai thác tối ưu mọi nguồn vốn trong
nền kinh tế.
Dưới đây là những phương thức huy động vốn mà các doanh nghiệp có
thể sử dụng:
1.2.1. Các phương thức huy động vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Huy động vốn chủ sở hữu có ưu điểm là sử dụng vốn được lâu dài và
không phải lo hoàn trả vốn khi đến hạn. Tuy nhiên, việc tăng vốn chủ sở hữu
có thể làm giảm các tỷ số về khả năng sinh lãi của doanh nghiệp như ROE,
ROA. Với công ty cổ phần, khi bổ sung vốn từ lợi nhuận hoặc khi phát hành cổ
phiếu mới có thể gây giảm thu nhập cổ phiếu của các cổ đông, giảm tính hấp
dẫn của cổ phiếu và làm cổ phiếu bị giảm giá. Huy động vốn chủ sở hữu là phù
hợp khi nền kinh tế tăng trưởng kém hoặc doanh nghiệp đang trong thời kỳ sản
xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn.
Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp gồm các bộ phận chủ yếu sau:
 Vốn góp ban đầu
 Vốn từ lợi nhuận không chia
 Vốn từ phát hành cổ phiếu mới.
Trên cơ sở đó, muốn huy động vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp sẽ huy
động vốn thông qua tăng vốn góp ban đầu, bổ sung vốn từ lợi nhuận giữ lại khi
doanh nghiệp kinh doanh có lãi hoặc tăng thêm vốn chủ thông qua phát hành
thêm cổ phiếu mới. Ta sẽ đi cụ thể vào từng phương thức:
1.2.1.1. Huy động vốn qua tăng vốn góp ban đầu
- 8 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn
Khi doanh nghiệp được thành lập, bao giờ chủ doanh nghiệp cũng có
một số vốn ban đầu nhất định do các thành viên, các cổ đông – chủ sở hữu
đóng góp. Số vốn này chính là vốn góp ban đầu. Vốn góp ban đầu là tiền đề để
thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng là nền tảng cho
khả năng huy động vốn từ các nguồn lực khác của doanh nghiệp. Số vốn này
có thể được bổ sung tăng thêm hoặc bị rút đi trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Muốn huy động vốn qua tăng vốn góp ban đầu, doanh nghiệp hay công
ty có thể chọn giải pháp tăng vốn góp của từng thành viên trong hội đồng thành
viên; hoặc tăng số lượng thành viên góp vốn bằng cách tiếp nhận vốn góp của
thành viên mới. Trường hợp tăng vốn góp của thành viên thì vốn góp thêm
được phân chia cho từng thành viên tương ứng với phần vốn góp của họ trong
vốn điều lệ của công ty. Nếu có thành viên không góp thêm vốn, thì phần vốn
góp đó được chia cho thành viên khác theo tỷ lệ phần vốn góp tương ứng. Huy
động vốn qua tăng vốn góp ban đầu thường được áp dụng trong thời kỳ đầu
khó khăn, tài sản doanh nghiệp không đáng kể, hoạt động sản xuất kinh doanh
chưa đạt hiệu quả hoặc doanh nghiệp đang thua lỗ.

1.2.1.2. Huy động vốn bổ sung từ lợi nhuận không chia
Quy mô số vốn ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng.
Tuy nhiên, thông thường, số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của
doanh nghiệp. Trong quá trình tiến hành sản xuất – kinh doanh, nếu hoạt động
tốt thì doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận. Vốn tích lũy từ lợi nhuận không
chia chính là bộ phận lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư, mở rộng sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ – lợi nhuận không chia là một phương
thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì
- 9 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn
sử dụng nguồn tài chính này doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí, giảm bớt sự
phụ thuộc vào bên ngoài. Rất nhiều doanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu
tư từ lợi nhuận để lại, họ đặt ra mục tiêu phải có một khối lượng lợi nhuận để
lại đủ lớn nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn ngày càng tăng.
Tuy nhiên, đối với các công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận liên quan
đến một số yếu tố rất nhạy cảm. Khi công ty giữ lại một phần lợi nhuận trong
năm để tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các
cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần nhưng bù lại họ có quyền sở hữu số
vốn cổ phần tăng lên của công ty. Như vậy, cùng với việc tài trợ bằng nguồn
vốn nội bộ, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên. Điều này một mặt
khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng mặt khác dễ làm giảm tính
hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ ngắn hạn trước mắt do cổ đông chỉ nhận
được một phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hoặc số lãi ròng
không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể bị sụt giảm. Do đó, khi công ty cổ
phần muốn giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư cần cân nhắc và điều chỉnh tỷ lệ lợi
nhuận để tái đầu tư và lợi nhuận dùng để chia lãi cổ phần sao cho hợp lý để
không làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các cổ đông.
1.2.1.3. Huy động vốn từ phát hành cổ phiếu mới
Cổ phiếu là giấy chứng nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với
thu nhập ròng và tài sản cố định của công ty cổ phần. Cổ phiếu có thể được
chia làm hai loại:
Cổ phiếu thông thường (cổ phiếu phổ thông): là loại cổ phiếu có thu nhập
không ổn định, cổ tức biến động tùy theo sự biến động lợi nhuận của công ty.
Tuy nhiên, thị giá cổ phiếu lại rất nhạy cảm trên thị trường, không chỉ phụ
thuộc vào lợi nhuận công ty mà còn phụ thuộc rất nhiều nhân tố khác như: môi
trường kinh tế, sự thay đổi lãi suất và tuân theo quy luật cung cầu. Thị giá cổ
- 10 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn
phiếu thông thường phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế nói chung và biến động
theo chiều ngược lại với biến động lãi suất trái phiếu Chính phủ, các công cụ
vay nợ dài hạn và lãi suất huy động tiền gửi của ngân hàng.
Thông thường, một công ty có thể phát hành cổ phiếu một lần hoặc một
số lần trong giới hạn số cổ phiếu đã được cấp phép phát hành. Ví dụ, công ty A
được phép phát hành 500 triệu cổ phiếu, giả sử năm trước công ty đã phát hành
được 200 triệu cổ phiếu thì công ty sẽ còn được phát hành thêm 300 triệu cổ
phiếu nữa. Giới hạn phát hành chính là công cụ để kiểm soát và hạn chế các rủi
ro cho công chúng.
Cổ phiếu ưu đãi: chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu phát
hành. Người sở hữu loại cổ phiếu này có quyền nhận được một thu nhập cố
định theo một tỷ lệ lãi suất nhất định, không phụ thuộc vào lợi nhuận của công
ty. Tuy nhiên, thị giá của cổ phiếu này phụ thuộc vào sự thay đổi lãi suất trái
phiếu kho bạc và tình hình tài chính của công ty. Người chủ của cổ phiếu ưu
tiên có quyền được thanh toán lãi trước các cổ đông thường.
Để huy động vốn, công ty sẽ bán cổ phiếu cho cổ đông tùy theo số vốn
công ty cần huy động và trong giới hạn phát hành. Nếu cổ phiếu chỉ được bán
trong phạm vi một số người nhất định thì không phải xin giấy phép. Nếu định
bán rộng rãi ra cho công chúng, thì công ty cần phải được cơ quan quản lý
Nhà nước về chứng khoán cấp giấy phép chấp thuận. Cổ phiếu sẽ được giao
dịch tại Sở giao dịch chứng khoán khi đáp ứng đủ được các quy định về niêm
yết chứng khoán. Tổ chức phát hành chứng khoán ra công chúng phải thực
hiện một chế độ báo cáo, công bố thông tin công khai và chịu sự quản lý,
giám sát riêng theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường
chứng khoán.
Phát hành cổ phiếu mới là một phương thức huy động vốn dài hạn rất
quan trọng. Tuy nhiên, huy động vốn qua phát hành cổ phiếu phải xét đến nguy
- 11 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn
cơ bị thôn tính, do đó, khi phát hành cổ phiếu phải tính đến tỷ lệ cổ phần tối
thiểu cần duy trì để giữ vững quyền kiểm soát công ty. Một hạn chế khác của
huy động vốn từ phát hành cổ phiếu là cổ tức được lấy từ lợi nhuận sau thuế
nên không được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty như chi phí lãi vay.
Bên cạnh các cách thức huy động vốn nêu trên, vốn chủ sở hữu của
doanh nghiệp có thể được bổ sung từ phần chênh lệch đánh giá lại tài sản cố
định, từ chênh lệch tỷ giá.
1.2.2. Các phương thức huy động vốn nợ của doanh nghiệp
Như đã nói ở trên, chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập
của công ty. Do đó, một doanh nghiệp biết sử dụng vốn nợ để kinh doanh có
lãi thì sẽ “tiết kiệm được thuế”. Mặt khác, các doanh nghiệp cần vốn mà không
có khả năng huy động vốn chủ sở hữu thì cách duy nhất là huy động vốn nợ.
Để huy động vốn cho quá trình sản xuất – kinh doanh, doanh nghiệp có
thể huy động vốn nợ từ các nguồn sau:
 Tín dụng ngân hàng
 Tín dụng thương mại
 Phát hành trái phiếu
Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn có thể vay nước ngoài hoặc thuê tài
chính các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Ta sẽ đi cụ thể từng phương thức huy động vốn nợ:
1.2.2.1. Tín dụng ngân hàng
Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để
đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là
đảm bảo đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh
nghiệp. Vốn vay ngân hàng là một trong những phương thức huy động vốn nợ
- 12 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn
quan trọng không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà
còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự hoạt động và phát triển của doanh
nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do ngân hàng thương mại cung
cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng.
Phân loại nghiệp vụ tín dụng ngân hàng theo thời gian, người ta chia
thành tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung và dài hạn.
Tín dụng ngắn hạn: nhằm tài trợ cho nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của
Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất. Ngân hàng có thể áp dụng cho vay trực
tiếp hoặc gián tiếp, cho vay theo món hoặc theo hạn mức, có hoặc không cần
đảm bảo, dưới hình thức chiết khấu, thấu chi hoặc luân chuyển.
Ngân hàng cho vay đối với các doanh nghiệp nhằm tài trợ nhu cầu vốn
tăng thêm cho sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp là khách hàng chiếm số
lượng đông nhất của các ngân hàng thương mại. Phần lớn các khoản cho vay
này có thế chấp hoặc cầm cố tài sản.
Để vay được vốn, trừ trường hợp Nhà nước hoặc các cơ quan Nhà nước,
các tổ chức tài chính có uy tín, còn lại các doanh nghiệp, các công ty và hộ sản
xuất đều phải làm đơn và trình bày với ngân hàng kế hoạch sử dụng tiền vay.
Ngân hàng thực hiện phân tích tín dụng, xác định hiệu quả sử dụng vốn vay,
rủi ro, khả năng và nguồn trả nợ cùng các điều khoản có liên quan. Nếu người
vay không lập kế hoạch từ trước thì ngân hàng sẽ tính toán nhu cầu vay cho
từng phương án để tính số tiền cần cho vay. Nếu không phân tích được phương
án vay thì ngân hàng sẽ quyết định số tiền cho vay dựa trên tài sản đảm bảo.
Tín dụng trung và dài hạn: Doanh nghiệp có nhu cầu tín dụng trung và
dài hạn để mua sắm trang thiết bị, xây dựng, cải tiến kỹ thuật, mua công nghệ
Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, để tồn tại và phát
triển, nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng tăng.
- 13 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn
Ngân hàng có thể mua các trái phiếu trung và dài hạn doanh nghiệp
nhằm tài trợ cho quá trình hình thành tài sản cố định.
Khi có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định để thực hiện dự
án, khách hàng có thể xin vay ngân hàng. Một trong những yêu cầu của ngân
hàng là người vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư
cũng như quá trình thực hiện dự án sản xuất kinh doanh. Phân tích và thẩm
định dự án là cơ sở để ngân hàng quyết định phần vốn cho vay và xác định khả
năng hoàn trả của doanh nghiệp.
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có những hạn chế nhất định. Các doanh
nghiệp muốn vay tại các ngân hàng thương mại cần đáp ứng được những yêu
cầu đảm bảo an toàn tín dụng của ngân hàng. Doanh nghiệp đi vay phải xuất
trình hồ sơ vay vốn và những thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu cầu.
Khi doanh nghiệp xin vay vốn, các ngân hàng thường yêu cầu doanh
nghiệp đi vay phải có các bảo đảm tiền vay, phổ biến nhất là tài sản thế chấp.
Việc yêu cầu người vay có tài sản thế chấp trong nhiều trường hợp làm cho bên
đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện vay, kể cả những thủ tục pháp lý
về giấy tờ Vì thế, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn
tín dụng ngân hàng.
Khi doanh nghiệp vay được vốn từ ngân hàng, doanh nghiệp sẽ phải
chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay.
Nói chung, sự kiểm soát này không gây khó khăn cho doanh nghiệp, tuy nhiên,
trong một số trường hợp điều đó cũng làm cho doanh nghiệp có cảm giác bị
kiểm soát.
Lãi suất vay vốn ngân hàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị
trường trong từng thời kỳ. Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải
gánh chịu chi phí sử dụng vốn lớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp.
Có những thời kỳ ở nước ta, lãi suất vay vốn khá cao và thiếu tính cạnh tranh
- 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét