Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Mở rộng hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nội


Chương 1: Lý luận chung về mở rộng cho vay đối với Doanh nghiệp
nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại
1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng thương mại
Lịch sử hình thành và phát tiển của Ngân hàng thương mại gắn liền với
lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Quá trình phát triển kinh tế là
điều kiện đòi hỏi sự phát triển của Ngân hàng và ngược lại chính sự phát triển
của hệ thống ngân hàng lại thúc đẩy kinh tế phát triển.
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền, đúc tiền của thợ vàng
thông qua nhu cầu lưu hành đồng tiền của mỗi một quốc gia, vùng lãnh thổ
kết hợp với giao thương quốc tế. Người đổi tiền, đúc tiền kinh doanh tiền tệ
bằng cách đổi bản tệ lấy ngoại tệ và ngược lại để được hưởng lợi nhuận từ
chênh lệch giá.
Trong điều kiện lưu thông tiền kim loại các chủ cửa hàng vàng, bạc vừa
thực hiện đổi tiền, đúc tiền, cất giữ hộ, thanh toán hộ hình thành nên các ngân
hàng của những thợ vàng. Nghề ngân hàng cũng bắt đầu từ những người cho
vay nặng lãi với các nghiệp vụ: đổi tiền, cất trữ hộ, thanh toán hộ.
Những ngân hàng đầu tiên đã dùng vốn tự có để cho vay nhưng không
lâu sau từ hoạt động thực tiễn, các chủ ngân hàng nhận thấy tính vô danh của
tiền cho phép các ngân hàng được sử dụng tạm thời tiền gửi của khách hàng
để cho vay. Hoạt động cho vay tạo ra lợi nhuận lớn do đó ngân hàng ngày
càng tăng cường thu hút tiền gửi.
Hình thức ngân hàng sơ khai – Ngân hàng của các thợ vàng, Ngân hàng
của những người cho vay nặng lãi, chủ yếu cho những người giàu có, vay
dưới hình thức thấu chi (tức là Ngân hàng cho phép khách hàng chi trội trên
số tiền gửi của họ tại ngân hàng). Chạy theo lợi nhuận cao khiến các chủ
Ngân hàng phát hành chứng từ tiền gửi khống để cho vay dẫn đến hậu quả
5

nhiều Ngân hàng bị phá sản do mất khả năng thanh toán. Kéo theo hàng loạt
các khó khăn trong hoạt động thanh toán, thương mại, lãi suất cao… Trước
thực tế đó các nhà buôn tự thành lập ngân hàng gọi là ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại vẫn thực hiện các nghiệp vụ truyền thống của ngân
hàng bao gồm: huy động tiền gửi, thanh toán, cất trữ hộ và cho vay nhưng
khách hàng của ngân hàng thương mại phần lớn là các nhà buôn và dưới hình
thức chiết khấu thương phiếu.
Sau đó đến lượt các ngân hàng tiền gửi, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng
đầu tư, ngân hàng trung ương … ra đời. Duy chỉ có Ngân hàng Trung Ương
có chức năng xây dựng, điều hành chính sách tiền tệ quốc gia còn các loại
hình ngân hàng khác đều thực hiện kinh doanh tiền tệ.
Cùng với sự phát triển của kinh tế và công nghệ thúc đẩy Ngân hàng
phát triển về nhiều mặt. Trong quá trình tích tụ tập trung vốn hình thành lên
Ngân hàng tư nhân, Ngân hàng cổ phần; về mặt quan hệ sở hữu quản lý hình
thành nên Ngân hàng Quốc doanh, Ngân hàng liên doanh… Các nghiệp vụ
Ngân hàng cũng theo đó phát triển đa dạng, phong phú. Về quy mô Ngân
hàng ngày càng được mở rộng.
Trong quá trình đó cũng đã có nhiều Ngân hàng lâm vào tình trạng phá
sản, nhiều cuộc khủng hoảng, hoảng loạn Ngân hàng lớn nhỏ khác nhau gây
ra những tổn thất, ảnh hưởng lớn nghiêm trọng cho nền kinh tế trong phạm vi
của quốc gia, khu vực và thậm chí toàn thế giới. Nhưng ngược lại nhiều Ngân
hàng cũng đã trưởng thành và lớn mạnh lên. Và các chính sách quản lý Ngân
hàng được đặt ra hợp lý và chính xác hơn nhằm hạn chế sự sụp đổ và thúc đẩy
hỗ trợ sự phát triển của ngân hàng.
Tóm lại, Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh
tế. Có nhiều định nghĩa về ngân hàng, nếu căn cứ vào những loại hình dịch
vụ: Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
6

chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực
hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế. Theo Luật Các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam: “ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ
và các dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sủ
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.”
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1.Trung gian tài chính
Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chính là chuyển
tiền tiết kiệm sang hoạt động sử dung vốn mà chủ yếu là tín dụng để đầu tư.
Ngân hàng là tổ chức trung gian giữa hai đối tượng: Một là, các cá nhân
tổ chức (tạm thời) thặng dư trong chi tiêu nghĩa là thu nhập của đối tượng này
lớn hơn các chi tiêu của họ trong một khoảng thời gian do đó họ có tiền để tiết
kiệm; Hai là, các cá nhân tổ chức thiếu hụt chi tiêu nghĩa là chi tiêu cho tiêu
dùng, đầu tư lớn hơn thu nhập và họ có nhu cầu bổ sung vốn.
Nếu xét hai đối tượng này quan hệ trực tiếp với nhau trên cơ sở cả hai
bên cùng có lợi ( thu nhập gia tăng) tiền sẽ được chuyển từ nhóm một sang
nhóm thứ hai theo quan hệ tín dụng, cấp phát hoặc hùn vốn. Ta lấy quan hệ
tín dụng làm ví dụ. Người có tiền cho vay đòi 2% chi cho chi phí giao dịch,
chi phòng rủi ro 3% và yêu cầu thu nhập ròng cho số tiền cho vay là 5%.
Tổng cộng người có tiền tiết kiệm đòi 10% mới cho vay. Người đi vay muốn
vay phải chi 2% cho chi phí giao dịch và 10% trả cho người có tiền tiết kiệm
cho vay. Tổng cộng chi phí của khoản tiền vay là 12%. Nếu việc sử dụng tiền
vay có thể tạo ra cho người đi vay tỷ suất thu nhập lớn hơn 12% ( giả thiết
như 15%) thì quan hệ tín dụng trên được lập.
Mặc dù quan hệ tín dụng trực tiếp đã và đang tồn tại nhưng nó bộc lộ
nhiều hạn chế do thiếu phù hợp và bị giới hạn về mặt thời gian, không gian,
7

giá trị khoản vay và khả năng cho vay … Và Ngân hàng thương mại- trung
gian tài chính đã giải quyết được điều đó. Ngân hàng tập hợp các người có
tiền tiết kiệm và đầu tư. Với sự chuyên môn hoá, khả năng phân tích thẩm
định thông tin chuyên nghiệp giúp Ngân hàng có thể giảm các chi phí xuống.
Xét ví dụ trên với chức năng trung gian tài chính của ngân hàng. Ngân hàng
làm giảm chi phí giao dịch từ 4% xuống 2%, giảm chi phí rủi ro từ 3% xuống
2% và trả cho người có tiền tiết kiệm 6% với cam kết không có rủi ro ( lớn
hơn 5%) và đòi người đi vay 10% ( nhỏ hơn 12%). Phần chênh lệch 10% -
6% = 4% là thu nhập mà ngân hàng – trung gian tài chính được hưởng. Như
vậy Ngân hàng với chức năng trung gian tài chính đã làm giảm chi phí tín
dụng, tăng thu nhập cho người đầu tư, thúc đẩy đầu tư đồng thời làm tăng thu
nhập cho người có tiền tiết kiệm và khuyến khích tiết kiệm.
1.1.2.2. Tạo phương tiện thanh toán
Phương tiện thanh toán là một chức năng quan trọng của tiền – vàng. Các
Ngân hàng ngay từ ban đầu đã tạo ra phương tiện thanh toán qua việc phát
hành giấy nhận nợ. Khi Ngân hàng Trung ương, Bộ tài chính đảm nhiệm vai
trò in tiền giấy chức năng phương tiện thanh toán của Ngân hàng được thực
hiện qua hoạt động cho vay (tạo tín dụng). Ngân hàng cho vay làm số dư trên
tài khoản tiền gửi của khách hàng tăng lên cho phép khách hàng dùng để chi
tiêu, đầu tư … Sự phát triển mạnh mẽ của Ngân hàng, toàn bộ hệ thống Ngân
hàng phối hợp tạo phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi thanh toán
được mở rộng từ Ngân hàng này đến Ngân hàng khác dựa trên hoạt động cho
vay. Khi Ngân hàng cho một khách hàng vay để chi trả thì số dư trên tài
khoản tiền gửi của khách hàng có khoản phải thu trên tăng lên tại một ngân
hàng khác và tiếp tục tạo ra các khoản cho vay mới …
8

1.1.2.3.Trung gian thanh toán
Hiện nay, Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất. Ngân hàng
thay mặt khách hàng các khoản chi, chi phí. Hoạt động trung gian thanh toán
của Ngân hàng thực hiện ngày càng nhanh chóng, chính xác và chi phí hợp lý
thuận tiện; bằng các hình thức thanh toán ưu viết, được chuẩn hoá và thống
nhất như : thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, thẻ … ; với các công
nghệ thanh toán hiện đại. Các Ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ qua
tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng Trung ương hoặc qua các trung
tâm thanh toán. Việc quốc tế hoá hệ thống Ngân hàng tạo điều kiện cho Ngân
hàng trở thành tổ chức trung gian thanh toán quan trọng và có hiệu quả bậc
nhất cho nền kinh tế toàn cầu.
1.1.3. Các hoạt động cơ chính của Ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Tín dụng được coi là hoạt động sinh lời cao nhất do đó Ngân hàng
thương mại ngày càng chú trọng tới hoạt động huy động vốn.
Nguồn vốn của Ngân hàng thương mai bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn
nợ. Để bắt đầu hoạt động kinh doanh tiền tệ Ngân hàng thương mại thì trước
tiên chủ Ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định (phải lớn hơn hoặc bằng
vốn pháp định). Đây là vốn mà Ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, mua sắm
trang thiết bị, xây dựng trụ sở …Vốn chủ sở hữu bao gồm nguồn vốn hình
thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, các quỹ, nguồn
vay nợ có thể chuyển thành cổ phần.Tuỳ tính chất sở hữu, năng lực tài chính
mà có các nguồn hình thành vốn chủ sở hữu khác nhau. Song nguồn vốn chủ
sở hữu thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn mà chủ yếu là vốn nợ.
Vốn nợ gồm có: tiền gửi của khách hàng, tiền vay và vốn nợ khác. Huy
động vốn nợ đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động kinh
doanh tiền tệ của Ngân hàng thương mại.
9

* Ngân hàng thương mại huy động tiền gửi của khách hàng
Tiền gửi của khách hàng là nguồn vốn huy động quan trong bậc nhất của
Ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của Ngân
hàng. Theo luật các Tổ chức Tín dụng số 07/ 1997/ QHX “ Ngân hàng thương
mại được nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác
dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi
khác.” Nắm bắt được nhu cầu tiết kiệm, thanh toán không dùng tiền mặt,
thanh toán hộ … của khách hàng và mục đích huy động vốn cho kinh doanh
của ban thân ngân hàng, các ngân hàng thương mại ngày càng đa dạng các
hình thức huy động tiền gửi khác nhau đa dạng với sự cạnh tranh mạnh mẽ về
lãi suất, kỳ hạn, thái độ phục vụ và chính sách khuyến mại …và luôn phải
đảm bảo khả năng thanh toán khi khách hàng có yêu cầu rút tiền ngay cả
trường hợp khách hàng yêu cầu rút tiền trước hạn. Ngân hàng thương mại huy
động tiền gửi phải dự trữ bắt buộc, tốn chi phí cất trữ, bảo quản và có thể phải
mua bảo hiểm tiền gửi.
* Ngân hàng thương mại huy động tiền vay
Huy động vốn dưới hình thức tiền gửi là nguồn chính, tuy nhiên khi cần
Ngân hàng thường huy động tiền vay thêm để đáp ứng nhu cầu nguồn tiền của
Ngân hàng. Ngân hàng thương mại có thể vay Ngân hàng nhà nước, vay các
tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường vốn và các vốn nợ khác.
Ngân hàng thương mại có thể vay Ngân hàng nhà nước để giải quyết cầu
tiền cấp bách trong chi trả đảm bảo tính thanh khoản, bù đắp thiếu hụt dự trữ
bắt buộc, dự trữ thanh toán. Ngân hàng thương mại được Ngân hàng Nhà
nước cho vay dưới hình thức tái cấp vốn, tái chiết khấu và phải đảm bảo thực
hiện được các điều kiện chặt chẽ trong sự kiểm soát chặt chẽ phụ thuộc vào
chính sách tiền tệ của từng thời kì, từng quốc gia. Mặc dầu các khoản vay này
lãi suất thấp nhưng thời hạn ngắn.
10

Ngân hàng thương mại cũng có thể vay các tổ chức tín dụng khác trên thị
trường liên ngân hàng. Các khoản vay này nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu
dự trữ, chi trả cấp bách mà có thể không cần bảo đảm hoặc được đảm bảo
bằng chứng khoán của kho bạc nhà nước. Ngoài ra vay các tổ chức giúp Ngân
hàng thương mại có thể không phải dự trữ bắt buộc và bảo hiểm tiền gửi.
Ngân hàng thương mại huy động vốn trên thị trường vốn bằng cách phát
hành các giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu). Khi vay trên thị trường vốn
các Ngân hàng thương mại luôn phải nghiên cứu kĩ thị trường để quyết định
quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay nhằm ổn định nguồn trung và dài
hạn của Ngân hàng.
* Ngân hàng thương mại huy động vốn nợ
Ngoài ra Ngân hàng thương mại còn huy động vốn từ các nguồn khác
như là nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán và các nguồn khác. Phần lớn
đây là nguồn không phải trả lãi hay lãi suất danh nghĩa bằng không nhưng chi
phí để có và duy trì thường không nhỏ.
1.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư
và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho
Ngân hàng. Nhưng hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng chính là hiệu quả sử
dụng vốn hay chính là quá trình tạo ra các loại tài sản của Ngân hàng thương
mại như: ngân quĩ, chứng khoán, tín dụng và các loại tài sản khác.
* Ngân qũi thường gồm: tiền mặt trong két và tiền gửi tại Ngân hàng khác.
Ngân qũi của Ngân hàng thương mại là tài sản có tính thanh khoản cao nhất
được thành lập nhằm duy trì khả năng chi trả thường xuyên và các yêu cầu
khác của Ngân hàng. Nhìn chung ngân qũi của Ngân hàng là tài sản không
sinh lãi hoặc thấp khi gửi tiền tại ngân hàng khác. Vì vậy các Ngân hàng
11

thương mại luôn cố gắng duy trì ngân quĩ ở mức thấp nhất mà vẫn đảm bảo
an toàn thanh khoản phù hợp với từng thời kỳ.
* Ngân hàng thương mại nắm giữ chứng khoán của Chính phủ, địa phương
(do Kho bạc Nhà nước phat hành); chứng khoán của các Ngân hàng khác,
công ty tài chính,các công ty khác. Với mục đích nhằm đảm bảo thanh khoản
và đa dạng hoá danh mục tài sản và mang lại thu nhập cho Ngân hàng.
* Hoạt động tín dụng
Tín dụng là tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các Ngân hàng
thương mại (khoảng 70% trong tổng tài sản) phản ánh hoạt động đặc trưng
của Ngân hàng. Loại tài sản này được phân chia theo nhiều tiêu thức khác
nhau. Theo Nghị định số 49/2000/NĐ- Chính phủ ngày 12/09/2000 của Chính
phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tổ chức và hoạt động của
Ngân hàng thương mại quy định: “Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng
cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và
giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo
quy định của Ngân hàng Nhà nước.”. Trong đó hoạt động cho vay chiếm tỷ
trọng cao nhất và quan trọng nhất. Ngân hàng thương mại cấp tín dụng nhằm
mục tiêu thu lời mang lại thu nhập lớn nhất cho Ngân hàng, đồng thời cũng là
hoạt động chứa đựng rủi ro rất lớn.
* Các hoạt động sử dụng vốn khác: Ngoài hoạt động sử dụng vốn trên
Ngân hàng thương mại còn thực hiện các hoạt động uỷ thác, hùn vốn …
1.1.3.3. Các hoạt động khác
Bên cạnh hai hoạt động chính huy động vốn và sử dụng vốn Ngân hàng
thương mại còn thực hiện các hoạt động mua bán ngoại tệ, bảo quản vật có
giá, cung cấp các tài khoản giao dịch và hoạt động thanh toán … nhằm phong
phú danh mục hoạt động và lợi nhuận của Ngân hàng.
12

1.2. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đối với Doanh nghiệp
nhỏ và vừa
1.2.1. Khái quát về Doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1.1. Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động
kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Theo Điều 4
luật Doanh nghiệp Việt Nam (thông qua ngày 29/11/2005) “ Doanh nghiệp là
tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh - tức là thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn trong
quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đến cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm sinh lời.”
Phân loại Doanh nghiệp rất đa dạng tuỳ theo từng tiêu trí khác nhau có
các loại hình Doanh nghiệp khác nhau. Theo qui mô Doanh nghiệp có Doanh
nghiệp lớn, Doanh nghiệp vừa và Doanh nghiệp nhỏ. Nhìn chung ở nước ta
hiện nay tỷ trọng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tương đối lớn và có vị trí
quan trọng đến phát triển nền kinh tế. “ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở
sản xuất kinh doanh độc lập, đã dăng ký kinh doanh theo qui định hiện hành;
có vốn đăng kí kinh doanh không quá 10 tỷ VND và có số lượng lao động
trung bình hàng năm không quá 300 người.” (theo luật Doanh nghiệp Việt
Nam hiện hành). Trong đó lao động trung bình hàng năm là số lao động bình
quân mà Doanh nghiệp đã đăng kí với cơ quan quản lí lao động và có tham
gia đóng Bảo hiểm xã hội (đã trừ đi số lao động Doanh nghiệp kí hợp đồng
thời vụ, hợp đồng công việc). Vốn đăng kí đối với Doanh nghiệp Nhà nước là
vốn điều lệ được nhà nước cấp, đối với các Doanh nghiệp còn lại là vốn ghi
trên đăng kí kinh doanh, giấy phép đầu tư.
13

Nhìn chung loại hình Doanh nghiệp nhỏ và vừa có các đặc điểm riêng
biệt như: quy mô nhỏ; năng động, dễ thích nghi với những sự biến động của
tình hình kinh tế xã hội; khả năng cạnh tranh không cao do tiềm lực tài chính
nhỏ; chất lượng tay nghề lao động chưa cao; ít có lợi thế về công nghệ.
1.2.1.2. Đặc điểm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Doanh nghiệp nhỏ và vừa Năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh
doanh. Với quy mô vừa, nhỏ và mô hình tổ chức đơn giản vì vậy dễ dàng
chuyển hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với tình hình biến động của thị
trường, để hoạt động đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất. Việc chuyển
hướng này cũng không khó khăn và tốn nhiều chi phí như các doanh nghiệp
lớn. Với đặc điểm này Việt Nam luôn chú trọng phát triển các Doanh nghiệp
nhỏ và vừa.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận, thích ứng công nghệ hiện đại
nhanh chóng. Vì các trang thiết bị máy móc phục vụ sản xuất kinh doanh của
các Doanh nghiệp nhỏ và vừa có chi phí không quá cao, công nghệ đơn thuần.
Áp dụng được công nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh giúp các Doanh
nghiệp nhỏ và vừa tăng nhanh năng suất. Phần lớn Doanh nghiệp vừa và nhỏ
ở Việt Nam công nghệ đã được cải thiện nhưng vẫn còn lạc hậu so với các
nước phát triển trên thế giới
Các Doanh nghiệp nhỏ và vừa có tổ chức sản xuất quản lý gọn nhẹ, hợp
lý không cồng kềnh dễ kiểm soát. Số lượng lao động không nhiều, việc tổ
chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý trong các Doanh nghiệp nhỏ và vừa
tương đối nhỏ gọn, không có nhiều các khâu trung gian làm tăng hiệu quả
hoạt động doanh nghiệp. Các quyết định chế độ, chỉ tiêu… đến với người lao
động cũng nhanh chóng vì thế mà công tác kiểm tra giám sát tiến hành thuận
lợi, không phải qua nhiều khâu trung gian, tiết kiệm được chi phí, thời gian
quản lý doanh nghiệp.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét