Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khẩu. Do đó, nhà nước có định hướng, chính sách khuyến khích đầu tư vào
ngành dệt may.
Các doanh nghiệp dệt may quốc doanh được cấp vốn ban đầu, đồng
thời được cấp 30% vốn lưu động định mức theo kế hoạch sản xuất kinh
doanh hàng năm. Nguồn vốn trong nhân dân hiện nay còn rất lớn, các doanh
nghiệp có khả năng có thể huy động vốn bằng cổ phiếu, trái phiếu.
Mặt khác nhiều doanh nghiệp năng động, đã huy động được các nguồn
vốn khác, như vốn vay ở ngân hàng, vốn vay nước ngoài, liên doanh, hợp
tác để mở rộng quy mô sản xuất như May 10, May Nhà Bè, May Việt
Tiến
Theo thống kê của hiệp hội dệt may Việt Nam, trong 4 năm 2001-2004,
riêng Vinatex đầu tư 8000 tỷ đồng, trong đó gần 70% là đầu tư vào ngành
dệt. Hiệp hội dệt may Việt Nam đang kiến nghị chính phủ tập trung nguồn
tín dụng khoảng 15 000 tỷ đồng hỗ trợ cho ngành dệt may phát triển từ
2004-2009. Đồng thời, các ngân hàng giảm lãi suất cho vay, các tổ chức tín
dụng nước ngoài sẵn sàng cho Việt Nam vay khi có ngân hàng ngoại thương
bảo lãnh. Vì vậy, tạo thuận lợi cho việc thu hút cho ngành dệt may.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn trong tình trạng thiếu vốn, nhất là vốn
đầu tư dài hạn. Tình trạng thiếu vốn này thể hiện ở cả 2 mặt: vốn lưu động
và vốn đầu tư để đổi mới công nghệ và thiết bị. Một số doanh nghiệp cần
vốn ngay do đó phải đi vay và chịu lãi suất cao, thời gian trả nợ ngắn. Lãi
vay không kịp trả đưa đến tình trạng nợ lớn, nguy cơ phá sản cao.
Lãi suất ngân hàng hiện nay tuy đã giảm nhiều so với trước nhưng tỷ
trọng cho vay trong và dài hạn quá thấp nên các doanh nghiệp không có điều
kiện để vay vốn đầu tư chiều sâu.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2. Vốn nước ngoài
Vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong sản xuất của ngành
dệt may. Nó chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng vốn đầu tư vào ngành dệt
may hiện nay. Tính đến nay, có khoảng 180 dự án sợi- dệt- nhuộm- đan len-
may mặc có hiệu lực với số vốn đăng ký đạt gần 1,85 tỷ $, trong đó đã có
130 dự án đi vào hoạt động. Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chiếm trên
30 % giá trị sản lượng hàng dệt và trên 25 % giá trị sản lượng hàng may mặc
của cả nước.
Dòng vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào ngành dệt may trong thời gian
qua đã thực sự có tác động tích cực và có vai trò quan trọng trong chiến lược
đầu tư phát triển ngành dệt may Việt Nam. Đầu tư nước ngoài đã mang lại
cho ngành dệt may Việt Nam một lượng vốn đầu tư rất lớn, khoảng 42 %
trong tổng số vốn đầu tư toàn ngành dệt may trong thời gian qua. Lượng vốn
này đã góp phần giải quyết khó khăn của doanh nghiệp dệt may Việt Nam,
là nguồn vốn bổ sung đáng kể khi nguồn vốn trong nước chưa huy động hết.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dệt may Việt Nam
Năm Số dự án
Tổng số vốn(triệu
$)
Bình quân 1dự
án(Triệu $)
2000 46 89,018 1,872
2001 73 135,83 1,86
2002 148 237,78 1,606
2003 145 268,23 1,85
2004 21 73,0738 3,479
Đến nay, có khoảng 25 quốc gia đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam,
chủ yếu là Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan với dự án quy mô vừa và
nhỏ. Đài Loan là nước đầu tư lớn nhất với số vốn 1388,88 tr $ trong đó 53
dự án dệt, tương ứng 1189, 51 tr$; 92 dự án may tương ứng 199,37tr $. Song
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
song với việc thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài, một lượng lớn tài sản
thiết bị kỹ thuật và nguồn lực đáng kể được đưa vào hoạt động cho mục tiêu
phát triển của ngành dệt may một cách có hiệu quả. Việc đổi mới trang thiết
bị, máy móc công nghệ có được là nhờ sự góp vốn đầu tư của nhiều tập đoàn
dệt may trên thế giới: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản Doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài đóng góp vai trò quan trọng trong sản xuất công
nghiệp nói chung, dệt vải chiếm 33,5 % tổng giá trị sản xuất công nghiệp
của ngành.
Tuy nhiên, nguồn vốn nước ngoài còn một số hạn chế, đó là:
Vốn đầu tư nước ngoài vào các khu vực chưa hợp lý do đó tạo ra sự
chênh lệch thu nhập của công nhân dệt may giữa các khu vực và chưa khai
thác hết tiềm năng về lao động, lợi thế của ngành dệt may.
Hiệu quả sử dụng vốn nước ngoài chưa cao và không đồng đều. Hình
thức liên doanh giảm đi đáng kể, chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ 16,44 %
III. Tình hình đầu tư vào tài sản cố định hữu hình
1. Đầu tư vào máy móc thiết bị và công nghệ
Hoạt động đầu tư vào thiết bị công nghệ có vai trò rất quan trọng trong
sản xuất của các ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành dệt may. Tuy ngành
dệt may được phát triển sớm nhưng nếu không có khả năng đầu tư đổi mới
công nghệ thì không có khả năng phát triển sản xuất sản phẩm chất lượng
cao, tốn kém về chi phí sản xuất, không tạo được sản phẩm đa dạng. Công
nghệ mới góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, phục vụ tốt
hơn nhu cầu ngày một gia tăng của con người. Ngược lại, sự tiến bộ khoa
học công nghệ tạo sản phẩm mới kích thích làm phát triển nhu cầu tiêu dùng
dẫn đến thúc đẩy trở lại ngành dệt may phát triển.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Đổi mới thiết bị công nghệ của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
thực sự được đặt ra và thực hiện một cách mạnh mẽ trong quá trình công
nghiệp hoá. Hiện nay, công nghệ này đã có những cải thiện đáng kể, nhiều
công đoạn của quá trình sản xuất đã đạt được trình độ công nghệ ở các nước
tiên tiến. Trong những năm qua, với lượng vốn đầu tư thu hút nhiều, ngành
dệt may Việt Nam đã tập trung đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ cho ngành
dệt may.
Vốn đầu tư thiết bị trong tổng vốn đầu tư của Vinatex giai đoạn 1998-2004
Đơn vị: Tỷ đồng
2000 2001 2002 2003 2004
Tổng vốn đầu tư 2066,8 3157 2111,8 1245,3 1514,6
Vốn thiết bị 1126 1774 1036 598 709,59
Tỷ lệ(%) 54,48 56,19 48,89 48,02 46,85
Ta thấy chỉ có năm 2003 vốn cho thiết bị của ngành thấp, chỉ đạt 598 tỉ
đồng, còn lại ở các năm 2000-2004 thì vốn thiết bị tăng theo tổng vốn đầu
tư. Cụ thể được thể hiện ở biểu đồ sau:
2000
500
0
Tong von dau tu
Von thiet bi
2000
1500
1000
3500
3000
2500
Tû ®ång
2001 2002 2003
N¨m
2004
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Qua kết quả khảo sát 2003 về “ đổi mới thiết bị công nghệ tại các
doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam” ta có thực trang trình độ công nghệ
của công nghiệp dệt may như sau:
* Thiết bị công nghệ kéo sợi:
Hiện nay, toàn ngành có khoảng 1050000 cọc kéo sợi và số cọc đã sử
dụng trên 20 năm chiếm 44,67 %; số cọc sợi đã sử dụng từ 10 – 20 năm
chiếm 36,62 %; số cọc sợi đã sử dụng dưới 10 năm chiếm 8,6 %. Nhìn
chung, công nghệ kéo sợi chưa đạt yêu cầu về chất lượng, công ty sợi được
trang bị máy móc hiện đại nhất cũng mới chỉ đạt khoảng 50 %. Công nghệ
kéo sợi OE là công nghệ phổ biến nhất cũng mới chỉ đạt xấp xỉ 5 % sản
lượng kéo sợi.
*Thiết bị công nghệ dệt thoi:
Tỷ lệ máy dệt mới được trang bị chỉ chiếm khoảng 15 % toàn ngành có
khoảng 14 nghìn máy dệt vải, 450 máy dệt kim. Số máy dệt thoi kiểu cũ khổ
hẹp chiếm tới 80%. Hầu hết các doanh nghiệp mới kéo được sợi có chỉ số
50, một số ít làm được sợi 60 và sợi để sản xuất mảnh vải có chất lượng cao
nhưng chỉ số 80 – 100 thì chưa làm được
*Thiệt bị công nghệ in nhuộm:
Chất lượng sản phẩm không chỉ phụ thuộc vào thiết bị mà còn phụ
thuộc vào công nghệ bao gồm hoá chất, thuốc nhuộm, quy trình công nghệ.
Hiện nay, các xí nghiệp in nhuộm có năng lực sản xuất khoảng 600 tr m/
năm nhưng năng suất rất thấp. Tỷ lệ nhuộm đúng ngay từ mẻ đầu thường là
45 – 50%, cơ sở tốt nhất là 75% trong khi đó tỷ lệ này ở nước khác là 90%.
Tỷ lệ nhuộm lại do sai màu chiếm 15-25%, cơ sở làm tốt nhất cũng chỉ đạt
6-7%, ở nước ngoài là 1-4%.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
*Thiết bị công nghệ may:
Hiện nay toàn ngành có khoảng 190 nghìn máy may. Trên cả nước,
ngành may đã đổi mới được 90% máy móc thiết bị, trong đó có các loại máy
có chất lượng cao, tự động hoá. Song hiện nay thiết bị ở các khâu trên dây
chuyền công nghệ có trình độ công nghệ rất chênh lệch nhau. Ở khâu may
và hoàn tất sản phẩm sử dụng thiết bị mới và hiện đại, còn ở khâu chuẩn bị
sản xuất, khâu cắt thì vẫn sử dụng lao động thủ công, năng suất thấp.
Bên cạnh đó, còn tồn tại sự chênh lệch về trình độ công nghệ của các
doanh nghiệp dệt may, như là: sự chênh lệch trình độ công nghệ của các
doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác nhau, các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài cao, còn ở doanh nghiệp nhà nước và ngoài nhà nước rất
thấp. Chênh lệch về trình độ công nghệ giữa doanh nghiệp dệt và doanh
nghiệp may, doanh nghiệp dệt chỉ có 15% máy mới, còn doanh nghiệp may
xuất khẩu đã được thay toàn bộ thiết bị hiện đại. Hơn nữa, trình độ công
nghệ sản xuất của ngành dệt may vẫn đang lạc hậu so với các nước trên thế
giới, sản lượng sản phẩm xuất khẩu hạn chế, đạt khoảng 400 tr sản phẩm,
trong khi đó ở Trung Quốc là 10 tỷ, Inđô là 3 tỷ, Thái Lan là 2,5 tỷ sản
phẩm. Vốn đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ còn thiếu, đầu tư mang tính
chất bổ sung thay thế là chính, chứ chưa quan tâm đến đầu tư mở rộng sản
xuất, đầu tư sản xuất chủng loại mặt hàng mới. Nhiều doanh nghiệp đầu tư
lớn song lại chưa huy động hết thiết bị mới đầu tư vào sản xuất, đặc biệt là
dây truyền dệt, nhuộm. Đầu tư còn chưa đồng bộ và chưa phù hợp với xu
hướng hiện nay của thị trường.
Từ thực trạng trên cho thấy, đòi hỏi các doanh nghiệp ngành dệt may
cần tập trung đầu tư hơn nữa cho thiết bị, công nghệ để có thể sản xuất ra
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
sản phẩm đáp ứng nhu cầu khắt khe của thị trường trong nước cũng như thế
giới.
2. Đầu tư vào nguồn nguyên vật liệu
Hiệu quả sản xuất của ngành may mặc chịu ành hưởng của nhiều nhân
tố như thị trường đầu ra, đầu vào, môi trường thể chế pháp luật…. trong đó,
một trong những yếu tố đầu vào có ý nghĩa quyết định đó là nguyên liệu
thượng nguồn hay còn gọi là nguồn nguyên phụ liệu. Nguyên liệu thượng
nguồn cho ngành may mặc, bao gồm những loại sản phẩm trung gian có vai
trò hỗ trợ cho việc sản xuất sản phấm cuối cùng của may măc, một số sản
phẩm chủ yếu như: sợi, vải, chỉ may, bao bì đóng gói, nhãn mác… cũng có
thể hiểu một cách tương đối là sản xuất nguyên phụ liệu may mặc chính là
ngành sản xuất phụ trợ của may mặc.
Trong thời gian qua, ngành dệt may đã chú trọng đến đầu tư phát triển
nguồn nguyên liệu và đạt được một số kết quả như: sản lượng bông cung cấp
phát triển, chất lượng tốt hơn, các nguyên phu liệu khác cũng đáp ứng tốt
hơn. Tuy nhiên, theo thống kê hiện nay ngành may mặc Việt Nam, nguồn
nguyên phụ liệu trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành. Hàng
năm, phải nhập từ nước ngoài chiếm đến 70%, điều này ành hưởng lớn đến
hiệu quả của ngành may mặc Việt Nam.
Nhập khẩu nguyên phụ liệu ngành dệt may Việt Nam
Mặt hàng Đơn vị 2000 2001 2002 2003 2004
Sợi dệt Nghìn tấn 273 210,7 265 217,3 231
Bông Nghìn tấn 90,4 98 97 91,7 138
Nguyên phụ liệu dệt
may
Triệu $ 1422 1589 1711 2035,6 2216
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tính đến nay, ngành may mặc và các cơ sở sản xuất nguyên phụ liệu
phục vụ may mặc có số vốn đầu tư đăng ký đạt 1,85 tỷ $, các doanh nghiệp
đầu tư nước ngoài chiếm trên 30% giá trị sản lượng hàng dệt và 25% giá trị
sản lượng may mặc.
Bên cạnh đó, cây bông có vai trò quan trọng, là nguồn nguyên liệu của
ngành dệt may. Ta sử dụng bông sản xuất trong nước sẽ chủ động được
nguyên liệu, tiết kiệm ngoại tệ, cân băng kim ngạch XNK và khai thác tiềm
năng đất đai lao động nhiều vùng trong cả nước. Trong giai đoan 2000 –
2003, ngành dệt may đã thực hiện 10 dự án phát triển trồng và chế biến
bông, sản lượng bông tăng hàng năm 12- 15%, diện tích tăng từ 11- 17%,
năng suất bình quân hàng năm đạt khoảng gần1 tấn/ha. Tuy vậy, thực tế hiện
nay diện tích và năng suất trồng bông của Việt Nam mới chỉ đáp ứng được
từ 10- 15% nhu cầu nguyên liệu của ngành dệt may, còn lại vẫn nhập khẩu là
chủ yếu. Hàng năm, chúng ta vẫn phải bỏ khoảng 100 tr $ để nhập khẩu từ
50- 60 tấn bông xơ, chiếm 90% số lượng bông xơ sử dụng. Chính việc nhập
khẩu này đã hạn chế khả năng phát triển của công nghiệp dệt. Doanh nghiệp
không chủ động được nguồn nguyên phụ liệu và thời gian đáp ứng nhanh
yêu cầu khách hàng từ đó ảnh hưởng đến kết quả sản xuất.
Ngoài ra, tơ tằm cũng là nguyên liệu quan trọng trong ngành dệt may.
Trong những năm gần đây nghề trồng dâu nuôi tằm đã được nhà nước quan
tâm đầu tư phát triển. Diện tích trồng dâu có xu hướng tăng lên, đến 2000,
diện tích trồng dâu lên đến 40000 ha. Bên cạnh đó, cũng tập trung vào trồng
đay để sản xuất đay tơ. Hàng năm sản lượng đay đạt 20000 tấn. Một số dự
án phát triển sản xuất tơ sợi nhân tạo và tổng hợp cho công nghệ dệt được
xây dựng và thực hiện. Tổng sản lượng sợi đã gia tăng, tính riêng tổng công
ty dệt may Việt Nam đã đạt 90000 tấn.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tuy nhiên, tình hình đầu tư phát triển vùng nguyên vật liêu, phụ liệu
cho ngành dệt may còn gặp nhiều khó khăn. Nghề trồng dâu nuôi tằm được
sản xuất ở quy mô nhỏ, phân tán do đó năng suất chưa cao, kỹ thuật còn
chưa hiện đại nên sản lượng, chất lượng tơ chưa cao. Sản xuất đay tơ gần
đây có xu hướng giảm sút.
Nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ việc trồng trọt, sản xuất nguyên
liệu cho ngành dệt may. Các nhà sản xuất chưa lấy chất lượng đặt lên hàng
đầu cho quá trình sản xuất.
IV. Tình hình đầu tư vào tài sản vô hình
1. Đầu tư vào thương hiệu
Theo đánh giá của chuyên gia quốc tế Việt Nam thành lập khá ổn định
sự có mặt của mình trong thị trường hàng dệt may toàn cầu, ngành công
nghiệp dệt may của Việt Nam đã có sức cạnh tranh. Sản phẩm dệt may Việt
Nam đã tạo được sự tin cậy của các nhà bán lẻ quốc tế được biết đến khá
nhiều trên thị trường quốc tế. Một số thương hiệu quen thuộc đã gây được
uy tín như: may 10, may Việt Tiến, gấm Thái Tuấn, dệt kim Đông Xuân, sơ
mi An Phước.
Vài năm trở lại đây, một số doanh nghiệp dệt may đầu tư vào công tác
tiếp thị, quảng bá sản phẩm hiệu quả đã sản xuất được nhiều sản phẩm mang
thương hiệu của chính mình và từng bước đẩy lùi hàng ngoại như: công ty
thời trang Việt với nhãn hiệu NinoMaxx, đưa ra sản phầm trên vải jeans,
kaki, lylen… thích hợp cho giới trẻ năng động ; gấm Thái Tuấn với vải lụa
mềm, hoạ tiết độc đáo hợp cho trang phục mang đậm nét văn hoá; may Việt
Tiến với sản phẩm sơ mi, quần âu… đa dạng mẫu mã chiếm lĩnh thị trường
khá đông đảo.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Gần đây các doanh nghiệp đã quan tâm đến nghiên cứu, thu thập và
phân tích thông tin thị trường như: tổ chức xây dựng các bộ phận nghiên cứu
phát triển của phòng Marketing, xây dựng chương trình quảng cáo khuyến
mãi, mở rộng hội nghị khách hàng, tham dự hội trợ trong nước, quốc tế.
Tuy nhiên,sản phẩm may tiêu thụ nội địa phần lớn dựa vào mẫu mốt
nước ngoài. Công tác nghiên cứu thiết kế mẫu thời trang còn thiếu. Các sản
phẩm thời trang trên sàn diễn không được nhiều người thực tế sử dụng. Một
số hàng thời trang cho trẻ em và phụ nữ còn ở mức cóp nhặt cải biển từ mẫu
mã của Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc mà chưa có nhà thiết kế chuyên
nghiệp. Ngành dệt may đến nay chưa hình thành được các trung tâm thiết kế
mẫu mốt, tình hình tiêu thụ sản phẩm dệt may chất lượng cao mang nhãn
mác của doanh nghiệp Việt Nam còn quá ít do đó không tạo được uy tín cho
khách hàng, chưa xây dựng được hình ành doanh nghiệp trên thị trường.
Bên cạnh đó, thương hiệu dệt may Việt Nam vẫn còn quá ít. Doanh
nghiệp Việt Nam thiếu ý thức về đăng ký bản quyền bảo hộ thương hiệu,
thường bị động trong việc bảo vệ thương hiệu khi xâm nhập thị trường nước
ngoài. Chính vì vậy doanh nghiệp dệt may Việt Nam thường bị mất thương
hiệu do sự thiếu cẩn trọng trong nghiên cứu thị trường và đối tác nước ngoài.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp dệt may Việt Nam xuất khẩu chưa có
thương hiệu riêng về hàng hoá của mình theo thống kê có 70% giá trị xuất
khẩu là sản phẩm gia công và mang nhãn hiệu hàng hoá của bên đặt hàng,
30% mang nhãn hiệu hàng hoá của nhà sản xuất trong nước hoặc mua quyền
sử dụng nhãn hiệu hàng hoá của nước ngoài. Chính vì vậy, một số nhãn hiệu
nổi tiếng của Việt Nam như: may Nhà Bè, may Thành Công, dệt kim Hà Nội
không được Mỹ, Nhật, EU biết đến.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét