Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Chất lượng sản phẩm với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của C.ty Bánh kẹo Hải Hà


sản phẩm và khả năng cạnh tranh
I. Các khái niệm chất lợng sản phẩm.
1. Các quan niệm về chất lợng sản phẩm.
Chất lợng sản phẩm là một phạm trù phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Có nhiều định nghĩa, khái niệm về chất lợng sản phẩm bởi lẽ vấn đề này đợc
hầu hết các tổ chức và các quốc gia trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhng
chúng ta có thể xem xét nghiên cứu một số quan niệm sau.
Theo quan điểm của triết học, chất lợng là một phần tồn tại cơ bản bên
trong của các sự vật và hiện tợng. Theo Mác thì chất lợng sản phẩm là mức độ,
là thớc đo biểu thị giá trị sử dụng của nó. Giá trị sử dụng của một sản phẩm làm
nên tính hữu ích của sản phẩm đó chính là chất lợng sản phẩm.
Theo quan điểm của hệ thống xã hội chủ nghĩa trớc đây mà Liên Xô là đại
diện thì Chất lợng sản phẩm là tổng hợp những đặc điểm kinh tế kỹ thuật nội
tại, phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng những nhu
cầu định trớc cho nó trong những điều kiện về kinh tế kỹ thuật.
Đứng trên góc độ xem xét sản phẩm ta quan niệm chất lợng sản phẩm là
toàn bộ các thuộc tính phản ánh chức năng, công dụng, tác dụng của sản phẩm.
Những đặc tính này có thể đo lờng một cách chính xác và số lợng các thuộc tính
càng nhiều thì chất lợng sản phẩm càng cao.
Với các quan niệm trên, chất lợng sản phẩm đợc nhìn tách rời khỏi thị tr-
ờng, khỏi nhu cầu. Chất lợng đợc coi là một chỉ tiêu tĩnh dẫn đến sản phẩm sản
xuất ra cha chắc đã bán đợc. Hơn nữa các nhà sản xuất quá quan tâm đến những
chỉ tiêu, thuộc tính của sản phẩm mà không xem xét chúng trong mối quan hệ
với nhu cầu thị trờng luôn thay đổi sẽ dẫn đến nguy cơ làm cho chất lợng sản
phẩm bị tụt hậu so với nhu cầu.
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trờng, nhu cầu thị trờng đợc coi là xuất phát
điểm của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thì những quan niệm trên sẽ
không còn phù hợp nữa. Quan niệm về sản phẩm phải gắn liền với nhu cầu của
ngời tiêu dùng, với chiến lợc cạnh tranh của doanh nghiệp.
Philip Crosby, nhà làm công tác chất lợng hàng đầu của thế giơí, ngời Mỹ
cho rằng: Chất l ợng là sự phù hợp với nhu cầu hay đặc tính nhất định. Định
nghĩa này rất có ý nghĩa trong sản xuất hàng loạt lớn và sử dụng lắp lẫn các chi
5

tiết. Giá trị của định nghĩa này là ở chỗ nó cho phép đo đợc chất lợng. Khi đã đo
đợc thì có thể đánh giá đợc hoạt động chất lợng.
Còn theo Feigen Baun thì Chất lợng của sản phẩm là tập hợp các đặc tính
kỹ thuật, công nghệ và vận hành của sản phẩm, nhờ chúng mà sản phẩm đáp
ứng đợc các nhu cầu của ngời tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm.
Joseph Juran, nhà chất lợng ngời Mỹ, đã nhận thấy rằng các yêu cầu về quy
phạm có thể là những thứ mà ban quản lý và các nhà thiết kế cho là phù hợp nh-
ng lại không phải là cái mà khách hàng cần. Do đó, theo ông Chất lợng là sự
phù hợp với mục đích. Định nghĩa này của Juran thừa nhận rằng một sản phẩm
hay một dịch vụ đợc tạo ra với ý đồ là để thoả mãn một nhu cầu nào đó của
khách hàng.
Phần lớn các chuyên gia về chất lợng trong nền kinh tế thị trờng coi chất l-
ợng sản phẩm là sự phù hợp với các nhu cầu hay mục đích sử dụng của ngời
tiêu dùng. Các đặc điểm kinh tế kỹ thuật phản ánh chất lợng sản phẩm khi
chúng thoả mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng. Chất lợng đợc nhìn từ bên ngoài,
Chất lợng là do khách hàng xác định chứ không phải do ngời sản xuất. Chỉ có
những đặc tính đáp ứng đợc nhu cầu khách hàng mới là chất lợng sản phẩm.
Theo ISO8402-1994 thì Chất lợng là tổng thể các chỉ tiêu, những đặc trng
của sản phẩm thể hiện đợc sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu
dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phẩm mà ngời tiêu dùng mong
muốn.
Theo TCVN 5814-1994 thì: Chất lợng sản phẩm của một sản phẩm nào đó
là tổng hợp tất cả các tính chất biểu thị giá trị sử dụng phù hợp với nhu cầu của
xã hội nhất định, đảm bảo các yêu cầu của ngời sử dụng nhng cũng đảm bảo
các tiêu chuẩn thiết kế và khả năng sản xuất của từng nớc.\
Theo ISO 9000: 2000. Chất lợng là mức độ của tập hợp các đặc tính vốn có
phù hợp với yêu cầu. Theo định nghĩa này thì chúng ta cần hiểu:
- Đặc tính là đặc trng để phân biệt và một đặc tính có thể là vốn có
hoặc có thể gắn thêm vào, có thể định tính hoặc định lợng.
- Yêu cầu là nhu cầu hay mong đợi đã đợc công bố đợc ngầm hiểu
chung hoặc bắt buộc.
- Sự thoả mãn của khách hàng là sự đảm nhận của khách hàng về mức
độ đáp ứng yêu cầu.
6

Các quan niệm trên là khác nhau nhng tựu chung lại ta thấy khi nói đến chất
lợng sản phẩm cần chú ý đến các điểm sau:
- Chất lợng sản phẩm phải đợc xem xét thông qua các chỉ tiêu đặc trng.
- Chất lợng sản phẩm phải phù hợp với công dụng, với mục đích chế tạo, với
nhu cầu của thị trờng.
- Chất lợng sản phẩm mang tính dân tộc thể hiện ở truyền thống tiêu dùng,
thị hiếu tiêu dùng của ngời dân.
2. Các đặc tính của chất lợng sản phẩm.
2.1.Chất lợng sản phẩm là một phạm trù kinh tế xã hội kỹ thuật.
Tuy chất lợng sản phẩm đợc tạo nên phụ thuộc phần lớn vào công nghệ kỹ
thuật nhng nó phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội. Trong các xã hội khác
nhau với cơ chế quản lý kinh tế khác nhau thì quan niệm về chất lợng sản phẩm
cũng khác nhau. Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, chất lợng chỉ đơn thuần
là thoả mãn các chỉ tiêu kỹ thuật nhng trong cơ chế thị trờng chất lợng sản
phẩm phải thoả mãn nhu cầu ngời tiêu dùng. Khi kinh tế phát triến,nhu cầu xã
hội ngày càng tăng cả về mặt lợng và mặt chất, dẫn đến sự thay đổi trong nhận
thức của ngời tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm hoặc một phơng án tiêu dùng.
Do đó yêu cầu về chất lợng sản phẩm cũng thay đổi theo. Vì vậy nói đến chất l-
ợng là nói đến sự kết hợp 3 yếu tố kinh tế- xã hội- kỹ thuật.
2.2.Chất lợng sản phẩm có tính tơng đối.
Chất lợng sản phẩm luôn thay đổi theo không gian và thời gian, chất lợng
của hôm nay và chất lợng của ngày mai là khác nhau, ở thời điểm này có thể là
cao nhng ở thời điểm khác lại là thấp. Chất lợng là yếu tố động, vì vậy nó chỉ có
tính tơng đối. Chất lợng sản phẩm cũng phụ thuộc vào loại thị trờng, sản phẩm
có thể là chất lợng cao ở thị trờng này nhng lại không đợc đánh giá cao ở thị tr-
ờng khác. Nó phụ thuộc vào không gian từng thị trờng bao gồm các yếu tố văn
hoá- kinh tế- xã hội.
2.3.Chất lợng sản phẩm có thể đo lờng và đánh giá thông qua các chỉ
tiêu và tiêu chuẩn cụ thể.
Thực tế cho thấy rằng không thể tạo ra một mức chất lợng sản phẩm cao
nếu chỉ dựa trên những ý tởng, những nhận xét về mặt định tính đối với các
nguyên nhân gây ra những sai lệch về chất lợng. Phát triển kỹ thuật đo lờng và
sử dụng các phơng pháp thống kê để thu thập phân tích là một đặc tính của chất
lợng sản phẩm
7

Mỗi sản phẩm đợc đặc trng bằng các tính chất, đặc điểm riêng biệt nội tại
của bản thân sản phẩm đó. Những đặc tính đó phản ánh tính khách quan của sản
phẩm thể hiện trong quá trình hình thành và sử dụng sản phẩm đó. Những đặc
tính khách quan này phụ thuộc rất lớn vào trình độ thiết kế quy định cho sản
phẩm đó. Mỗi tính chất đợc biểu thị bởi các chỉ tiêu cơ lý hoá nhất định có thể
đo lờng và đánh giá đợc. Vì vậy nói đến chất lợng sản phẩm phải đánh giá
thông qua hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể. đặc điểm này khẳng định những
quan điểm sai lầm cho rằng chất lợng sản phẩm là cái không thể đo lờng đánh
giá đợc.
2.4.Chất lợng sản phẩm biểu thị ở hai cấp độ và phản ánh hai mặt
khách quan và chủ quan hay còn gọi là hai loại chất lợng:
Chất lợng tuân thủ thiết kế và chất lợng của thiết kế.
Chất lợng trong tuân thủ thiết kế thể hiện ở mức độ chất lợng sản phẩm đạt
đợc so với các tiêu chuẩn thiết kế đã đề ra. Khi sản phẩm sản xuất ra có những
đặc tính kinh tế kỹ thuật càng gần với tiêu chuẩn thiết kế thì chất lợng càng cao
đợc phản ánh thông qua các chỉ tiêu nh tỷ lệ phế phẩm, sản phẩm hỏng loại bỏ,
sản phẩm không đạt yêu cầu thiết kế. Chất lợng này có tác động rất lớn đến khả
năng giảm chi phí, là cơ sở để cạnh tranh về giá.
Chất lợng của thiết kế hay còn gọi là chất lợng trong sự phù hợp thể hiện
mức độ phù hợp của sản phẩm đối với nhu cầu khách hàng. Chất lợng ở đây đợc
thể hiện thông qua các thuộc tính có tính thu hút khách hàng, thoả mãn nhu cầu
của khách hàng. Vì vậy, chất lợng trong sự phù hợp phụ thuộc rất lớn vào trình
độ thiết kế, trình độ thiết kế càng cao thì chất lợng càng cao; nó phản ánh
những đặc tính chủ quan vì nó phụ thuộc vào những nhận thức của khách hàng.
Khi nâng cao chất lợng thiết kế sẽ có tác động rất lớn đến khả năng tiêu thụ của
sản phẩm và khi tăng chất lợng thì chi phí tăng theo.
2.5.Chất lợng sản phẩm của mỗi loại sản phẩm đợc xác định trong
những điều kiện sử dụng cụ thể với những mục đích cụ thể tơng ứng với
một đối tợng tiêu dùng.
Chất lợng sản phẩm phải thoả mãn đợc nhu cầu ngời tiêu dùng trong những
điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về kinh tế kỹ thuật của mỗi nớc, mỗi vùng. Trong
kinh doanh không thể có chất lợng nh nhau cho tất cả các vùng mà cần căn cứ
vào hoàn cảnh cụ thể để đề ra các phơng án chất lợng cho phù hợp về mọi mặt
với yêu cầu của khách hàng.
8

3.Phân loại chất lợng sản phẩm:
* Chất lợng sản phẩm đợc phản ánh thông qua các loại chất lợng sau:
- Chất lợng thiết kế là: giá trị riêng của các thuộc tính đợc phác thảo ra trên
cơ sở nghiên cứu trắc nghiệm của sản xuất và tiêu dùng.Đồng thời có so sánh
với các hàng tơng tự của nhiều nớc.Chất lợng thiết kế là giai đoạn đầu của quá
trình hình thành chất lợng sản phẩm .
- Chất lợng tiêu chuẩn là: giá trị riêng của những thuộc tính của sản phẩm
đợc thừa nhận, đợc phê chuẩn trong quản lý chất lợng sản phẩm. Chất lợng tiêu
chuẩn là nội dung tiêu chuẩn của một loại hàng hoá. Chất lợng tiêu chuẩn có ý
nghĩa pháp lệnh buộc phải thực hịên nghiêm chỉnh trong quá trình quản lý chất
lợng. Chất lợng tiêu chuẩn có nhiều loại:
Tiêu chuẩn quốc tế là: những tiêu chuẩn do tổ chức chất lợng quốc tế đề ra
đợc các nớc chấp nhận và xem xét áp dụng cho phù hợp với điều kiện của từng
nớc.
+ Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) là: tiêu chuẩn nhà nớc,đợc xây dựng trên
cơ sở nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật,áp dụng kinh nghiệm
tiêu biểu và tiêu chuẩn quốc tế phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam.
+ Tiêu chuẩn nghành (TCN) là: các chỉ tiêu về chất lợng do các Bộ,các
tổng cục xét duyệt, ban hành, có hiệu lực đối với tất cả các đơn vị trong
nghành,địa phơng đó.
+ Tiêu chuẩn doanh nghiệp (TCDN) là: các chỉ tiêu về chất lợng do các
doanh nghiệp tự nghiên cứu và áp dụng trong doanh nghiệp mình cho phù hợp
với điều kiện riêng của doanh nghiệp đó.
- Chất lợng thực tế là: chỉ mực độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản
phẩm, bao gồm chất lợng thực tế trong sản xuất và chất lợng thực tế trong tiêu
dùng.
- Chất lợng cho phép là: dung sai cho phép mức sai lệch giữa chất lợng thực
tế với chất lợng tiêu chuẩn. Chất lợng cho phép phụ thuộc vào điều kiện kỹ
thuật của từng nớc, phụ thuộc vào trình độ lành nghề của công nhân. Khi chất l-
ợng thực tế của sản phẩm vợt quá dụng sai cho phép thì hàng hoá sẽ bị xếp vào
loại phế phẩm.
- Chất lợng tối u là: biểu thị khả năng thoả mãn toàn diện nhu cầu của thị
trờng trong những điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấp nhất.Thờng
9

ngời ta phải giải quyết đợc mối quan hệ chi phí và chất lợng sao cho chi phí
thấp nhất mà chất lợng vẫn đảm bảo.
Biểu đồ 1: Sơ đồ Siro về mối quan hệ giữa chất lợng và chi phí
Chi phí
(b)

(a)
Q1 Q2 Q3 Chất lợng
(a): là đờng cong giá bán sản phẩm.
(b): là đờng cong gía thành sản phẩm.
(Q1): chất lợng thấp giá thành thấp.
(Q2): ứng với khoảng cách lớn nhất giữa hai đờng cong là mức chất lợng có
lợi nhuận lớn nhất.
(Q3): sản phẩm có chất lợng cao nhng lợi nhuận không cao.
Quyết định mức chất lợng nh thế nào cho phù hợp là một vấn đề quan
trọng. Điều đó phụ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của từng nớc, của từng vùng
và phụ thuộc vào mục tiêu của doanh nghiệp.
4.Các chỉ tiêu phản ánh chất lợng sản phẩm.
Chỉ tiêu chất lợng là đặc trng định lợng của các thuộc tính cấu thành nên
chất lợng sản phẩm. Những đặc trng này đợc xem xét đánh giá trong những
điều kiện nhất định của quá trình hình thành và sử dụng sản phẩm. Khi đề cập
đến chỉ tiêu chất lợng sản phẩm của hàng hoá, ngời ta thờng phân ra hai hệ
thống chỉ tiêu chất lợng:
Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu xác định chất lợng trong chiến lợc phát
triển kinh tế.
Hệ thống các chỉ tiêu kiểm tra đánh giá chất lợng sản phẩm hàng hóa
trong sản xuất kinh doanh.
10

4.1. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu xác định chất lợng trong chiến l-
ợc phát triển kinh tế.
Thờng có các nhóm chỉ tiêu sau:
- Chỉ tiêu công dụng: đây là nhóm chỉ tiêu đặc trng cho các thuộc tính sử
dụng của sản phẩm hàng hoá nh giá trị dinh dỡng, hệ số tiêu hoá, độ bền thời
gian sử dụng.
- Chỉ tiêu công nghệ: Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trng cho qui trình chế tạo
sản phẩm có chất lợng cao, tiết kiệm nguyên vật liệu, hạ chi phí.
- Chỉ tiêu thống nhất hoá: Đặc trng cho tính lắp lẫn của các linh kiện, các
phụ tùng.
- Chỉ tiêu độ tin cậy: Đặc trng cho tính chất của sản phẩm đảm bảo các
thông số kỹ thuật làm việc trong khoảng thời gian nhất định.
- Chỉ tiêu an toàn: Đảm bảo thao tác an toàn đối với công cụ sản xuất cũng
nh đồ dùng sinh hoạt trong gia đình.
- Chỉ tiêu kích thớc: Thể hiện gọn nhẹ, thuận tiện trong sử dụng, vân
chuyển.
- Chỉ tiêu sinh thái: Đặc trng các tính chất của sản phẩm có khả năng tạo ra
những khí thải không gây độc hại đến môi trờng.
- Chỉ tiêu lao động: Đề cập đến những quan hệ giữa ngời sử dụng với sản
phẩm.
- Chỉ tiêu thẩm mỹ: Đặc trng một sản phẩm đẹp phải có tính chân thật,
mang trong mình các yếu tố hiện đaị, sáng tạo, đồng thời hình dáng kiểu cách
cũng nh trang trí hoạ tiết phải thể hiện tính cách dân tộc.
- Chỉ tiêu về sáng chế phát minh: Đặc trng cho khả năng giữ bản quyền.
4.2. Hệ thống các chỉ tiêu kiểm tra đánh giá chất lợng sản phẩm hàng
hóa trong sản xuất kinh doanh.
- Nhóm chỉ tiêu sử dụng bao gồm: Thời gian sử dụng, mức độ an toàn
trong sử dụng, khả năng sửa chữa thay thế các chi tiết, hiệu quả sử dụng. Đây là
nhóm chỉ tiêu chất lợng mà ngời tiêu dùng khi mua hàng thờng quan tâm để
đánh giá chất lợng sản phẩm hàng hoá.
- Nhóm chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ: Đây là nhóm chỉ tiêu mà các cơ quan
nghiên cứu thiết kế, sản xuất, kinh doanh thờng dùng để đánh giá giá trị sử
dụng của sản phẩm hàng hoá. Các chỉ tiêu kích thớc, chỉ tiêu cơ lý, chỉ tiêu
thành phần hoá học.
11

- Nhóm chỉ tiêu hình dáng trang trí thẩm mỹ: Nhóm này bao gồm các chỉ
tiêu về hình dáng sản phẩm, tính chất các đờng nét, sự phối hợp của các yếu tố
tạo hình chất lợng trang trí, mằu sắc, tính thời trang, tính thẩm mỹ.
- Nhóm các chỉ tiêu kinh tế: Bao gồm chi phí sản xuất, giá cả, chi phí cho
quá trình sử dụng.
Các chỉ tiêu chất lợng sản phẩm đã nêu không tồn tại độc lập tách rời mà
có liên quan chặt chẽ với nhau. Vai trò ý nghĩa của từng chỉ tiêu rất khác nhau
đối với các sản phẩm khác nhau. Mỗi loại sản phẩm sẽ có những chỉ tiêu mang
tính trội và quan trọng hơn những chỉ tiêu khác. Mỗi doanh nghiệp phải căn cứ
vào đặc điểm sử dụng của sản phẩm và nhiều yếu tố nh tình hình sản xuất, quan
hệ cung cầu, điều kiện xã hội mà chọn những chỉ tiêu chủ yếu và những chỉ tiêu
bổ sung cho thích hợp. Hiện nay, một sản phẩm đợc coi là có chất lợng cao
ngoài chỉ tiêu an toàn đối với ngời sử dụng và xã hội, môi trờng ngày càng quan
trọng, trở thành bắt buộc đối với các doanh nghiệp.
Để sản xuất kinh doanh một sản phẩm nào đó doanh nghiệp phải xây dựng
tiêu chuẩn chất lợng sản phẩm, phải đăng ký và đợc các cơ quan quản lý chất l-
ợng nhà nớc ký duyệt. Chất lợng sản phẩm của doanh nghiệp phải đạt mức chất
lợng đã đăng ký, đó là cơ sở để kiểm tra đánh giá sản phẩm sản xuất.
Ngoài ra, để đánh giá và phân tích tình hình thực hiện chất lợng giữa các
bộ phận, giữa các doanh nghiệp đối với hầu hết các loại sản phẩm ta còn có các
chỉ tiêu cụ thể sau:
* Tỷ lệ sai hỏng: để phân tích tình hình sai hỏng trong sản xuất.
Dùng thớc đo hiện vật, ta có.
Số lợng sản phẩm sai hỏng
Tỷ lệ sai hỏng = ì 100
Tổng số sản phẩm sản xuât
Trong đó sản phẩm sai hỏng bao gồm sản phẩm hỏng có thể sửa chữa đợc
và sản phẩm hỏng không thể sửa chữa đợc.
Dùng thớc đo giá trị ta có.
Chi phí sản xuất sản phẩm hỏng
Tỷ lệ sai hỏng = ì 100
Tổng chi phí sản xuất sản phẩm
12

*Tỷ lệ đạt chất lợng:
Số sản phẩm đạt chất lợng.
Tỷ lệ đạt chất lợng = ì 100
Tổng sản phẩm sản xuất
* Hệ số thiệt hại sản phẩm hỏng:
Thiệt hại sản phẩm hỏng + Thiệt hại sửa chữa sản phẩm hỏng sửa chữa đợc
H
h
= ì100
Tổng chi phí sản xuất sản phẩm
5.Các nhân tố tác động đến chất lợng sản phẩm.
5.1. Nhóm nhân tố bên ngoài.
a. Nhu cầu thị trờng
Nhu cầu là xuất phát điểm của quá trình quản lý chất lợng tạo lực hút, định
lợng cải tiến và hoàn thiện chất lợng sản phẩm. Cơ cầu, tính chất, đặc đỉêm và
xu hớng vận động của nhu cầu tác động trực tiếp đến chất lợng sản phẩm. Chất
lợng sản phẩm có thể đợc đánh giá cao ở thị trờng này nhng lại không đợc đánh
gía cao ở thị trờng khác. Điều đó đòi hỏi phải tiến hành nghiêm túc, thận trọng
công tác nghiên cứu nhu cầu thị trờng, phân tích môi trờng kinh doanh, xác
định chính xác nhận thức của khách hàng, thói quen, truyền thống, phong tục,
tập quán, văn hóa, lối sống, mục đích sử dụng sản phẩm và khả năng thanh
toán nhằm đa ra nhứng sản phẩm phù hợp với từng loại thị trờng.
Thông thờng khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm thì yêu
cầu của ngời tiêu dùng cha cao, ngời ta cha quan tâm tới chất lợng sản phẩm.
Nhng khi đời sống xã hội đợc cải thiện thì đòi hỏi về chất lợng sản phẩm sẽ
tăng cao, ngoài tính năng sử dụng còn có giấ trị thẩm mỹ. Ngời tiêu dùng có thể
chấp nhận giá cao để có đợc những sản phẩm ng ý.
Chính vì vậy, các nhà sản xuất phải sản xuất những sản phẩm có chất lợng
đáp ứng đợc nhu cầu thị trờng. Lúc đó, việc nâng cao chất lợng sản phẩm mới đi
đúng hớng.
b. Trình độ tiến bộ khoa học công nghệ.
13

Trong thời đại ngày nay không có sự tiến bộ kinh tế, xã hội nào lại không
gắn liền với tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới. Bắt đầu từ cuộc cách
mạng khoa học công nghệ lần thứ nhất, chủng loại và chất lợng sản phẩm
không ngừng thay đổi với tốc độ tơng đối nhanh. Tiến bộ khoa học công nghệ
có tác động nh một lực đẩy tạo khả năng đa chất lợng sản phẩm không ngừng
tăng lên. Nhờ khả năng to lớn của tiến bộ khoa học công nghệ đã sáng chế ra
những sản phẩm mới, tạo ra và đa vào sản xuất với công nghệ mới có các chỉ
tiêu kinh tế kỹ thuật cao hơn, thay thế nguyên liệu mới tốt hơn và rẻ hơn, hình
thành phơng pháp và phơng tiện kỹ thuật quản trị tiên tiến góp phần giảm chi
phí đồng thơì nâng cao chất lợng sản phẩm.
c. Cơ chế quản lý
Khả năng cải tiến và nâng cao chất lợng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp
phụ thuộc rất chặt chẽ vào cơ chế quản lý của mỗi nớc. Cơ chế quản lý vừa là
môi trờng vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phơng hớng, tốc độ cải tiến và
nâng cao chất lợng sản phẩm ở các doanh nghiệp. Kế hoạch hoá phát triển kinh
tế cho phép xác định trình độ chất lợng và mức chất lợng tối u, xác định cơ cấu
mặt hàng, xây dựng chiến lợc con ngời trong tổ chức phù hợp với đờng lối phát
triển chung.
Hệ thống giá cả cho phép các doanh nghiệp xác định đúng giá trị sản phẩm
của mình, doanh nghiệp có thể xây dựng các chiến lợc cạnh tranh và tìm mọi
cách nâng cao chất lợng sản phẩm mà không sợ bị chèn ép về giá.
Chính sách đầu t quyết định quy mô và hớng phát triển của sản xuất. Dựa
vào đó các nhà sản xuất có kế hoạch đầu t cho công nghệ, huấn luyện đào tạo
để nâng cao năng suất lao động và chất lợng sản phẩm.
Chính sách thơng mại về chất lợng tổ chức hệ thống quản lý chất lợng đều
có những vai trò nhất định đối với chất lợng sản phẩm của các doanh nghiệp.
Tóm lại thông qua cơ chế, chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nớc điều kiện
kích thích:
- Tính độc lập, tự chủ sáng tạo trong cải tiến chất lợng sản phẩm ở các
doanh nghiệp
- Hình thành môi trờng thuận lợi cho việc huy động công nghệ mới, tiếp thu
ứng dụng những phơng pháp quản trị chất lợng hiện đại.
- Sự cạnh tranh công bằng, lành mạnh, xoá bỏ sức ỳ và tâm lý ỷ lại, không
ngừng phát huy sáng kiến cải tiến hoàn thiện chất lợng sản phẩm.
5.2. Nhóm nhân tố bên trong.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét