CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. Khái quát chung về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI- Foreign Direct
Investment)
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt
Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt
Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí
nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định
của luật này”.
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là một khoản đầu
tư với những quan hệ, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư
trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế
khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong
việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó.
Hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) cũng
đưa ra một khái niệm về FDI. Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được
cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư
trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực
tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI. Cụ thể, FDI gồm có 3 bộ
phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty.
Trong đó:
- Vốn đầu tư cổ phần: là cổ phần của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài
mua từ doanh nghiệp ở nước tiếp nhận đầu tư, không phải cổ phần của doanh
nghiệp trong nước tại nước đi đầu tư.
5
- Thu nhập tái đầu tư: là cổ tức không được chuyển cho nhà đầu tư
nước ngoài mà được giữ lại nhằm mục đích tái đầu tư.
- Các khoản vay trong công ty: là các khoản vay ngắn hạn và dài hạn
giữa công ty mẹ và công ty thành viên.
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa: đầu tư trực tiếp nước ngoài là
người sở hữu tại nước này hoặc mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của
nước khác. Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế
của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đối với thực thể kinh tế ấy hoặc
tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy.
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “một
doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc
không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10%
cổ phiếu hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ
định thực hiện quyền kiểm soát công ty”. Tuy nhiên không phải tất cả các
quốc gia đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định FDI. Trong thực tế có
những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ
hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong
khi nhiều lúc lớn hơn vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp.
Hoa Kỳ là một trong những nước tiếp nhận đầu tư và tiến hành đầu tư
lớn nhất trên thế giới cũng đưa ra định nghĩa về FDI: “FDI là bất kỳ dòng vốn
nào thuộc sở hữu đa phần của công dân hoặc công ty của nước đi đầu tư có
được từ việc cho vay hoặc dùng để mua sở hữu của doanh nghiệp nước
ngoài” và Hoa Kỳ coi việc sở hữu đa phần chỉ cần chiếm 10% giá trị của
doanh nghiệp nước ngoài.
Có thể nhận biết FDI theo quan điểm Hoa Kỳ theo bảng sau:
6
Bảng 1.1: Định nghĩa FDI của Hoa Kỳ
Đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư gián tiếp nước ngoài
Công ty Alcoa của Hoa Kỳ mua 50%
cổ phần của một công ty khai khoáng
của Jamaica.
Công ty Alcoa của Hoa Kỳ mua 5%
cổ phần của một công ty khai khoáng
Jamaica
Công ty Ford của Hoa Kỳ cho một chi
nhánh ở Canada vay, trong đó Ford
chiếm 55% cổ phần
Công ty Ford của Hoa Kỳ cho một
chi nhánh ở Canada vay, trong đó
Ford chiếm 8% cổ phần.
Nguồn: International Economics
Peter H.Lindert and Thomas A.pugel
Quan điểm về FDI của Việt Nam theo quy định tại khoản 1 điều 2 Luật
đầu tư nước ngoài được sửa đổi bổ sung năm 2000: “ Đầu tư trực tiếp nước
ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất
kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”,
trong đó nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là tổ chức kinh tế, cá nhân nước
ngoài đầu tư vào Việt Nam.
=> Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư
trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc
gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản
nào vào quốc gia đó để được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát
một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình”.
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế có thể hiểu là tài sản
hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp
đồng và giấy phép có giá trị…), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết
và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái
7
phiếu, giấy ghi nợ…). Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế
có nhân tố nước ngoài.
1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ngoài các đặc điểm vốn có của hoạt động đầu tư, đầu tư trực tiếp nước
ngoài (ĐTTTNN) còn có các đặc điểm sau:
• Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân hoặc tổ chức kinh tế
nước ngoài do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, tự quyết định sản xuất
kinh doanh và tự chịu trách nhiệm theo nguyên tắc “lời ăn lỗ chịu”. Ngoài sự
lưu chuyển của vốn còn có thêm sự luân chuyển công nghệ giữa nước đầu tư
và nước nhận đầu tư.
• Về vốn góp: các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một lượng vốn
“đủ lớn” để họ có quyền trực tiếp tham gia điều phối và quản lý hoạt động sản
xuất kinh doanh. Mức độ “đủ lớn” của nguồn vốn tùy theo quy định của từng
quốc gia.
• Về quyền kiểm soát: quyền kiểm soát của nhà đầu tư đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp. Nếu nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư 100% vốn thì quyền điều hành hoàn toàn thuộc về nhà đầu
tư nước ngoài, có thể trực tiếp hoặc thuê người quản lý. Nếu thành lập liên
doanh thì chủ đầu tư nước ngoài tham gia điều hành tùy theo mức vốn góp
của mình.
• Về tỷ lệ phân chia lợi nhuận: dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh,
lợi nhuận được phân chia dựa trên tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định sau khi
đã trừ đi các khoản phải đóng góp khác. Do vậy thu nhập của nhà đầu tư nước
ngoài thường không ổn định.
• Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường mang tính rủi ro cao, thời gian
thu hồi vốn lâu và khó thu hồi vốn hơn đầu tư gián tiếp do phần lớn vốn đầu
tư của nhà đầu tư nằm trực tiếp trong máy móc nhà xưởng tại nước sở tại.
8
1.1.3. Các hình thức và bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Về bản chất, hình thức đầu tư thực chất là hình thức tổ chức kinh doanh
mà nhà đầu tư có thể sử dụng để thực hiện các hoạt động đầu tư. Theo Luật
đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài có thể lựa chọn một trong các hình
thức tổ chức kinh doanh sau:
1.1.3.1. Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh ( Joint Venture Enterprise ) là doanh nghiệp
do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập thành lập tại Việt Nam trên cơ sở
hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài, hoặc là doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên
doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài, trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm
hữu hạn, có tư cách pháp nhân Việt Nam. Mỗi bên liên doanh chỉ chịu trách nhiệm
trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định doanh nghiệp.
Như vậy có thể hiểu doanh nghiệp liên doanh là một hình thức tổ chức
kinh doanh có tính chất quốc tế, hình thành từ những sự khác biệt giữa các
bên về quốc tịch, quản lý, hệ thống tài chính, luật pháp và bản sắc văn hoá;
hoạt động trên cơ sở có sự đóng góp của các bên về vốn, quản lý lao động và
cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũng như rủi ro có thể xảy ra; hoạt động
của liên doanh rất rộng, gồm cả hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch
vụ, hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai.
Đầu tư theo hình thức doanh nghiệp liên doanh có những ưu điểm và
nhược điểm sau:
Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
9
Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, giúp đa dạng hoá sản
phẩm, đổi mới công nghệ, tạo ra thị trường mới và tạo cơ hội cho người lao
động làm việc và học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài.
Nhược điểm: mất nhiều thời gian thương thảo các vấn đề liên quan
đến dự án đầu tư, thường xuất hiện mâu thuẫn trong quản lý điều hành doanh
nghiệp; đối tác nước ngoài thường quan tâm đến lợi ích toàn cầu, vì vậy đôi
lúc doanh nghiệp liên doanh phải chịu thua thiệt vì lợi ích ở nơi khác.; thay
đổi nhân sự ở công ty mẹ có ảnh hưởng tới tương lai phát triển của doanh
nghiệpliên doanh.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài:
Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước
sở tại; được đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lời, lĩnh vực bị cấm
hoặc hạn chế đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; thâm
nhập được những thị trường truyền thống của nước chủ nhà. Không mất thời
gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan
hệ. Chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư.
Nhược điểm: khác biệt về nhìn nhận chi phí đầu tư giữa các bên
đối tác; mất nhiều thời gian thương thảo mọi vấn đề liên quan đến dự án đầu
tư, định giá tài sản góp vốn giải quyết việc làm cho người lao động của đối
tác trong nước; không chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp, dễ bị
mất cơ hội kinh doanh, khó giải quyết trong các vấn đề về tập quán, văn hoá.
1.1.3.2. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài (100% Foreign – Invested
Enterprise) là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn, là
doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài do nhà đầu tư nước
ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả
kinh doanh.
10
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hành quản
lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tuỳ thuộc vào các điều kiện về
môi trường kinh doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về chính trị, kinh
tế, luật pháp, văn hoá, mức độ cạnh tranh…
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân là một thực
thể pháp lý độc lập hoạt động theo luật pháp nước sở tại. Thành lập dưới dạng
công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Đầu tư theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có
những ưu điểm và nhược điểm sau:
Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
Ưu điểm: nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế mặc dù
doanh nghiệp bị lỗ; giải quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ vốn
đầu tư; tập trung thu hút vốn và công nghệ của nước ngoài vào những lĩnh
vực khuyến khích xuất khẩu; tiếp cận được thị trường nước ngoài.
Nhược điểm: khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước
ngoài để nâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kĩ thuật ở các doanh nghiệp
trong nước.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài:
Ưu điểm: độc lập về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp; không
phải chia sẻ lợi nhuận, dễ dàng chuyển nhượng vốn.
Nhược điểm: chủ đầu tư phải chịu toàn bộ rủi ro trong đầu tư; phải
chi phí nhiều hơn cho nghiên cứu tiếp cận thị trường mới; không xâm nhập
được vào những lĩnh vực có nhiều lợi nhuận thị trường trong nước lớn, khó
quan hệ với các cơ quan quản lý Nhà nước nước sở tại.
1.1.3.3. Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh ( Business Co-operation Contract) là văn
bản được ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh,
11
trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên
mà không thành lập pháp nhân mới.
Đặc điểm của hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là:
- Các bên thực hiện các hoạt động kinh doanh trên cơ sở ký kết một
hợp đồng hợp tác mà không hình thành một pháp nhân mới tách biệt với các
bên hợp doanh như hình thức doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài.
- Có sự phân chia kết quả kinh doanh giữa các bên hợp doanh, mỗi bên
được hưởng lợi hay phải chịu lỗ tương ứng theo tỷ lệ vốn góp.
- Các bên hợp doanh thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước sở
tại một cách riêng rẽ. Pháp lý hợp doanh là một thực thể kinh doanh hoạt
động theo luật pháp nước sở tại chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại.
quyền lợi và nghĩa vụ của các bên hợp doanh được ghi trong hợp đồng hợp
tác kinh doanh.
Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh có những ưu điểm
và nhược điểm sau:
Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, thiếu công nghệ, tạo
ra thị trường mới nhưng vẫn đảm bảo được an ninh quốc gia và nắm được
quyền điều hành dự án.
Nhược điểm: khó thu hút đầu tư, chỉ thực hiện được đối với một số
ít lĩnh vực dễ sinh lời.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài:
Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước
sở tại để vào được những lĩnh vực hạn chế đầu tư thâm nhập như thị trường
truyền thống của nước chủ nhà; không mất thời gian và chi phí cho việc
12
nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ; không bị tác động
lớn do khác biệt về văn hoá; chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư.
Nhược điểm: không được trực tiếp quản lý điều hành dự án, quan hệ
hợp tác với đối tác nước sở tại thiếu tính chắc chắn làm các nhà đầu tư e ngại.
1.1.3.4. Đầu tư nước ngoài theo hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT
BOT (xây dựng – kinh doanh - chuyển giao) là một thuật ngữ để chỉ
một số mô hình hay một cấu trúc sử dụng đầu tư tư nhân để thực hiện xây
dựng cơ sở hạ tầng vẫn được dành riêng cho khu vực nhà nước. Trong một dự
án xây dựng BOT, một doanh nhân tư nhân được đặc quyền xây dựng và vận
hành một công trình mà thường do chính phủ thực hiện. Công trình này có thể
là nhà máy điện, sân bay, cầu, cầu đường… Vào cuối giai đoạn vận hành
doanh nghiệp tư nhân sẽ chuyển quyền sở hữu dự án về cho chính phủ. Ngoài
hợp đồng BOT còn có hợp đồng BTO (xây dựng – chuyển giao – kinh
doanh), hợp đồng BT (xây dựng – chuyển giao).
Hợp đồng BOT là văn bản ký kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với
cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng công trình kết
cấu hạ tầng (kể cả mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá công trình) và kinh doanh
trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý, sau đó
chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà.
Hợp đồng xây dựng chuyển giao kinh doanh BTO và hợp đồng xây
dựng chuyển giao BT, được hình thành tương tự như hợp đồng BOT nhưng
có điểm khác là: đối với hợp đồng BTO sau khi xây dựng xong công trình nhà
đầu tư nước ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được Chính phủ nước
chủ nhà dành cho quyền kinh doanh công trình đó hoặc công trình khác trong
một thời gian đủ để hoàn lại toàn bộ vốn đầu tư và có lợi nhuận thoả đáng về
công trình đã xây dựng và chuyển giao.
Đối với hợp đồng BT, sau khi xây dựng xong công trình nhà đầu tư
nước ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được chính phủ nước chủ
13
nhà thanh toán bằng tiền hoặc bằng tài sản nào đó tương xứng với vốn đầu tư
đã bỏ ra và một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý.
Doanh nghiệp được thành lập thực hiện hợp đồng BOT, BTO, BT mặc
dù hợp đồng dưới hình thức doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài nhưng đối tác cùng thực hiện hợp đồng là các cơ quan
quản lý nhà nước ở nước sở tại. Lĩnh vực hợp đồng hẹp hơn các doanh nghiệp
FDI khác, chủ yếu áp dụng cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng; được
hưởng các ưu đãi đầu tư cao hơn so với các hình thức đầu tư khác và điểm
đặc biệt là khi hết hạn hoạt đồng, phải chuyển giao không bồi hoàn công trình
cơ sở hạ tầng đã được xây dựng và khai thác cho nước sở tại.
Đầu tư theo hình thức đầu tư nước ngoài theo hợp đồng BOT, hợp đồng BTO
và hợp đồng BT có những ưu điểm và nhược điểm sau:
Đối với nước tiếp nhận đầu tư::
Ưu điểm: thu hút được vốn đầu tư vào những dự án cơ sở hạ tầng
đòi hỏi vốn đầu tư lớn, do đó giảm được sức ép cho ngân sách nhà nước, đồng
thời nhanh chóng có được công trình kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh giúp khơi
dậy các nguồn lực trong nước và thu hút thêm FDI để phát triển kinh tế.
Nhược điểm: khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý và khó kiểm soát
công trình. Mặt khác, nhà nước phải chịu mọi rủi ro ngoài khả năng kiểm soát
của nhà đầu tư.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài:
Ưu điểm: hiệu quả sử dụng vốn được bảo đảm; chủ động quản lý,
điều hành và tự chủ kinh doanh lợi nhuận, không bị chia sẻ và được nhà nước
sở tại đảm bảo, tránh những rủi ro bất thường ngoài khả năng kiểm soát.
Nhược điểm: việc đàm phán và thực thi hợp đồng BOT thường gặp
nhiều khó khăn, tốn kém nhiều thời gian và công sức.
1.1.3.5. Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding company)
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét