Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Đặt vấn đề
Chủ nghĩa duy vật lịch sự - một bộ phận của Triết học Mác - Lênin - với nội dung
chủ yếu là nhận thức xã hội trong một chỉnh thể và phát hiện những qui luật vận động
và phát triển phổ biến của lịch sử. Một trong những qui luật đó là qui luật về sự phù
hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Đây là quy luật
cơ bản nhất chi phối sự vận động, phát triển của mọi xã hội.
Nớc ta đang xây dựng chủ nghĩa xã hội từ nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ,
lao động thủ công là chủ yếu. Vì vậy, việc nghiên cứu và vận dụng đầy đủ qui luật
chung, cơ bản nói trên vào đặc thù kinh tế - xã hội nớc ta và vấn đề đợc Đảng ta hết sức
coi trọng. Thực tiễn bớc đầu của quá trình xây dựng CNXH ở nớc ta đã khẳng định
những thành tựu to lớn cũng nh đã bộc lộ những tồn tại trong việc nhận thức và vận
dụng qui luật đó.
1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phần một
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển lực lợng sản xuất.
I- Phơng thức sản xuất - sự thống nhất giữa lực lợng sản xuất và
quan hệ sản xuất.
Nền sản xuất xã hội là một thể thống nhất bao gồm nhiều mặt, nhiều mối liên hệ,
trong đó nổi lên hai loại quan hệ cơ bản: quan hệ giữa ngời với tự nhiên, và quan hệ
giữa ngời với ngời. Các Mác viết: "Trong sản xuất, ngời ta không chỉ tác động vào giới
tự nhiên mà còn tác động lẫn nhau nữa, ngời ta không thể sản xuất đợc nếu không kết
hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với
nhau. Muốn sản xuất đợc ngời ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với
nhau và sự tác động của họ vào giới tự nhiên"
(1).
Trong hai mặt đó, một mặt là lực lợng sản xuất và mặt kia là quan hệ sản xuất.
1. Lực lợng sản xuất.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trong mối quan hệ giữa ngời với tự nhiên,
trong sản xuất thì lực lợng sản xuất là biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với tự
nhiên. Còn dới góc độ là kết quả phát triển của thực tiễn xã hội thì lực lợng sản xuất
thể hiện năng lực thực tiễn của con ngời trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Có
thể nói một cách chung nhất về lực lợng sản xuất, là quan hệ kinh tế - kỹ thuật biểu
hiện cách thức, năng lực, trình độ con ngời đạt đợc trong quá trình tác động vào giới tự
nhiên để tạo ra những sản phẩm.
Về kết cấu, lực lợng sản xuất bao gồm ngời lao động với kỹ năng lao động của họ
và t liệu sản xuất (đối tợng lao động và công cụ lao động). Trong đó, ngời lao động là
yếu tố đóng vai trò quyết định. Theo V.I. Lê Nin "lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn
thể nhân loại là công nhân, là ngời lao động. "
(2)
Chính ngời lao động là chủ thể của quá
trình lao động sản xuất, quyết định việc sáng tạo ra và sử dụng t liệu sản xuất để sản
xuất ra của cải vật chất. Sản xuất đợc tiến hành nh thế nào, trớc hết tuỳ thuộc vào thể
chất, tinh thần và trình độ của ngời lao động. Cùng với quá trình phát triển của sản xuất
vật chất, trình độ của ngời lao động không ngừng tăng lên, cơ cấu lao động cũng đợc
thay đổi tơng ứng. Ngày nay với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, khoa học
đang ngày càng trở thành một lực lợng sản xuất trực tiếp; lao động đang biến đổi theo
xu hớng ngày càng trí tuệ hơn, lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò chính yếu trong
lực lợng lao động, hàm lợng chất xám trong sản phẩm ngày càng tăng.
T liệu sản xuất gồm có công cụ lao động và đối tợng lao động. Trong đó công cụ
lao động đóng vai trò quyết định. Trong quá trình lao động sản xuất, công cụ lao động
không ngừng đợc đổi mới và phát triển. Nó là yếu tố đông nhất của lực lợng sản xuất.
Sự biến đổi của công cụ lao động sẽ kéo dài theo làm biến đổi toàn bộ lực lợng sản
xuất và xét đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội.
Có thể nói lực lợng sản xuất bao gồm các yếu tố, nhng không phải là phép cộng
đơn thuần của các yếu tố mà là một hệ thống, trong đó chúng quan hệ chặt chẽ, thống
nhất với nhau.
2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Các yếu tố của lực lợng sản xuất tồn tại trong một kiểu tổ chức, phân công lao
động nhất định. Khi nói đến lực lợng sản xuất, không thể không nói đến tổ chức, phân
công lao động xã hội. Bản thân trình độ phân công lao động xã hội thể hiện rất rõ trình
độ phát triển lực lợng sản xuất.
Sự hình thành và phát triển lực lợng sản xuất mang tính khách quan và liên tục.
C.Mác nói "Ngời ta không đợc tự do lựa chọn lực lợng sản xuất của mình. Vì mọi lực l-
ợng sản xuất là một lực lợng đã đạt đợc, tức là sản phẩm của hoạt động đã qua. Do đó,
lực lợng sản xuất là kết quả của năng lực thực tiễn của con ngời"
(3)
.
2. Quan hệ sản xuất.
Gắn liền với lực lợng sản xuất, đó là quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất là toàn
bộ mối qua nhệ lẫn nhau giữa ngời với ngời trong quá trình sản xuất.
Về kết cấu của quan hệ sản xuất, có thể có những cách tiếp cận khác nhau.
Nếu tiếp cận theo nghĩa các khâu của một quá trình tái sản xuất thì nó bao gồm:
quan hệ sản xuất, quan hệ phân phối, quan hệ trao đổi và tiêu dùng.
Theo nghĩa là các mặt, thì quan hệ sản xuất có 3 mặt. Đó là quan hệ sở hữu đối
với t liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ trong phân phối sản
phẩm sản xuất ra.
Trong 3 mặt của quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất là quan hệ
xuất phát, quan hệ cơ bản, quyết định hai mặt quan hệ còn lại. Có thể nói, coi chiếm
hữu t liệu sản xuất thì ngời đó có quyền tổ chức quản lý sản xuất và phân phối sản
phẩm làm ra.
Trong lịch sử nhân loại, đã có 2 loại hình sở hữu cơ bản là sở hữu t nhân và sở hữu
công cộng. Ngoài ra còn hình thức sở hữu hỗn hợp, đan xen các loại hình cơ bản trên.
Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất tác động đến xác định vai trò, vị trí của con
ngời trong sản xuất, đến điều khiển quá trình sản xuất; do đó trực tiếp tác động đến sản
xuất, thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất phát triển. Quan hệ tổ chức quản lý do quan hệ
sở hữu quyết định và nói chung phải thích ứng với quan hệ sở hữu.
Tuy nhiên, có trờng hợp quan hệ tổ chức và quản lý lại không thích ứng với quan
hệ sở hữu, làm biến dạng quan hệ sở hữu. Đối với thực tiễn nớc ta hiện nay, đây là vấn
đề đang đặt ra cần phải quan tâm giải quyết, vì nó có ý nghĩa quan trọng đối với việc
phát triển sản xuất, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.
Quan hệ phân phối sản phẩm sản xuất ra trực tiếp tác động đến lợi ích con ngời,
nên tác động đến thái độ của con ngời trong quá trình sản xuất. Bởi vì lợi ích là mục
đích, là động lực của quá trình sản xuất, của con ngời. Quan hệ phân phối sản phẩm do
quan hệ về sở hữu t liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản lý sản xuất chi phối, song nó
cũng có tác động tích cực trở lại hai mặt đó. Từ đó cho thấy, để xây dựng một quan hệ
sản xuất mới đòi hỏi phải giải quyết một cách đồng bộ các yếu tố cấu thành của nó.
Sự vận động phát triển của xã hội gắn liền với sự thay thế lẫn nhau của các quan
hệ sản xuất. Mặc dầu mỗi chế độ xã hội thờng đan xen nhiều hình thức quan hệ sản
xuất, nhng trong đó có hình thức giữ vai trò thống trị, chi phối, đặc trng cho quan hệ
sản xuất của xã hội đó, còn các quan hệ sản xuất khác chỉ là tàn d hoặc mầm mống.
Quan hệ sản xuất do con ngời tạo ra, tuy nhiên nó không phải hình thành theo ý
muốn chủ quan: quan hệ sản xuất hình thành một cách khách quan trong quá trình sản
xuất, không theo ý muốn chủ quan của con ngời.
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
3. Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Không phải là hai bộ phận độc lập, mà là 2 loại quan hệ, thống nhất chặt chẽ với
nhau trong quá trình sản xuất, trong một thực thể thống nhất, cấu thành phơng thức sản
xuất. Về mặt nhận thức luận, đó là 2 góc độ tiếp cận để xem xét một thực thể. Tức là,
nếu phân tích phơng thức sản xuất theo quan hệ giữa con ngời với giới tự nhiên thì đó
là phân tích lực lợng sản xuất; nếu phân tích theo quan hệ giữa con ngời với con ngời
thì đó là phân tích quan hệ sản xuất.
Phơng thức sản xuất là cách thức con ngời tiến hành sản xuất vật chật trong từng
giai đoạn lịch sử nhất định. Mỗi xã hội đợc đặc trng bằng một phơng thức sản xuất nhất
định. Phơng thức sản xuất quyết định tất cả cá mặt của đời sống xã hội. Sự thay thế kế
tiếp nhau của các phơng thức sản xuất trong lịch sử quyết định phát triển xã hội loài
ngời từ thấp đến cao. C.Mác nói: "Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con
ngời ta có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ - tức
những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất
định của lực lợng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp
thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực, trên đó xây dựng lên một
kiến trúc thợng tầng pháp lý và chính trị, và tơng ứng với cơ sở thực tại đó thì có những
hình thái ý thức xã hội nhất định. Phơng thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các
quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung"
"4"
II. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát
triển lực lợng sản xuất.
Phơng thức sản xuất vận động phát triển, tổng thể kế tiếp nhau từ thấp đến cao và
quyết định sự vận động và phát triển xã hội lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai
quan hệ nằm trong một thực thế thống nhất là phơng thức sản xuất. Chúng qui định chế
ớc, tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau phát triển. Chính sự tác động qua lại đó tạo
thành qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất. Đây là qui luật vận động phát triển của phơng thức sản xuất, đồng thời cũng
là qui luật cơ bản của sự vận động, phát triển xã hội.
Trong mối quan hệ giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất thì lực lợng sản
xuất là nội dung, quyết định quan hệ sản xuất; còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội
của sản xuất, phải phù hợp với trình độ lực lợng sản xuất và có sự tác động tích cực trở
lại đối với lực lợng sản xuất.
Trong mỗi quan hệ trên thì lực lợng sản xuất thờng xuyên biến đổi, còn quan hệ
sản xuất tơng đối ổn định. Do yêu cầu tòn tại và phát triển của xã hội, sản xuất vật chất
không ngừng phát triển. Trong quá trình sản xuất, các yếu tố của lực lợng sản xuất
không ngừng đổi mới và tác động qua lại, làm cho lực lợng sản xuất biến đổi, phát
triển. Sự phát triển của lực lợng sản xuất đợc đánh dấu bằng trình độ của lực lợng sản
xuất. Đó là sự thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời và biểu hiện ở trình
độ của công cụ lao động, trình độ kinh nghiệm, kỹ năng ngời lao động, trình độ phân
công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất.
Gắn với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là tính chất của nó. Trong lịch sử
xã hội, lực lợng sản xuất phát triển từ chỗ có tính chất cá nhân, lao động thủ công lên
tính chất xã hội dựa trên nền tảng công cụ cơ khí, hiện đại. Ngày nay, tính chất xã hội
đạt ở trình độ cao nên có tính quốc tế.
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Sự vận động, phát triển của lực lợng sản xuất quyết định, làm thay đổi quan hệ
sản xuất cho phù hợp với nó. Khi một phơng thức sản xuất ra đời thì quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển lực lợng sản xuất, nó là hình thức phát triển của lực lợng
sản xuất. Sự phát triển của lực lợng sản xuất đến một trình đọ nhất định làm cho quan
hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với trình độ lực lợng sản xuất. Khi
đó quan hệ sản xuất trở nên kìm hãm lực lợng sản xuất phát triển. Do yêu cầu khách
quan của sự phát triển lực lợng sản xuất, tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất và
bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ mới của lực lợng sản xuất để thúc đẩy
lực lợng sản xuất tiếp tục phát triển. Điều đó cũng có nghĩa là thay thế phơng thức sản
xuất cũ bằng phơng thức sản xuất mới tiến bộ hơn.
Quan hệ sản xuất có tính độc lập tơng đối và tác động trở lại sự phát triển của lực
lợng sản xuất.
Quan hệ sản xuất qui định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con
ngời trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và
ứng dụng khoa học công nghệ Và do đó, tác động đến sự phát triển của lực lợng sản
xuất. Là hình thức xã hội của lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
phát triển lực lợng sản xuất là quan hệ sản xuất cho phép kết hợp một cách tối u ngời
lao động với t liệu sản xuất trong quá trình sản xuất, do đó nó là động lực thúc đẩy lực
lợng sản xuất phát triển. Ngợc lại quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ phát
triển lực lợng sản xuất, tức, hoặc là trở nên lỗi thời, lạc hậu, hoặc là có những yếu tố v-
ợt trớc so với trình độ phát triển lực lợng sản xuất, đều kìm hãm lực lợng sản xuất phát
triển. Tuy nhiên, khi quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ phát triển lực lợng
sản xuất thì sớm hay muộn quan hệ sản xuất cũ tất yếu sẽ đợc thay thế bằng quan hệ
sản xuất mới phù hợp với lực lợng sản xuất để thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển.
Nh vậy, bằng sự tác động biện chứng của lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất,
trong đó lực lợng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, còn quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ phát triển lực lợng sản xuất, làm cho phơng thức sản xuất vận động và phát
triển. Đó cũng chính là qui luật về sự vận động và phát triển của xã hội. Quy luật cho ta
thấy để phát triển sản xuất, phải phát triển lực lợng sản xuất. Phát triển lực lợng sản
xuất đòi hỏi phải xác lập quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lợng sản xuất. Quan
hệ sản xuất nh thế nào không phải theo ý muốn chủ quan mà phải căn cứ vào trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phần hai
Vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp trình độ
phát triển lực lợng sản xuất trong quá trình xây
dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định h-
ớng XHCN ở nớc ta
I- Xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
định hớng XHCN ở nớc ta.
Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nớc ta, Đảng ta khẳng
định: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau. Đó là qui luật phát triển
của cách mạng Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đờng lốn cách mạng của Đảng. Chủ
nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: do nhân dân lao động làm chủ, có
một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lợng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu
về các t liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con
ngời đợc giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, cùng tiến bộ, có quan hệ hữu nghị và hợp tác
với nhân dân tất cả các nớc trên thế giới. Mục tiêu của chúng ta là: "Xây dựng một nớc
Việt Nam dân giàu, nớc mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"
(5).
"Con ngời đi lên của nớc ta là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ
TBCN, tức bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thợng
tầng TBCN, nhng tiếp tục, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt đợc dới chế độ
TBCN, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lợng sản xuất, xây
dựng nền kinh tế hiện đại"
(6)
.
Trong quá trình xây dựng CNXH ở nớc ta, Đảng ta và Nhà nớc ta chủ trơng thực
hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN.
Ngày nay, tất cả các nớc đều phải xây dựng và phát triển kinh tế thị trờng. Kinh tế
thị trờng là thành tựu chung của văn minh nhân loại. Nó là kết quả của sự phát triển lực
lợng sản xuất đến một trình độ nhất định, kết quả của quá trình phân công lao động xã
hội, của đa dạng hoá các hình thức sở hữu, đồng thời nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy
lực lợng sản xuất phát triển.
Tuy nhiên, trong chế độ xã hội khác nhau, kinh tế thị trờng đợc sử dụng với mục
đích khác nhau. Trong các nớc t bản, đó là kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa. ở nớc ta,
đó là kinh tế thị trờng định hớng XHCN.
Theo quan điểm của Đảng ta, kinh tế thị trờng định hớng XHCN có nhiều hình
thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo;
kinh tế Nhà nớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc.
Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN vừa phù hợp với xu
hớng phát triển chung của nhân loại vừa phù hợp với yêu cầu phát triển lực lợng sản
xuất ở nớc ta, với yêu cầu của quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ kết hợp với
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. "Mục đích của nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN và phát triển lực lợng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chật kỹ
thuật của CNXH, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lợng sản xuất hiện đại gắn
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả 3 mặt sở hữu, quản lý và phân
phối"
(7)
.
Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta đã đợc Đảng và Nhà nớc ta khẳng
định và thể hiện bằng đờng lối chính sách và các giải pháp thực hiện. Chúng ta thừa
nhận trong những điều kiện nhất định, sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế với nhiều
hình thức sở hữu khác nhau là khách quan và cần thiết để tập trung mọi nguồn lực cho
phát triển lực lợng sản xuất, phát huy và đổi mới những thành tựu của cách mạng khoa
học công nghệ thế giới và trong nớc.
Định hớng XHCN là mục tiêu đi tới, không phải ngày một ngày hai có ngay đợc.
Cũng nh xu thế chung ngày nay, phát triển kinh tế thị trờng không thể tách rời vai trò
quản lý của Nhà nớc. Đặc biệt là trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế hoá ngày
càng tăng lên, vai trò của Nhà nớc ngày càng đợc đặt ra. ở Việt Nam, "Nhà nớc ta là
Nhà nớc XHCN quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lợc, qui hoạch, chính sách,
sử dụng cơ chế thị trờng áp dụng các hình thức kinh tế và phơng pháp quản lý của kinh
tế thị trờng để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn
chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trờng, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao
động, của toàn thể nhân dân"
(8)
.
II- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá để phát triển lực lợng sản xuất,
xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.
Nớc ta tiến lên CNXH từ điểm xuất phát thấp - một nền kinh tế phổ biến là sản
xuất nhỏ, văn minh nông nghiệp, lao động thủ công là chủ yếu. Trong lịch sử thế giới
đã diễn ra, để đi lên một nền kinh tế phát triển, có nhiều cách đi khác nhau: có những
cách đi theo tuần tự, nhng cũng có cách đi riêng, tuỳ thuộc vào đặc thù của mỗi nớc,
mỗi nền kinh tế.
Từ đặc điểm của mình, và để sớm xây dựng đợc một nền kinh tế hiện đại, với
quan điểm đổi mới và cách tiếp cận hiện đại Đảng ta xác định phải tiến hành cách
mạng khoa học công nghệ theo phơng châm: vừa từng bớc, vừa đi tắt đón đầu, nhảy
vọt, tiếp cận với văn minh nhân loại. Vừa phát triển trong nớc, vừa tham gia phân công
lao động khu vực và quốc tế. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá chính là con đờng đúng
đắn để phát triển mạnh mẽ lực lợng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho
CNXH. Đó là nhiệm vụ trọng tâm suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ ra: "Con đờng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá của nớc ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bớc tuần tự,
vừa có bớc nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nớc, tận dụng mọi khả năng để đạt
trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học,
tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn những thành tựu mới về khoa học và công
nghệ, từng bớc phát triển kinh tế tri thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh
thần của ngời Việt Nam; coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là
nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá"
(9)
.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đờng là biện pháp lớn và toàn diện, vừa có
tính trớc mắt, vừa lâu dài. Mục tiêu và hệ quả của CNH, HĐH là tạo một cơ cấu kinh tế
của đất nớc theo xu thế vận động tiến bộ biểu hiện ở mấy nội dung cơ bản là:
1. Sự vận động, chuyển biến từ một "nền kinh tế tự cấp, tự túc" sang nền "kinh tế
hàng hoá" ngày càng có chất lợng cao hơn.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2. Sự vận động chuyển biến của cơ cấu kinh tế nói chung theo hớng "công nghiệp
- nông nghiệp - dịch vụ". Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên, tỷ trọng
nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân giảm xuống trong cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn thì tỷ trọng chăn nuôi và thuỷ sản tăng lên, tỷ trọng trồng trọt giảm
xuống. Thơng mại dịch vụ ngày càng tăng nhanh, toàn diện cả về số lợng, chất lợng và
hình thức hoạt động, dịch vụ.
3. Xu thế biến đổi từ cơ cấu kinh tế khép kín "trong phạm vi quốc gia, thậm chí
trong một địa phơng, lãnh thổ sang "cơ cấu kinh tế mở" trên cả bình diện quan hệ kinh
tế quốc dân, khu vực và trong nớc.
Thực tiễn phát triển kinh tế thế giới, nhất là vấn đề công nghiệp hoá trong thời
gian vừa qua của các nớc "công nghiệp mới "NICs, Trung Quốc, chiếm mình xu thế
vận động biến đổi, phát triển lực lợng sản xuất, xây dựng và phát triển kinh tế bằng con
đờng công nghiệp hoá. Nớc ta có những đặc điểm, điều kiện riêng nên có sự vận dụng
qui luật kinh tế khách quan trong đó có qui luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển lực lợng sản xuất, trên cơ sở có sự nghiên cứu, học tập kinh nghiệm
của các nớc.
Từ Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996, đất nớc ta đã chuyển sang giai đoạn
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá phấn đấu đến năm 2020, nớc ta cơ bản trở
thành một nớc công nghiệp.
Đây cũng là một yếu tố có ý nghĩa quyết định chống lại "nguy cơ tụt hậu xa hơn
về kinh tế so với nhiều nớc trong khu vực và trên thế giới". Sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nớc ta chỉ thực sự thành công chừng nào thực hiện thành công sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Kết luận
Mỗi xã hội đợc đặc trng bằng một phơng thức sản xuất nhất định. Phơng thức sản
xuất quyết định tất cả các mặt của đời sống xã hội: từ kinh tế đến chính trị, văn hoá, xã
hội. Phơng thức sản xuất là thống nhất chặt chẽ giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản
xuất. Sự tác động qua lại biện chứng giữa 2 mặt đó là động lực vận động, phát triển của
phơng thức sản xuất.
Chính sự tác động qua lại đó tạo thành qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với trình độ phát triển lực lợng sản xuất.
Qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển lực lợng sản
xuất cho thấy để phát triển sản xuất, xây dựng nền kinh tế phải phát triển lực lợng sản
xuất. Phát triển lực lợng sản xuất đòi hỏi phải xác lập quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ lực lợng sản xuất. Đối với mỗi nớc khác nhau để phát triển kinh tế, cần có sự
nghiên cứu, vận dụng khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm, điều kiện của mình. ở nớc ta,
Đảng ta chủ trơng xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Bằng
con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nớc ta đã và đang từng bớc xác lập và xây
dựng nền kinh tế hiện đại. Đờng lối đổi mới của Đảng đã mang lại những thành tựu bớc
đầu và tiếp tục đa nớc ta vững bớc tiến lên trên con "xây dựng một nớc Việt Nam dân
giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tài liệu tham khảo
1. C.Mác, Ănghen, tuyển tập, tập II, NXB Sự thật, Hà Nội - 1991 - tr. 745)
2. V.I.Lênin, toàn tập, NXB Tiến bộ, Matxcơva 1997, tập 38, tr.430.
3. C.Mác, PhĂngghen - Một số th về chủ nghĩa duy vật lịch sử - NXB Sự thật, Hà Nội
- 1992. tr.541
4. C.Mác, PhĂngghen, tuyển tập, tập II, NXB Sự thật, Hà Nội 1981. tr.637
5,6. "Đảng cộng sản Việt Nam, văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2001.tr.84-85
7. Nh mục 5 và 6. tr86-87
8. Nh mục 7. tr.87-88
9. Nh mục 8
10
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét