Chương 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1. Phương pháp luận:
2.1.1.KHÁI NIỆM – Ý NGHĨA - NHIỆM VỤ - NỘI
DUNG CỦA PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH
2.1.1.1. Khái niệm :
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để đánh giá
toàn bộ quá trình và hiệu quả hoạt dộng kinh doanh tại doanh nghiệp nhằm làm rõ
chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần khai thác, từ đó đề ra
các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
2.1.1.2. Ý nghĩa :
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh:
+ Là cơ sở để ra các quyết định kinh doanh.
+ Là công cụ quan trọng trong những chức năng quản trị có hiệu quả ở doanh
nghiệp.
+ Là điều hết sức cần thiết đối với mọi doanh nghiệp. Nó gắn liền với hiệu quả
hoạt động kinh doanh chỉ ra hướng phát triển của các doanh nghiệp
+ Là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro.
2.1.1.3. Nhiệm vụ :
Đánh giá kết quả thực hiện được so với kế hoạch hoặc so với tình hình thực
hiện kỳ trước, các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành hoặc chỉ tiêu bình quân nội
ngành và các thông số thị trường.
5
Phân tích những nhân tố nội tại và khách quan đã ảnh hưởng tình hình thực
hiện kế hoạch.
Phân tích hiệu quả các phương án kinh doanh hiện tại và các dự án đầu tư dài
hạn.
Xây dựng kế hoạch dựa trên kết quả phân tích.
Phân tích dự báo, phân tích chính sách và phân tích rủi ro trên các mặt hoạt
động của doanh nghiệp.
Lập báo cáo kết quả phân tích, thuyết minh và đề xuất kế toán quản trị.
2.1.1.4. Nội dung :
Nội dung của phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là đánh giá quá trình
hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh với sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng,
được biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế. Nó không chỉ đánh giá biến động mà còn
phân tích các nhân tố phụ thuộc vào mối quan hệ cụ thể của nhân tố với chỉ tiêu
phân tích.
Vậy trước hết phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu kinh tế cùng với việc xác
định mối quan hệ phụ thuộc của các nhân tố tác động đến chỉ tiêu. Xây dựng mối
liên hệ giữa các chỉ tiêu khác nhau để phản ánh được tính phức tạp đa dạng của nội
dung phân tích.
2.1.2. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
2.1.2.1. Thế nào là ngân hàng thương mại :
_ Ngân hàng Thương mại là tổ chức tài chính nhận gửi tiền và cho vay tiền.
_ Ngân hàng Thương mại là tổ chức tài chính có giấy phép kinh doanh của
chính phủ để cho vay tiền và mở các tài khoản tiền gửi, kể cả các tài khoản tiền gửi
mà dựa vào đó có thể dùng các tờ séc.
_ Ngân hàng Thương mại là nơi trực tiếp giao dịch với công chúng để nhận ký
thác cho vay và cung ứng những dịch vụ tài chính.
_ Điều 1 của pháp lệnh Ngân hàng Việt Nam: Ngân hàng Thương mại là tổ
chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của
khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng tiền đó cho vay. Thực hiện nghiệp
vụ chiết khấu thương phiếu và làm phương tiện thanh toán.
6
Tóm lại, Ngân hàng Thương mại có thể định nghĩa như sau: Ngân hàng
Thương mại là doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng, huy động
vốn cho vay chiết khấu. bảo lãnh dịch vụ thanh toán và cung cấp các dịch vụ khác.
2.1.2.2. Chức năng của ngân hàng thương mại :
a/Tạo tiền :
Một trong những chức năng chủ yếu của Ngân hàng Thương mại là khả năng
tạo tiền và huỷ tiền. Tạo tiền cùng với chức năng khác của Ngân hàng Thương mại
hợp thành một hệ thống các chức năng, phản ánh bản chất của các Ngân hàng
Thương mại. Chức năng này được thực hiện thông qua các hoạt động tín dụng và
đầu tư, trong mối quan hệ chặt chẽ với Ngân hàng Trung Ương của mỗi nước. Nếu
tín dụng Ngân hàng được mở ra để tạo điều kiện cho quá trinh sản xuất kinh doanh
và những hoạt động của nó thì trong những trường hợp sản xuất không thực hiện
được và nguồn tích luỹ khác sẽ bị hạn chế. Hơn nữa, các đơn vị sản xuất có thể bị ứ
đọng vốn, không sản xuất được vào quá trình sản xuất ở mọi thời điểm, nhưng lại
thiếu vốn kinh doanh ở thời điểm khác.
Trong nền kinh tế, bao giờ và lúc nào cũng phải tôn trọng một nguyên tắc quan
trọng là cung tiền tệ phải vừa đủ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, với tốc độ phát
triển kinh tế dự kiến. Nếu tiền cung ứng tăng quá nhanh tất yếu lạm phát sẽ xuất
hiện và những hậu quả của nó đương nhiên nền kinh tế phải gánh chịu. Các Ngân
hàng Thương mại đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chính sách này,
trong mối quan hệ với Ngân hàng Trung Ương của mỗi nước. Tín dụng Ngân hàng,
trong trường hợp này, thực hiện vai trò của nó như là kênh dẫn để thông qua đó, tiền
cung ứng tăng lên hoặc giảm xuống phù hợp với chính sách tiền tệ quốc gia.
b/Cơ chế thanh toán:
Bên cạnh chức năng tạo tiền, các Ngân hàng Thương mại còn thực hiện một
chức năng khác là đưa ra cơ chế thanh toán, hay nói cách khác, sự vận động vốn là
một trong những chức năng quan trọng do các Ngân hàng Thương mại thực hiện. Ở
các nước phát triển và đang phát triển phần lớn công tác thanh toán được thực hiện
thông qua séc và thẻ thanh toán.
7
Phần lớn séc thanh toán trong nước được thực hiện bằng thanh toán bù trừ,
thông qua hệ thống Ngân hàng thương mại. Việc phát hành séc để rút tiền từ tài
khoản tiền gửi và ký thác trong cùng một Ngân hàng thật ra đó là sự chuyển vốn từ
tài khoản này sang tài khoản khác, và nếu giữa hai Ngân hàng trong cùng một địa
bàn sẽ tiến hành trao đổi séc trực tiếp, nhưng nếu xảy ra một trong số Ngân hàng
trong cùng một địa bàn, buộc phải tiến hành thông qua thanh toán bù trừ. Quá trình
sẽ trở nên phức tạp, mất thời gian và tốn kém khi việc thanh toán bù trừ diễn ra giữa
các Ngân hàng thuộc các địa bàn khác nhau trong nước.
c/Huy động tiết kiệm :
Các Ngân hàng thực hiện các dịch vụ rất quan trọng đối với tất cả dân cư trong
nước thuộc các khu vực của nền kinh tế bằng cách đáp ứng những điều kiện và các
công cụ thuận lợi cho việc chuyển tiền và rút tiền tiết kiệm một cách dễ dàng, nhằm
thực hiện các mục đích có tính chất xã hội rộng lớn. Do đó, huy động tiết kiệm đã
trở thành một chức năng quan trọng của Ngân hàng Thương mại.
d/Mở rộng tín dụng :
Chức năng chủ yếu và quan trọng bậc nhất của Ngân hàng Thương mại là mở
rộng tín dụng đối với các Ngân hàng đáng tin cậy. Chức năng tín dụng được hình
thành từ rất sớm. Ngay từ khi hình thành những người tổ chức các Ngân hàng luôn
tìm kiếm cơ hội để thực hiện cho vay.
e/Tạo điều kiện để tài trợ ngoại thương :
Việc tài trợ này góp phần vào tự do ngoại thương giữa các nước với nhau và
với một phí tổn thấp hơn. Do quá trình hợp tác và phân công lao động có tính quốc
tế, nghiệp vụ Ngân hàng đối ngoại của các Ngân hàng Thương mại cũng tăng không
ngừng.
f/Dịch vụ uỷ thác :
Các văn phòng uỷ thác có trách nhiệm đầu tư quản lý số vốn này và phân phối
thu nhập theo các điều khoản của hợp đồng uỷ thác.
g/Bảo quản an toàn vật có giá :
Chức năng bảo quản an toàn vật có giá chỉ diễn ra ở các Ngân hàng lớn, nơi có
điều kiện hình thành các kho đặc biệt. Bảo quản an toàn và chắc chắn.
8
h/Dịch vụ kinh kỷ :
Phần lớn Ngân hàng Thương mại đều cung cấp dịch vụ kinh kỷ - đó là việc
mua và bán các chứng khoán cho khách hàng - Mặc dù quyền hạn trong dịch vụ tài
chính của các Ngân hàng được nâng lên nhưng không vượt quá giới hạn các hoạt
động bảo lãnh hoặc cung ứng các dịch vụ nghiên cứu và vốn đầu tư thông thường,
kết hợp với các hoạt động môi giới. Việc cho phép tiến hành cung cấp những dịch
vụ này được thực hiện trước năm 1983 nhưng vẫn chưa hội đủ những kinh nghiệm
cần thiết để đánh giá khả năng tiềm tàng của chúng.
2.1.2.3 Hoạt động kinh doanh của ngân hàng :
Ngân hàng Thương mại cổ phần được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần.
Cổ đông của Ngân hàng Thương mại cổ phần bao gồm nhiều thế nhân và pháp nhân.
Cổ đông được sở hữu số cổ phần của Ngân hàng theo tỷ lệ do Ngân hàng Nhà Nước
quy định. Mức vốn điều lệ tối thiểu khi thành lập Ngân hàng Thương mại cổ phần
(Nghị định 141/2006/NĐ - CP ngày 22/11/2006) như sau:
Bảng 1: Quy định vốn điều lệ của Ngân hàng Thương mại cổ phần:
(Nguồn: Tạp chí ngân hàng).
Loại hình tổ chức tín dụng
Mức vốn pháp định áp dụng cho đến
năm
2008 2010
Ngân hàng
NHTM
NHTM nhà nước 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
NHTM cổ phần 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
Ngân hàng liên doanh 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
NH 100% vốn nước ngoài 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
Chi nhánh NH nước ngoài 15 triệu USD 15 triệu USD
NH chính sách 5.000 tỷ đồng 5.000 tỷ đồng
NH đầu tư 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
NH phát triển 5.000 tỷ đồng 5.000 tỷ đồng
NH hợp tác 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
Quỹ tín dụng nhân dân
Quỹ tín dụng nhân dân TW 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở 0,1 tỷ đồng 0,1 tỷ đồng
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng
Công ty tài chính 300 tỷ đồng 500 tỷ đồng
Công ty cho thuê tài chính 100 tỷ đồng 150 tỷ đồng
9
Ngân hàng Thương mại được xem như một doanh nghiệp họat động trên lĩnh
vực kinh doanh tiền tệ, với chức năng là trung gian tín dụng, các Ngân hàng Thương
mại vừa là người đi vay vừa là người cho vay, từ đó nghiệp vụ hoạt động chủ yếu
của Ngân hàng bao gổm 3 lĩnh vực: Huy động vốn, cho vay, môi giới trung gian.
a/Hoạt động huy động vốn:
Hoạt động huy động vốn là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng
Thương mại. Vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn của
Ngân hàng Thương mại. Vì vậy, nếu huy động được nhiều vốn thì có thể mang lại
lợi nhuận cao cho Ngân hàng cũng như có thể mở rộng hoạt động và cung cấp vốn
cho hoạt động kinh tế.
Trên thị trường có rất nhiều loại khách hàng khác nhau, trong đó gồm có hai
loại chính: Khách hàng là cá nhân và khách hàng là đơn vị kinh tế, doanh nghiệp
Nhà nước, công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân. Vì thế các hình
thức hoạt động vốn cũng rất đa dạng để thích hợp với từng loại khách hàng. Hiện
nay tại các Ngân hàng Thương mại các nước có những hình thức huy động vốn như
sau:
-Tiền gởi thanh toán:
Ngân hàng thương mại từ khi mở cửa hoạt động thì không ngừng động viên
khuyến khích khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng. Tiền gửi thanh toán là loại
tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào mà cũng không cần báo trước
cho Ngân hàng và Ngân hàng phải đáp ứng được yêu cầu đó của khách hàng
Tài khoản được sử dụng cho tiền gửi thanh toán được coi là tài khoản giao dịch
hay gọi là tài khoản Sec. Tài khoản Sec ngày nay chia ra hai loại: Tài khoản thanh
toán dùng cho các tổ chức kinh tế và tài khoản thanh toán dùng cho cá nhân.
Đặc điểm nổi bật của loại tiền gửi này là khách hàng gửi tiền vào ngân hàng đã
hình thành một khế ước mặc nhiên, trong đó ngân hàng phải thỏa mãn nhu cầu chi
trả của khách hàng bất cứ lúc nào. Nếu vi phạm Ngân hàng sẽ bị xử lý theo quy định
của pháp luật
Mục đích của loại tiền gửi này nhằm đảm bảo an toàn về tài sản, thực hiện các
khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong tiêu dùng, tiện lợi trong
10
việc thanh toán bằng tiền mặt. Đối với ngân hàng loại tiền gửi thanh toán thường có
sự dao động lớn, do đó Ngân hàng chỉ áp dụng một tỉ lệ nhất định để cho vay nên
Ngân hàng thường áp dụng với lãi suất thấp.
Trong việc sử dụng tiền gởi thanh toán, khách hàng thường dùng các công cụ
thanh toán để chi trả như: séc, lệnh chuyển tiền…. trong đó séc được coi là công cụ
thanh toán chủ yếu vì sử dụng séc một mặt bảo đảm an toàn về ngân quỹ mặt khác
séc là hình thức chi trả đơn giản và tiện lợi.
động lớn, do đó Ngân hàng chỉ áp dụng một tỉ lệ nhất định để cho vay nên
Ngân hàng thường áp dụng với lãi suất thấp.
Trong việc sử dụng tiền gởi thanh toán, khách hàng thường dùng các công cụ
thanh toán để chi trả như: séc, lệnh chuyển tiền…. trong đó séc được coi là công cụ
thanh toán chủ yếu vì sử dụng séc một mặt bảo đảm an toàn về ngân quỹ mặt khác
séc là hình thức chi trả đơn giản và tiện lợi.
-Tiền gởi có kỳ hạn:
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và cá nhân sau khi thu được lợi
nhuận mà tạm thời chưa sử dụng đến trong một thời gian nhất định nào đó có thể ký
thác vào Ngân hàng một cách có kỳ hạn. Đối với loại tiền gởi này, người gởi tiền chỉ
được rút ra khi đáo hạn. Tuy nhiên, trên thực tế do áp lực cạnh tranh, các Ngân hàng
cho phép khách hàng rút tiền trước hạn với điều kiện là người gởi tiền không được
trả lãi hoặc chịu một mức lãi suất thấp hơn lãi suất trả cho tiển gởi có kỳ hạn, điều
kiện tuỳ thuộc vào chính sách huy động của Ngân hàng và loại tiền gởi định kỳ.
Tiền gởi định kỳ có nhiều loại khác nhau, thông thường có kỳ hạn 3 tháng, 6
tháng, 12 tháng. Khác với tiền gởi thanh toán tiền gởi định kỳ là tiền gởi tạm thời
chưa sử dụng hoặc tiền gởi để dành của các nhân. Vì vậy, mục đích gởi tiền vào
Ngân hàng là nhằm kiếm lợi tức. Do đó thường dùng biện pháp lãi suất để huy động
nguồn vốn này chủ là yếu.
Hiện nay, các Ngân hàng Thương mại đang áp dụng hai loại tiền gởi định kỳ:
tiền gởi định kỳ theo tài khoản và tiền gởi định kỳ với hình thức phát hành kỳ phiếu.
Nguồn tiền gởi định kỳ là nguồn tiền gởi có tính chất ổn định ở Ngân hàng Thương
mại. Do vậy, nó có thể dùng để cho vay trung và dài hạn với lãi suất cao hơn lãi suất
11
tiền gởi thanh toán không kỳ hạn. Ngân hàng áp dụng nguyên tắc kỳ hạn càng dài lãi
suất càng cao.
-Tiền gởi tiết kiệm:
Ở Việt Nam, tiền gởi tiết kiệm hết sức đa dạng và phong phú được chia ra làm
nhiều loại:
Tiền gởi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại tiền gởi không có thời gian đáo hạn,
khi nào người gởi muốn rút tiền thì phải thông báo cho Ngân hàng một thời gian, tuy
nhiên ngày nay Ngân hàng cho phép khách hàng rút tiền ra không cần thông báo
trước. Đây là hình thức hoạt kỳ mà đối tượng gởi chủ yếu là người tiết kiệm, dành
dụm hầu trang trãi những chi tiêu cần thiết đồng thời có một khoản lãi góp phần vào
việc chi tiêu hàng tháng. Ngoài ra, đối tượng gởi tiền có thể là những người thừa
tiền nhàn rỗi muốn gởi vào Ngân hàng để thu hoạch lợi tức đồng thời đảm bảo an
toàn hơn tiển gởi ở nhà.
Loại tiền gởi tiết kiệm không kỳ hạn lãi suất thấp do Ngân hàng không chủ
động được nguồn vốn và lãi luôn được nhập vốn và thường tính lãi theo nhóm ngày
gửi tiền. Còn đối với tiền gửi thanh toán thì lãi nhập vốn vào cuối tháng.
Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: người ký thác tiền ở ngân hàng nhằm mục
đích nhất định như để mua sắm nhà cửa, trang trải chi phí học tập cho con cái… đối
với những người gửi tiền loại này ngân hàng thường cấp thêm tín dụng để bù đắp
phần thiếu hụt khi sử dụng theo mục đích của người gửi tiền.
Tiền gửi tiết kiệm định kỳ hiện nay được phân thành 2 loại: tiền gửi tiết kiệm
có kỳ hạn dưới 12 tháng và tiền gửi tiết kiệm từ 12 tháng trở lên
Khách hàng gửi tiết kiệm định kỳ thì được ngân hàng cấp cho một bản kê lúc
gửi tiền đầu tiên và theo định kỳ hàng tháng để phản ánh tất cả số phát sinh, khách
hàng quản lý và mang theo bên người khi đến ngân hàng giao dịch
Về nguyên tắc khách hàng chỉ được rút vốn khi đến hạn. Nếu rút trước hạn
phải được sự đồng ý của Ngân hàng và chỉ được hưởng lãi suất của tiền gửi tiết
kiệm không kỳ hạn hoặc không được hưởng lãi nếu gửi có kỳ hạn mà rút ra chưa
được 1 tháng.
12
-Kỳ phiếu ngân hàng có mục đích:là công cụ để huy động vốn tiết kiệm do
ngân hàng phát hành nhằm mục đích kinh doanh trong từng thời kỳ nhất định.
-Trái phiếu ngân hàng:là công cụ huy động vốn trung gian và dài hạn vào
ngân hàng và đây là một loại chứng khoán có thể mua bán trên thị trường chứng
khoán. Thời hạn trái phiếu thường một năm.
b/Hoạt động tín dụng:
* Khái niệm tín dụng:
- Tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới dạng tiền tệ hay vật chất mà
trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc lẫn lãi trong thời gian nhất
định
- Đối với ngân hàng thương mại, thì tín dụng có nghĩa là sự cho vay hay ứng
trước tiền do ngân hàng thực hiện, giá cả do ngân hàng ấn định đối với khách hàng
đi vay mà chúng ta thường gọi là lãi suất hay những khoản tiền hoa hồng mà người
vay phải trả trong suốt thời gian sử dụng các khoản ứng trước của ngân hàng.
* Phân loại tín dụng:
Trong nền kinh tế thị trường, thì hiện nay có rất nhiều hình thức tín dụng trong
hoạt động của ngân hàng như cho vay đối với doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức kinh
tế, cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất….Tín dụng được phân ra làm hai loại: Tín
dụng ngắn hạn và tín dụng dài hạn.
+ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời gian cho vay dưới 12 tháng.
Thông thường là 6 tháng chiếm chủ yếu. Mục đích của loại tiền gửi này là cho vay
bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động, đồng thời cho vay phục vụ nhu cầu cá
nhân.
+ Tín dụng trung và dài hạn:
Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời gian cho vay từ 1 năm đến 5
năm.Loại tín dụng này cấp cho khách hàng cần vốn để đầu tư mua sắm tài sản cố
13
định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng xây dựng các công trình có quy mô nhỏ.
Thường loại tín dụng này không nằm trong kế hoạch của nhà nước.
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời gian cho vay trên 3 năm nằm
trong kế hoạch của nhà nước. Loại tín dụng này cho vay để đầu tư cơ bản, cải tiến
và mở rộng sản xuất đối với công trình có quy mô lớn. Loại này có nhiều rủi ro nên
chiếm 1 tỷ lệ rất ít.
*Nguyên tắc tín dụng:
Sử dụng vốn vay phải đúng theo mục đích ghi trên hợp đồng.
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính hiệu quả của vốn vay tạo điều kiện thực
hiện việc hoàn trả nợ của đơn vị vay. Để thực hiện nguyên tắc này, mỗi lần đi vay
khách hàng phải làm đơn xin vay, trong đơn phải thể hiện rõ mục đích vay và kèm
theo phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Đơn vị vay có trách nhiệm sử dụng
vốn vay có mục đích nếu ngân hàng phát hiện khách hàng vi phạm thì ngân hàng có
quyền thu hồi nợ trước hạn
Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi:
Phần lớn nguồn vốn của ngân hàng là nguồn vốn đi vay. Do đó ngân hàng yêu
cầu khách hàng vay vốn phải trả cho khách hàng cả vốn lẫn lãi sau một thời gian
nhất định. Để thực hiện được nguyên tắc này tất cả các khoản vay của ngân hàng
đều có định kỳ hạn nợ. Khi đáo hạn thì khách hàng chủ động lập giấy trả nợ cho
ngân hàng, nếu không ngân hàng tự động trích tài khoản tiền gửi của khách hàng để
thu hồi nợ, nếu tài khoản tiền gửi của khách hàng không đủ số dư thì ngân hàng sẽ
chuyển sang nợ đáo hạn và tính lãi suất nợ quá hạn.
Tiền vay phải có vật tư, tài sản tương đương làm đảm bảo
Nguyên tắc này xuất phát từ nhu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ nhằm làm
cho sự vận động của tiền tệ gắn với sự vận động của vật tư hàng hoá để đảm bảo sức
mua của đồng tiền. Để thực hiện được nguyên tắc này đòi hỏi ngay từ khi đi vay và
trong suốt quá trình sử dụng vốn vay khách hàng phải có một lượng giá trị vật tư
hàng hoá tương đương làm đảm bảo có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau
+ Tài sản thế chấp và cầm cố là những tài sản trước khi đi vay.
+ Tài sản thế chấp và cầm cố là những tài sản hình thành từ vốn vay.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét