Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Tính toán Thủy văn và Điều tiết hồ chứa Xạ Hương – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc

Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
xuống tây nam và chia ra 3 vùng có địa hình đặc trưng: đồng bằng, gò đồi, núi thấp
và trung bình.
Địa hình đồng bằng: gồm 76 xã, phường và thị trấn, với diện tích tự nhiên là
46.800 ha. Vùng đồng bằng bao gồm vùng phù sa cũ và phù sa mới, chủ yếu do phù
sa của các hệ thống sông lớn như: Sông Hồng, sông Lô, sông Đáy bồi đắp nên vùng
phù sa cũ chiếm diện tích khá rộng, gồm phía bắc của thị xã Phúc Yên, các
huyện Yên Lạc, Vĩnh Tường và phía nam của các huyện Tam Dương, Bình Xuyên,
được hình thành cùng thời kì hình thành châu thổ sông Hồng. Vùng phù sa mới dọc
theo các con sông thuộc các huyện Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, nam Bình
Xuyên, được hình thành vào thời kì Đệ tứ - Thống Holoxen. Đất đai vùng đồng bằng
được phù sa sông Hồng bồi đắp nên rất màu mỡ, là điều kiện lí tưởng cho việc phát
triển kinh tế nông nghiệp thâm canh.
Địa hình đồi : gồm 33 xã, phường và thị trấn, với diện tích tự nhiên là 24.900
ha, đây là vùng đồi thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả và hoa màu
kết hợp với chăn nuôi gia súc, tạo điều kiện thuận lợi trong việc chuyển đổi cơ cấu
cây trồng và chăn nuôi theo hướng tăng sản xuất hàng hoá thực phẩm. Vùng đồi núi
Bình Xuyên là vùng được thành tạo vào thời kì Trung Trias giữa Đệ Tam, gồm các
lớp trầm tích bể cạn, gồm các phiến thạch, sa thạch, phiến sa và một số loại đá khác
xen kẽ.
Địa hình núi thấp và trung bình : Có diện tích tự nhiên là 56.300 ha, chiếm
46,3% diện tích tự nhiên của tỉnh. Địa hình vùng núi phức tạp bị chia cắt, có nhiều
sông suối, đây là một trong những ưu thế của Vĩnh Phúc so với các tỉnh quanh Hà
Nội, vì nó sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các khu công nghiệp tập trung
và các khu du lịch sinh thái. Vùng núi Tam Đảo có diện tích rừng quốc gia là
15.753ha.
a. Vùng núi Lập Thạch, Sông Lô, Tam Đảo
Vùng núi Tam Đảo, Lập Thạch, Sông Lô nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm
mưa mùa vùng núi. Lượng mưa ở đai cao của núi Tam Đảo khá lớn (2.600 mm) vì ở
đây có thêm lượng mưa địa hình. Mùa mưa từ tháng 4 đến cuối tháng 10 chiếm 90%
tổng lượng mưa cả năm. Mưa nhiều vào các tháng 6, 7, 8 và 9, cao nhất vào tháng 8
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
9
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
dương lịch, thường gây xói mòn và lũ lớn. Số ngày mưa khá nhiều trong năm (trên
140 ngày). Nhiệt độ trung bình của vùng núi cao trung bình là 19-20
0
C. Còn khu vực
chân núi nhiệt độ cao hơn, khoảng từ 22-23
0
C, tháng lạnh nhất là tháng 1 (11-15
0
C),
tháng nóng nhất là khoảng tháng 7 (26-28
0
C). Riêng vùng đỉnh núi có nền nhiệt độ
thấp hơn cả, bình quân từ 18 - 19
0
C, nhiệt độ xuống thấp nhất là tháng 1 (10,8
0
C),
nhiệt độ cao nhất vào tháng 6 (khoảng 23
0
C). Nhiệt độ khu nghỉ mát Tam Đảo thấp
hơn nhiệt độ ở thành phố Vĩnh Yên khoảng 6
0
C. Khí hậu vùng núi Tam Đảo, Lập
Thạch chia thành 2 tiểu vùng: tiểu vùng khí hậu núi cao Tam Đảo quanh năm mát
mẻ, thuận tiện cho việc phát triển du lịch, hình thành các khu nghỉ mát, du lịch vui
chơi giải trí. Khu vực còn lại thuộc tiểu vùng mang đặc điểm của khí hậu gió mùa chí
tuyến Đông Bắc Bắc Bộ. Độ ẩm bình quân là 84- 85%, vào mùa mưa, nhất là khi có
mưa phùn độ ẩm có thể lên tới 90%, nhưng vào mùa khô độ ẩm giảm xuống có khi
chỉ còn 70-75%.
Do lượng mưa vùng khá lớn nên tạo ra mạng lưới sông suối trong vùng ngắn
và dốc, có dạng chân rết, cấu trúc dốc và hẹp lòng từ đỉnh xuống chân núi, lưu lượng
nước lớn, chảy vào các hồ trong vùng, thuộc lưu vực sông Đáy. Chia làm hai mùa rõ
rệt: mùa lũ (xảy ra vào tháng 8) lũ tập trung nhanh và cũng rút nhanh; mùa kiệt
(tháng 2). Vùng có hệ thống hồ lớn nhỏ, lớn nhất là hồ Vân Trục nằm ở phía Nam
vùng, hồ Bò Lạc, hồ Suối Sải, hồ Đá Ngang và nhiều hồ nhỏ khác.
Đất vùng này chủ yếu là các loại đất xám, bao gồm: Đất xám mùn đá nông:
Phân bố ở độ cao trên 700m. Đất xám đỏ vàng đá nông: phân bố ở phần lớn diện tích
vùng núi Tam Đảo, ở độ cao dưới 700m. Một phần nhỏ diện tích đất loang lổ chạy dọc
theo thung lũng sông Bá. Phía Nam của vùng có đất xám đỏ vàng điển hình. Dọc theo
sông Cà Lồ và các nhánh của nó tồn tại các loại đất xám điển hình và các loại đất xám
loang lổ. Dọc theo các sông suối, thung lũng, các đứt gãy trong vùng có các loại đất cát
chua và một số nơi có đất phù sa chua. Phía Nam của vùng có đất xám vàng đá nông,
phía Tây có đất xám điển hình glay sâu.
Đối với vùng núi Tam Đảo, Lập Thạch, Sông Lô tính đặc thù của các nhân tố
sinh thái phát sinh đã tạo nên đặc điểm đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật phong
phú bao gồm các kiểu rừng:
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
10
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp: Phân bố ở khu vực 700m,
loại rừng này chiếm phần lớn dãy Tam Đảo với những loài cây có giá trị kinh tế cao
như: Chò chỉ (Choera chinensis), Giổi (Michelia Ital), Re (Cinnamomum Ital) Quần
hệ thực vật kiểu rừng này gồm nhiều tầng, tán kín với những loài cây lá rộng thường
xanh hợp thành. Kiểu rừng này đang bị tàn phá nặng nề.
Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình: Phân bố ở độ cao
800m trở lên (chỉ có ở dãy Tam Đảo). Quần hệ thực vật là các loài họ Dầu
(Dipterocarpaceae), họ Re (Lauraceae). Dẻ (Fagceae), họ Chè (Theaceae), họ Mộc
Lan (Magnoliaceae), họ Sau Sau (Hamamelidaceae). Ngoài ra, ở độ cao trên 1.000 m
xuất hiện một số loài thuộc ngành hạt trần như: Thông (Dacrycarpus), Pơ mu
(Fokienia hodginsii), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Thông yến tử (Podorcarpus
pilgeri), Kim giao (Nageia fleuryi).
Rừng lùn trên đỉnh núi: Là một kiểu phụ đặc thù của rừng kín thường xanh
mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình, được hình thành trên các đỉnh dốc, hay các đỉnh
núi cao đất xấu, nhiều nắng gió, mây mù. Vì vậy cây cối thường thấp, bé và phát triển
chậm. Rừng tre nứa: Mọc xen kẽ trong các kiểu rừng khác. Các loại tiêu biểu là Vầu,
Sặt gai ở độ cao trên 800m; Giang thường ở độ cao 500- 800m; Nứa thường ở độ cao
dưới 500m.
Rừng phục hồi sau nương rẫy: Kiểu rừng này hình thành từ rừng bị khai thác
gỗ nặng nề trước những năm 80, thường có ở vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam
Đảo.
Rừng trồng: Gồm các loại rừng: Rừng thông, rừng Bạch đàn, rừng Keo và
rừng lá rộng, được trồng ở độ cao khoảng từ 200-600m. Rừng trồng được bao phủ
với diện tích khá lớn ở phần phía Tây Bắc của vùng (vùng Lập Thạch). Ngoài
ra, những khu vực thung lũng, sông suối và phần phía Nam của vùng còn trồng cây
lương thực, rau màu. Ngoài ra trong vùng còn có các kiểu trảng cây bụi, trảng cỏ thứ
sinh sau khai thác.
b. Vùng trung du: Bình Xuyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Tam Dương
Vùng này nằm trên nền đá biến chất cao, tạo thành dải kéo dài theo hướng Tây
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
11
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
Bắc - Đông Nam, gồm các đá gnei giàu plagioclas, biotit, silimanit, có tuổi Proterozoi
giữa (PR
2
- i
1
sc), đôi chỗ gặp quarzit chứa mica hệ tầng Chiêm Hóa (PR
3
- € ch). Phía
Tây của vùng có một vài khối đồi sót có tuổi Neogen sớm (N
1
) hệ tầng Na Dương, là
khối xâm nhập còn sót lại sau quá trình biển thoái cuối cùng. Ngoài ra, phần lớn diện
tích vùng đồi này được cấu tạo bởi trầm tích Đệ tứ có tuổi Pleistocen trung - thượng
(Q
II-III
), và tuổi Holocen trung - thượng (Q
IV
2-3
). Vùng đồi có độ cao từ 20 đến 238m,
độ dốc trung bình < 20
0
, riêng khu phía Đông Bắc của vùng là vùng đồi cao > 20
0
,
khu vực này các dãy đồi cao chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Các đồi gò khác
tồn tại ở dạng khối, phần lớn là các bề mặt Pediment cao 20-60m với độ dốc trung
bình cấp III (từ 8 đến 15
0
). Dọc theo các sông suối có các bậc thềm tích tụ sông bậc 1
và các bề mặt đồng bằng tích tụ tầng thấp giữa vùng đồi thấp. Thấp hơn là những bãi
bồi tuổi hiện đại bằng phẳng (< 3
0
). Phần phía Đông của vùng có dạng địa hình đồi
cao, nằm trên phần kéo dài của khối Tam Đảo, có tuổi Triat trung thuộc hệ tầng Nà
Khuất và hệ tầng sông Hiến.
Đây là vùng đồi gò nên các chỉ tiêu khí hậu được đo tại trạm khí tượng Vĩnh
Yên. Khí hậu thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa: Gió Đông Nam: thổi từ tháng 4
đến tháng 9; Gió Đông Bắc: thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Tạo ra 2 mùa rõ
rệt: Mùa nóng ẩm, mưa nhiều: từ tháng 4 đến tháng 9; Mùa lạnh khô, mưa ít: từ tháng
10 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23- 24
0
C, lạnh nhất vào
tháng 1 là 16,7
0
C và tháng nóng nhất là tháng 7 với nhiệt độ trung bình tháng là
30,2
o
C. Lượng mưa hàng năm là 1.166,6mm, tháng khô nhất là tháng 11 - 12 với
lượng mưa chỉ vào khoảng 9,0 đến 9,5 mm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 8 với
lượng mưa lên tới 236,0 mm. Độ ẩm tương đối trung bình là 78 - 80%, trong đó
tháng độ ẩm nhỏ nhất là tháng 2 (72%), và độ ấm lớn nhất vào tháng 8.
Mạng lưới thủy văn dày đặc, nhiều sông, suối, hồ, đầm. Hệ thống lớn nhất là
hệ thống sông Đáy, với lưu lượng nước bình quân là 23 m
3
/s; lưu lượng cao nhất là
833m
3
/s; mùa khô kiệt, lưu lượng chỉ 4 m
3
/s, có quãng sông cạn có thể lội qua được.
Hệ thống sông này cung cấp nước tưới cho đồng ruộng của các huyện Tam Dương,
Bình Xuyên. Hệ thống kênh mương trong vùng tương đối dày, nhưng do nằm trong
vùng hạ lưu các con sông chảy xuống từ Tam Đảo và do địa hình thoải, nên vào mùa
mưa thoát nước kém, gây ngập úng, tạo ra nhiều hồ đầm trong vùng. Hệ thống hồ
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
12
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
đầm có tác dụng tích nước cho mùa khô phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, trong đó
đầm lớn nhất phải kể đến là Đầm Vạc nằm ở phía Nam và hồ Đại Lải ở phía Đông.
Đầm Vạc có diện tích mặt thoáng về mùa kiệt là 250ha, về mùa lũ lên tới 500ha có
tác dụng tưới tiêu nước cho khu vực. Hồ Đại Lải là hồ nhân tạo lớn nhất trong vùng
với dung tích hữu ích là 25,4 triệu m
3
, diện tích tưới thiết kế là 2.700ha. Ngoài nhiệm
vụ tưới nước và phòng lũ còn phục vụ du lịch sinh thái, tạo cảnh quan môi trường hồ
nước vùng trung du. Ngoài ra, trong vùng còn có hệ thống kênh mương đào và các
trạm bơm phục vụ công tác tưới, tiêu nước cho vùng.
Do phát triển trên các đá gneis giàu plagioclas, biotit, silimanit nên loại đất
được hình thành chủ yếu là đất xám, gồm các loại đất xám điển hình và đất xám đỏ
vàng. Đất phù sa chua điển hình phân bố dọc theo các sông suối như sông Đáy, sông
Xạ Hương và các chi lưu của nó. Theo dải hẹp nhỏ dọc theo sông Đáy có đất phù sa
trung tính ít chua, ngập úng vào mùa mưa; Đất glay phân bố ở phía Nam huyện Lập
Thạch, chủ yếu là glay chua điển hình. Đất loang lổ có tồn tại ở khu vực phía Đông
Nam và Tây Nam của vùng. Đất phù sa chua tồn tại phần lớn ở phía Tây và phần
trung tâm của Yên Lạc; đất loang lổ phân bố ở phần phía Tây, phía Bắc và phía Đông
Yên Lạc; đất gley có nhiều nhất ở phía Bắc Yên Lạc và một phần ở phía Nam thị trấn
Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên. Đất phù sa trung tính ít chua có ở ven các con sông chảy
trong vùng. Ngoài ra, còn có đất tầng mỏng trên vùng đồi cao thuộc thị trấn Xuân
Hòa Phúc Yên. Sản phẩm trên bề mặt vùng đồi Vĩnh Phúc là sản phẩm phong hoá
gồm các lớp đất sét nâu đỏ, laterit và các mũ sắt. Nhân dân thường dùng lớp đất sét
có latarit này để làm gạch đá ong và gạch không nung.
Thực vật trong vùng chủ yếu là rừng trồng rải rác khắp vùng và trồng các loại
cây ăn quả như vải, nhãn,… các loại cây công nghiệp ngắn ngày (đậu tương, lạc), cây
lương thực được trồng ở những khu vực có địa hình thấp, độ dốc nhỏ.
c. Vùng đồng bằng Vĩnh Tường, Yên Lạc, Nam Bình Xuyên
Vùng này phần lớn diện tích nằm trên trầm tích sông tuổi Holocen trung -
thượng (aQ
IV
2-3
), phía Đông và Đông Nam có trầm tích biển tuổi Pleistocen (mQ
III
),
trầm tích hồ - đầm tuổi Pleistocen (lbQ
IV
2-3
) và một khối sót có tuổi Neogen hạ thuộc
hệ tầng Na Dương (N
1
nd).
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
13
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
Đây là vùng đồng bằng ven sông có độ cao nhỏ hơn 30m. Gồm các khu vực
ven sông Hồng, vùng này có độ dốc nhỏ, dưới 5
0
.
Khí hậu vùng thuộc kiểu khí hậu vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhiệt độ trung bình
khoảng 23
0
C, nhiệt độ trung bình tháng 7 là 28
0
C, trung bình tháng 1 là 16
0
C. Mùa
nóng, nhiệt độ cực đại tuyệt đối có thể lên tới 40
0
C. Vùng này có mưa phùn nhiều vào
tháng 1 và tháng 2. Lượng mưa trung bình khoảng 1500 - 2.000 mm.
Do địa hình thấp nên vào mùa mưa thường gây ngập úng, tạo ra nhiều hồ đầm
trong vùng. Nhiều hệ thống kênh mương dẫn nước, tưới tiêu nước cho khu vực như
kênh Liễn Sơn kéo dài trên 7 huyện, thị từ miền núi, trung du tới vùng đồng bằng (Lập
Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên, Yên Lạc, Vĩnh Tường). Sông Cà Lồ chảy từ xã Vạn
Yên, huyện Mê Linh theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, giữa hai huyện Bình Xuyên và
Mê Linh, có chiều dài 86km. Nguồn nước sông Cà Lồ chủ yếu là tập trung nước các
sông, suối bắt nguồn từ núi Tam Đảo, núi Sóc Sơn. Lưu lượng bình quân chỉ 30 m
3
/s.
Lưu lượng cao nhất về mùa mưa là 286 m
3
/s. Tác dụng chính của sông là tiêu úng vào
mùa mưa lũ. Riêng khúc sông đầu nguồn cũ từ Vạn Yên đến sông Cánh đã được đắp
chặn lại ở gần thôn Đại Lợi (Mê Linh), dài gần 20km, biến thành một hồ chứa nước
lớn tưới ruộng và nuôi cá. Đầm Rưng trải dài trên khu vực 3 xã: Tam Phúc, Tứ Trung,
Ngũ Kiên (Vĩnh Tường) có diện tích mặt thoáng khoảng 205 ha, về mùa lũ có khi lên
tới 500 ha, có tác dụng tưới tiêu cho khu vực xung quanh và nuôi trồng thủy sản.
Đất trong vùng chủ yếu là đất phù sa trung tính ít chua, trong đó có phù sa
trung tính ít chua điển hình, phù sa trung tính ít chua glay nông và sâu, phù sa trung
tính ít chua loang lổ nông và sâu, phù sa trung tính ít chua có kết von. Phù sa chua là
dải nằm ở phía sau dải đất phù sa trung tính ít chua tính từ sông vào. Phía Đông của
vùng là dải đất loang lổ chiếm diện tích khá lớn, có xen lẫn đất xám.
Thảm thực vật rừng trồng ít, do đây là vùng đồng bằng phù sa nên chủ yếu
trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây lương thực. Ngoài ra, còn trồng các
loại cây dược thảo, các loại hoa. Khu vực trong đê thường trồng lúa 1 vụ, 2 vụ; khu
vực ngoài đê thường là đất được sử dụng chuyên trồng màu.
Như vậy, sự phân hóa về địa bàn của Vĩnh Phúc khá phức tạp. Dựa vào đặc
điểm điều kiện tự nhiên, sự phân hóa về địa hình, cấu trúc của lớp địa chất, thổ
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
14
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
nhưỡng, điều kiện khí hậu thủy văn, Vĩnh Phúc được chia thành 3 vùng địa lí tự
nhiên, mỗi vùng có những đặc trưng riêng: vùng núi Tam Đảo, Lập Thạch, Sông Lô
có khí hậu mát mẻ, có tiềm năng du lịch lớn; đồng thời phát triển các loại hình kinh tế
hộ, kinh tế trang trại. Vùng trung du Bình Xuyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Tam Dương
phát triển mạnh cả về công nghiệp lẫn nông nghiệp; vùng đồng bằng Vĩnh Tường,
Yên Lạc, Nam Bình Xuyên đẩy mạnh phát triển các khu công nghiệp tập trung, nông
nghiệp hàng hóa. Đây là vùng có lợi thế phát triển nông nghiệp, các làng nghề và tiểu
thủ công nghiệp.
I.1.1.3. Địa chất
Về đất, có thể nói tiềm năng to lớn nhất của Vĩnh Phúc là đất. Đất ở đây có
nhiều loại. Không kể vùng núi cao Tam Đảo, Vĩnh Phúc chủ yếu là bán sơn địa, vùng
trung du, vùng đồi đất thấp và đồng bằng.
Vùng đồi gò trung du Vĩnh Phúc kéo dài từ Lập Thạch qua Vĩnh Yên đến Mê
Linh là vùng đất mở rộng từ chân núi Tam Đảo ra tới gần quốc lộ 2. Đây là vùng phù
sa cổ được nâng lên, có tầng dày đất sét pha cát có lẫn một ít sỏi và cuội rất thích hợp
để trồng cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày và cây lương thực phụ.
Vùng đồng bằng châu thổ kéo dài từ vùng đồi gò ra tận thung lũng sông Hồng,
sông Lô. Đây là vùng đất phù sa mới, được bồi tụ trong thời toàn tân, chứa nhiều
khoáng chất và vi lượng nên rất phì nhiêu, mầu mỡ, sẵn nước cộng với khí hậu ôn
hoà, rất thuận lợi cho việc thâm canh phát triển nền công nghiệp trồng lúa nước. Nhờ
vậy, mà đất ở Vĩnh Phúc, kể cả vùng gò đồi lẫn đồng bằng châu thổ đã sớm được
khai phá trồng trọt từ thời dựng nước đầu tiên của dân tộc.
I.1.1.4. Thực vật và động vật
Thảm thực vật ở đây thể hiện rõ trong nền cảnh chung của rừng nhiệt đới gió
mùa. Vào cuối thời cảnh tân và thời toàn tân, trên đất Vĩnh Phúc rừng rậm không chỉ
phủ kín dãy Tam Đảo với nhiều loại gỗ quý hiếm, mà vùng đồi gò nhấp nhô, thậm
chí cả vùng đồng bằng bao suốt từ Lập Thạch, Tam Dương đến Bình Xuyên, Mê
Linh cũng là những cánh rừng bạt ngàn.
Qua hàng ngàn, hàng vạn năm bị khai thác, tàn phá nghiệm trọng, đồng bằng
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
15
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
đã trở thành những làng trù phú, những cánh đồng xanh mướt, gò đồi trở nên trơ trụi
bạc màu, còn vùng núi cao rừng sâu Tam Đảo bị chặt phá thảm hại. Thế mà ngày
nay, Tam Đảo vẫn được xem là vùng đa dạng sinh học lớn. Xem thế đủ biết, tiềm
năng thực động vật thời tiền sơ sử phong phú biết bao.
Gần đây thôi và cũng chỉ mới qua khảo sát bước đầu các nhà thực vật học đã
thống kê được trong vườn quốc gia Tam Đảo có tới 130 họ, 344 chi, 490 loài thực vật
bậc cao. Trong đó, nhóm quyết thực vật có 21 họ, 32 chi, 53 loại, nhóm thực vật hạt
kín có 102 họ, 305 chi, 426 loài. Xét về công dụng, có thể phân chia thực vật ở rừng
Tam Đảo thành các nhóm sau. Nhóm cho gỗ có 83 loài, nhóm làm rau ăn có 54 loài,
nhóm làm thuốc có 214 loài và nhóm cho quả ăn có 62 loài. Trong số đó, có nhiều
loài có giá trị cao như Pơmu, La Hán, Kim Giao, Sam Pông, Trầm hương. Những loại
thực vật quý hiếm này tập trung ở đỉnh Rùng Rinh và phân bố ở độ cao trên 800m.
Các loại gỗ tứ thiết đinh, lim, sến, táu, lát hoa, nhiều cây thuốc quý như Sa nhân, Ngũ
gia bì, Hà thủ ô, v.v và nhiều loại cây búng báng thường gặp trong rừng núi Tam
Đảo.
Về động vật, thống kê cho thấy rừng Tam Đảo có tới 4 lớp, 26 bộ, 86 họ, 281
loài. Trong đó, lớp lưỡng cư có 19 loài, đặc biệt là loài cá lóc Tam Đảo được đưa vào
sách đỏ những là động vật cực kỳ quý hiếm. Lớp bò sát có 46 loài, trong đó tắc kè, kỳ
đà, thằn lằn là những loài có số lợng lớn. Lớp chim nhiều hơn cả, có tới 158 loài,
trong đó có nhiều loại quý hiếm như gà lôi trắng, gà tiền. Lớp thú có 58 loài, các loài
lớn nh gấu, hổ, báo, các loại nhỏ như cầy, sóc, chuột, hươu, nai, hoẵng , một số có
giá trị khoa học cao như cheo cheo, voọc đen má trắng, voọc mũi hếch…
Trong số hàng mấy trăm loại động vật ở núi rừng Tam Đảo, có 47 loài được
xem là động vật quý hiếm, trong đó có loài có nguy cơ bị tuyệt diệt. Hiện nay, vườn
quốc gia Tam Đảo vẫn được xem là một bảo tàng thiên nhiên vô giá. Chắc hẳn vào
thời cách tân và toàn tân, không chỉ rừng núi Tam Đảo mà cả Vĩnh Phúc là một quần
thể động thực vật vô cùng phong phú, nguồn cung cấp lương thực quan trọng cho con
ngời lúc bấy giờ, nhất là trong thời kỳ sinh sống bằng săn bắt và hái lượm.
Cũng cần nói thêm, Vĩnh Phúc có sông lớn bao quanh 3 mặt, có nhiều đầm hồ
lớn nhỏ đều khắp các huyện, không những là nguồn cung cấp nước quan trọng mà
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
16
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
còn là nơi cung cấp thực phẩm cần thiết cho cuộc sống con ngời. Đó là các loại thuỷ
sản như cá, tôm, cua, ốc, hến…, trong đó có nhiều loại nổi tiếng cho mãi đến hôm
nay, như cá Anh Vũ trong lòng sông Hồng, vùng Việt Trì - Bạch Hạc được xem là
một đặc sản, một loại cá quý của Vĩnh Phúc. Hoặc như hến trong lòng sông Phan, đã
trở thành một món ăn đặc sản của nhân dân vùng quê Yên Lạc hôm nay. Chắc hẳn từ
thuở xa xưa, người dân nơi đây đã biết đến hến và khai thác hến làm thức ăn. Trong
di chỉ Yên Lạc đã phát hiện được khá nhiều vỏ hến bị đốt cháy là minh chứng cụ thể
sinh động về việc bắt hến chế làm thức ăn của ngời xa xưa.
I.1.1.5. Khí hậu
Vĩnh Phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có đầy đủ các đặc điểm
khí hậu của vùng trung du miền núi phía Bắc.
Nhiệt độ trung bình năm là 23,5 – 25
0
C, nhiệt độ cao nhất là 41.1
0
C, nhiệt độ
thấp nhất là 2
0
C. Tổng số giờ nắng bình quân trong năm là 1.400 đến 1.800 giờ, Độ
ẩm bình quân cả năm là 83%.
Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.400 đến 1.600 mm, trong đó, lượng
mưa bình quân cả năm của vùng đồng bằng và trung du tại trạm Vĩnh Yên là 1.570,2
mm, vùng núi tại trạm Tam Đảo là 2.140 mm. Lượng mưa phân bố không đều trong
năm tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm.
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm.
Bảng 1-2: Lượng mưa trung bình các tháng tỉnh Vĩnh Phúc (mm)
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Trạm
Vĩnh Yên
23.6 25.3 42.9 98.1 182.8 240.2 264.7 295.1 194.7 132.4 52.7 17.6
Trạm
Tam Đảo
10,7 79,5 78,9 112.6 107,8 227,4 167,2 185,5 310,3 117,9 26,6 38,0
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
17
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang Ngành Thủy Văn và Tài nguyên nước
I.1.2. Tình hình dân sinh kinh tế
I.1.2.1. Bản đồ hành chính
Sinh viên: Nguyễn Bá Huy Lớp 48LTV
18

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét