Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Đặc điểm của đầu tư phát triển.Sự quán triệt những đặc điểm này trong công tác quản lý đầu tư.

Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
như khí hậu, đất đai có tác động rất lớn trong việc thi công, khai thác và vận
hành các kết quả đầu tư. Đối với các công trình xây dựng, điều kiện về địa chất
ảnh hưởng rất lớn không chỉ trong thi công mà cả trong giai đoạn đưa công trình
vào sử dụng, nếu nó không ổn định sẽ làm giảm tuổi thọ cũng như chất lượng
công trình. Tình hình phát triển kinh tế của vùng ảnh hưởng trực tiếp tới việc ra
quyết định và quy mô vốn đầu tư. Ngoài ra môi trường xã hội cũng ảnh hưởng
rất lớn đến việc thực hiện các dự án đầu tư như phong tục tập quán, trình độ văn
hóa
Một đặc điểm dễ nhận thấy là hoạt động đầu tư phát triển có độ rủi ro
cao. Mọi kết quả và hiệu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu nhiều ảnh
hưởng của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của không
gian. Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành
các kết quả đầu tư cũng kéo dài nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát
triển thường rất cao, nhiều vấn đề phát sinh ngoài dự kiến buộc các nhà quản lý
và chủ đầu tư cần phải có khả năng nhận diện rủi ro cũng như biện pháp khắc
phục kịp thời. Để quản lý hoạt động đầu tư có hiệu quả trươc hết cần nhận diện
rủi ro. Có rất nhiều rủi ro trong hoạt động đầu tư,các rủi ro về thời tiết ví dụ như
trong quá trình đâu tư gặp phải mưa bão, lũ lụt làm cho các hoạt động thi công
công trình đều phải dừng lại ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ và hiệu quả đầu tư.
Các rủi ro về thị trường như giá cả, cung cầu các yếu tố đầu vào và sản phẩm
đầu ra thay đổi, ví dụ như do thông tin trong sữa Trung Quốc có chất gây bệnh
sỏi thận mà cầu về sữa giảm sút nghiêm trọng, hoạt động đầu tư mở rộng cơ sở
sản xuất chế biến sữa của một số doanh nghiệp vì thế cũng bị ngưng trệ Ngoài
ra quá trình đầu tư còn thể gặp rủi ro do điều kiện chính trị xã hội không ổn
định. Khi đã nhận diện được các rủi ro nhà đầu tư cần xây dựng các biện pháp
phòng chống rủi ro phù hợp với từng loại rủi ro nhằm hạn chế thấp nhất tác động
tiêu cực của nó đến hoạt động đầu tư.
Nhóm I
5
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
II. Sự ảnh hưởng của các đặc điểm đầu tư phát triển đến công tác đầu tư.
1.Trong công tác quản lý vĩ mô và vi mô
1.1 Cấp vĩ mô
Nhà nước cần ban hành các văn bản pháp luật về đầu tư một cách chặt chẽ
và có hệ thống cũng như các văn bản liên quan như luật đất đai, luật đấu
thầu Các văn bản này có tác dụng khuyến khích đầu tư, hướng các hoạt động
đầu tư theo định hưóng của Nhà nước, khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân
tham gia vào các lĩnh vực đầu tư phát triển.
Nhà nước cần có các chính sách để huy động mọi nguồn vốn cho đầu tư
phát triển. Các nguồn vốn có thể huy động được bao gồm nguồn vốn ngân sách,
vốn từ dân cư, vốn ODA, FDI, vốn vay thương mại quốc tế. Nhà nước cần có
các quy định chặt chẽ về phân bổ vốn đầu tư hợp lý theo tiến độ, đầu tư chiều
sâu để mang lại hiệu quả cao nhất.
Mặt khác, nhà nước cũng cần có các quy định về quy hoạch, tránh tình
trạng quy hoạch treo gây thất thoát lãng phí nguồn tài nguyên. Cùng với đó là
đào tạo nguồn nhân lực một cách hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu về nguồn
lực con người trong hoạt động đâu tư.
Ngoài ra, Hệ thống cơ quan chuyên trách về quản lý dự án đầu tư và cán bộ
có trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu thực tế cũng cần được nhà nước
chú trọng xây dựng.
1.2 Ở cấp vi mô
Khi nhà nước đã có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
đầu tư thì các nhà đầu tư cũng cần có các biện pháp để quản lý hoạt động đầu tư
ở tầm vi mô một cách có hiệu quả.
Trước khi tiến hành các hoạt động đầu tư, chủ đầu tư cần nghiên cứu kỹ
các điều kiện về môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội ở địa
phương. Nó giúp cho chủ đầu tư có thể khai thác tối đa lợi thế vùng và nâng cao
hiệu quả vốn đầu tư.
Ngoài ra, doanh nghiệp cần xây dựng một chiến lược đầu tư rõ ràng, khoa
học để hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể gặp phải. Cần rõ ràng trong
Nhóm I
6
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
chuẩn bị về vốn đầu tư, tiến trình đầu tư Một điều cũng rất quan trọng đó là cần
xác định chính xác sự thay đổi của cung cầu trên thị trường về đầu vào và đẩu ra
của dự án, đưa ra được dự báo chính xác trong tương lai để có các biện pháp
điều chỉnh kịp thời.
2. Trong công tác chuẩn bị, thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư
2.1Công tác chuẩn bị đầu tư
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai
đoạn sau, đặc biệt là với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư. Ở giai đoạn này, vấn
đề chất lượng, chính xác kết của kết quả nghiên cứu. Tổng chi phí giai đoạn
chuẩn bị chiếm từ 0,5- 15% vốn đầu tư chảy vào dự án. Làm tốt công tác chuẩn
bị đầu tư sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng tốt phần vốn còn lại, tạo cơ sở cho quá
trình hành động của dự án được thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư,
nhanh chóng phát huy hết nguồn lực phục vụ dự kiến.
Quá trình chuẩn bị đầu tư gồm 4 bước: nghiên cứu cơ hội đầu tư, nghiên
cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi và thẩm định dự án.
Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác chuẩn bị
đầu tư được thể hiện qua các mặt như:
- Với đặc điểm vốn, vật tư lao động cho dự án đầu tư lớn:
Thứ nhất là có giải pháp huy tạo vốn và huy động vốn hợp lý. Các chính
sách và giải pháp huy động vốn cho các dựa án đầu tư phải gắn với chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn. Trong điều kiện mà nhu cầu vốn
đầu tư rất lớn như hiện nay việc đa dạng hóa các kênh huy động vốn, hiện đại
hóa các hình thức và phương tiện huy động vốn là vô cùng cần thiết. Các nguồn
huy động vốn cho đầu tư phát triển có thể qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu,
vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước Các chính sách huy
động vốn phải được tiến hành đồng bộ cả về nguồn vốn và biện pháp thực hiện,
phù hợp với quy hoạch ngành, lãnh thổ và lĩnh vực ưu tiên.
Thứ hai là thực hiện đầu tư có trọng tâm trọng điểm, tránh đầu tư dàn trải,
gây thất thoát lãng phí nguồn lực. Với các dự án trọng điểm cần tập trung thực
hiện dứt điểm, kiên quyết cắt giảm các hạng mục công trình chưa thực sự cần
Nhóm I
7
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
thiết, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải. Đồng thời có các biện pháp bố trí vốn
theo tiến độ của dự án, kế hoạch bố trí vốn phải bám sát những định hướng, chủ
trương của chính phủ, các bộ ngành có liên quan.
Thứ ba, cần có các giải pháp về tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ lao
động một cách hợp lý, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu về nhân lực theo tiến độ
đầu tư. Hiện nay vẫn xảy ra tình trạng nhân lực cho các dự án rất dồi dào nhưng
số lượng đáp ứng được các yêu cầu của dự án lại rất thấp, phần lớn lao động
không được đào tạo bài bản, hoặc không đáp ứng được yêu cầu của dự án. Nhiều
dự án mặc dù đã chính thức đầu tư và khởi công nhưng lại không thực hiện
được đúng tiến độ do bài toán về lao động. Để tránh tình trạng trên, các dự án
khi chuẩn bị đầu tư cần phải xây dựng kế hoạch tuyển dụng , phương án đào tạo
lao động kịp thời, để việc đào tạo lao động sát với nhu cầu thực tế.
-Với đặc điểm thời kỳ đầu tư kéo dài:Yêu cầu đặt ra là cần tiến hành quản
lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, lập tiến độ thi công xây dựng cụ thể trong
từng giai đoạn, đảm bảo tiến độ ngay từ khâu giải phóng mặt bằng. Tiến độ thi
công xây dựng công trình phải phù hợp với tiến độ của dự án đã được phê duyệt.
Một trong các yếu tố làm cho thời kỳ đầu tư thực tế thường kéo dài hơn nhiều so
với dự kiến đó là tình trạng thiếu vốn. Chính vì vậy cần có các giải pháp về bố
trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công
trình, bố trí xen kẽ các công việc cần thực hiện nhằm đảm bảo đúng thời gian
hoàn thành dự án.
- Về đặc điểm đầu tư phát triển phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên kinh
tế-xã hội vùng. Trước hết cần nghiên cứu tiềm năng thế mạnh của từng vùng, địa
phương, các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển. Điều này ảnh hưởng rất
lớn đến việc ra quyết định đầu tư. Chủ đầu tư cần nghiên cứu kỹ và lựa chọn địa
điểm đầu tư phù hợp nếu không chủ đầu tư sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro về
nhiều mặt cả về tự nhiên lẫn kinh tế xã hội. Do đó, khi lựa chon địa điểm đầu tư
cần dựa trên những căn cứ khoa học, dựa vào hệ thống các chỉ tiêu về tự nhiên,
kinh tế, chính trị, xã hội nhằm khai thác tối đa lợi thế của vùng, nâng cao hiệu
quả vốn đầu tư.
Nhóm I
8
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
- Với đặc điểm đầu tư phát triển có độ rủi ro cao: Cần có biện pháp tổng thể
quản lý rủi ro bao gồm từ việc nhận diện rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro và xây
dựng biện pháp phòng và chống rủi ro, điều này rất quan trọng. Xác định đúng
nguyên nhân rủi ro là khâu quan trọng đầu tiên để tìm ra giải pháp phù hợp để
khắc phục. Mặt khác, việc đánh giá xếp thứ tự ưu tiên rủi ro sẽ đưa ra được biện
pháp tối ưu xử lý rủi ro, hạn chế thấp nhất được các thiệt hại có thể có do rủi ro
gây ra trong suốt vòng đời của dự án.
2.2Quá trình thực hiện đầu tư
Giai đoạn thực hiện đầu tư: Vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả, 85-
95.5% vốn đầu tư được chia ra và huy động trong suốt những năm thực hiện đầu
tư. Đây là những năm vốn không sinh lời, thời hạn thực hiện đầu tư cũng kéo
dai, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng lớn. Thời gian thực hiện đầu tư phụ
thuộc nhiều vào công tác chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, quản lý quá trình
việc thưc hiện những hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến các kết quả của
quá trình thực hiện những hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến các kết quả
của quá trình thực hiện đầu tư đã được xem xét trong dự án đầu tư.
Quá trình thực hiện đầu tư gồm: hoàn tất thủ tục đầu tư, thiết kế lập tổng dự
toán, xây dựng mua sắm trang thiết bị, tuyển dụng đào tạo lao động, nghiệm thu,
thanh quyết toán, bàn giao kết quả.
Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển ở giai đoạn hai này được
thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất cần quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư. Do ở giai đoạn
này vốn nằm khê đọng trong thời gian dài nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư,
cần tiến hành phân kỳ hoạt động đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung
hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế
hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nhất là trong xây dựng cơ bản. Do
yếu kém trong quản lý mà nhiều chủ đầu tư đã làm thất thoát nguồn vốn, khiến
cho vốn đầu tư thực tế cao hơn rất nhiều so với dự toán ban đầu Cần có chính
sạch đào tạo nguồn nhân lực, đãi ngộ công nhân và chuyên gia. Điều này càng
đảm bảo hơn cho sự thành công của giai đoạn thực hiện đầu tư.
Nhóm I
9
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
Mặt khác, cần rút ngắn thời gian đầu tư, đảm bảo đúng tiến độ thi công
công trình. Thời gian hoàn thành dự án càng ngắn thì chi phí và rủi ro càng ít.
Hoạt động đầu tư luôn luôn gắn liền với yếu tố rủi ro, điều quan trọng là nhận
biết và khắc phục được chúng trong quá trình thực hiện đầu tư. Kéo dài thời gian
thực hiện là kéo thêm một khoản chi phí, tăng thêm những rủi ro, những bất trắc,
mất đi cơ hội cạnh tranh trên thị trường, hiệu quả đầu tư vì thế cũng giảm
sút.Bên cạnh đó cần quản lý chặt chẽ việc sử dụng nguyên vật liệu, tránh lãng
phí, nâng cao hiệu suất sử dụng. Bên cạnh đó, cũng cần có sự đầu tư về mặt
công nghệ, lắp đặt các dây chuyền thiết bị hiện đại, phù hợp với trình độ quản
lý và sử dụng giúp cho chủ đầu tư nâng cao được chất lưọng sản phẩm, mặt khác
lại tiết kiệm được đáng kể chi phí về vận hành, về nhân công, nguyên vật liệu và
năng lường, góp phần nâng cao hiệu quả trong thực hiện đầu tư.
2.3Quá trình vận hành kết quả đầu tư
Giai đoạn vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư nhằm đạt
được các giai mục tiêu của dự án, nếu các két quả do giai đoạn thực hiện đầu tư
tạo ra đảm bảo tính đồng bộ, tồn tại thấp, chất lượng tốt, đúng tiến độ tại thời
điểm thích hợp, với quy mô tối ưu thì hiệu quả hoạt động của các kết quả này và
mục tiêu của dự án chỉ còn phụ thuộc trực tiếp vào quá trình tổ chức quản lý
hoạt động. Làm tốt công tác của giai đoạn chuẩn bị và thực hiện đầu tư sẽ tạo
thuận lợi cho quá trình tổ chức quản lý phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư.
Thời gian phát huy tác động của các kết quả đầu tư chính là đời của dự án nó
gắn với đời sống của sản phẩm trên thị trưòng.
Đây là giai đoạn thu hồi vốn, dự án có đạt mục tiêu hay không phụ thuộc
vào kết quả hoạt động của giai đoạn này. Giai đoạn vận hành khai thác là giai
đoạn mà hiệu quả khai thác nguồn lực được thể hiện rõ nét phụ thuộc vào năng
lực tổ chức quản lý điều hành. Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển
trong công tác vận hành kết quả đầu tư bỉểu hiện ở các mặt:
Thứ nhất, xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học nhằm có
những bước đi phù hợp trong mỗi giai đoạn cụ thể cả ở cấp vĩ mô và vi mô về
nhu cầu thị trường đối với sản phẩm đầu tư tương lai, dự kiến khả năng cung
Nhóm I
10
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
ứng từng năm và toàn bộ vòng đời của dự án. Từ đó nắm bắt được thời cơ để tạo
ra những bứơc nhảy vọt trong đời của dự án.
Thứ hai, quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa thành quả đầu tư
vào sử dụng, hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn, tránh các
hao mòn vô hình. Đồng thời cần tuân thủ chiến lược về công suất. Vòng đời sản
phẩm của dự án càng dài thì lợi nhuận thu được càng lớn, do đó hiệu quả đầu tư
càng cao.
Ngoài ra, cần chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư. Đầu
tư trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay trong
năm đó mà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm. Đây là đặc điểm rất
riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưỏng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư.
Nhóm I
11
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ TÌNH
HÌNH QUÁN TRIỆT CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
TRONG CÔNG TÁC ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
I,Thực trạng đầu tư phát triển ở Việt Nam
1,Huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Thực tiễn Việt Nam từ khi thực hiện chính sách đổi mới mở cửa ,bên cạnh
việc thoát khỏi khủng hoảng kinh tế Việt Nam còn đạt đựoc thành tích tăng
trưởng kinh tế cao liên tục(bình quân GDP hàng năm trong giai đoạn 1991_2005
đạt 7.5%có những giai đoạn cá biệt 2 năm tăng liên tục trên 9% mỗi năm). Điều
đó làm cho khả năng huy động ,khai thác và sử dụng các nguồn vốn đầu tư được
mở rộng hơn.Tốc độ gia tăng quy mô đầu tư gia tăng đáng kể trung bình tăng
hơn 20%/năm).Tỷ trọngvốn đầu tư phát triển gia tăng mạnh mẽ (năm 1991 chỉ
khoảng 17.6% GDP thì đến năm 2005 đã đạt xấp xỉ 38.7%GDP).Trong đó cả
nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài đều có sự chuyển biến về quy
mô và tốc độ tăng trưởng.
Trong nguồn vốn đầu tư của nước ta nguồn vốn trong nước chiếm 70%
tổng sổ vốn đầu tư và 30% tổng vốn đầu tư là huy động từ nước ngoài. Trong
nguồn vốn trong nứoc thì vốn tư ngân sách Nhà nước và các doanh nghiệp Nhà
nước là chủ yếu,chiếm khoảng 53.7%.Trong đó vốn đầu tư từ ngân sách Nhà
nứơc chiếm khoảng 22.5%trong tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, vốn
tín dụng đầu tư của nhà nước chiếm tỷ 15,7%, vốn đầu tư của những doanh
nghiệp Nhà nước chiếm 17.1%.Vốn đầu tư của khu vực tư nhân và dân cư chiếm
25,3%,vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 17,8%,các nguồn vốn huy động
khác chiếm khoảng 4,7%.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hôi tăng đáng kể năm 2005 số vốn đầu tư toàn xã
hội là 3.301,780 tỷ đồng; năm 2006 tổng số vốn đầu tư tòan xã hội là 4.027,166
tỷ đồng; và năm 2007 con số đó là 4.851,917 tỷ đồng(tính theo giá trị hiệ hành).
Như vậy trong vòng 3 năm 2005-2007 tổng số vốn đầu tư toàn xã hội tăng
khoảng 46,95%.
Vốn nhà nước tăng liên tục qua các năm;năm 2005 là 1.198,814 tỷ đồng,
năm 2006 là 1.244,303 tỷ đồng, năm 2007 là 1138,762 tỷ đồng. Ngân sách nhà
Nhóm I
12
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư phát triển và vốn ngân sách
nhà nước chiếm khoảng 70% vốn nhà nước.Trong ngân sách nhà nước thì nguồn
thu chủ yếu là từ thuế và phí (chiếm tới 90%),tăng trung bình 17%/năm.Trong
đó ngân sách trung ương chiếm khoảng 10%(năm 2007 vốn ngan sách trung
ương là 74,911 tỷ đồng trong tổng ngân sách nhà nước là 778,46 tỷ đồng, chiếm
khoảng 9,624%);ngân sách địa phương đóng góp khoảng 90%(năm 2007 vốn
ngân sách đia phương là 703,549 tỷ đồng, chiếm khoảng 90,376%) .GDP đóng
góp vào ngân sách nhà nứơc khoảng 23.5%.Tỷ lệ đầu tư phát triển chiếm 29.7%
trong tổng vốn ngân sách nhà nước. Nguồn vốn tín dụng đầu tư cũng cố những
chuyển biến tiến bộ, tuy nhiên trong những năm gần đây nguồn vốn đầu tư tín
dụng Nhà nước xu hướng giảm dần do nhà nước có chủ trương thu hẹp đối
tương cho vay ,hạn chế cho vay theo dự án và đẩy mạnh thực hiện hỗ trợ lãi suất
đầu tư.Năm 2005 số vốn tín dụng nhà nước là 159,816 tỷ đồng, năm 2006 là
117,554 tỷ đồng,, và năm 2007 là 91,877 tỷ đồng; giảm khoảng 42,5% trong
vòng 3 năm. Nguồn vốn tín dụng từ các nguồn khác tăng lên rất nhanh;năm
2005 là 122,317 tỷ đồng, năm 2006 là 288,165 tỷ đồng;năm 2007 là 221,608 tỷ
đồng; mức tăng khoảng 81,17%.
Vốn đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh trong những năm gần đây được
chú trọng, tăng khoảng 78,5%trong vòng 3năm 2005-2007 (năm 2005 là
2024,563 tỷ đồng và năm 2007 là 3613,629 tỷ đồng).Theo điều tra thực tế năm
2007 thì số vốn của các hộ gia dình là 1283,919 tỷ đồng và vốn của các tổ chức
doanh nghiệp là 2329,71 tỷ đồng.
Để tăng vốn cho đầu tư phát triển, chính phủ thực hiện huy động vốn thông
qua việc phát hành trái phiếu chính phủ từ năm 2003.Năm 2003 là 8.1 nghìn tỷ
đồng, năm 2004 là 6.5 nghìn tỷ đồng và năm 2006 khoảng 13.1 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, chúng ta luôn coi trọng việc thu hút nguồn vốn từ bên ngoài.
Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật và cơ chế chính sách với mục đích
khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài mang vốn,công nghệ quản lý hiện đại vào
Việt Nam.Cùng với đó là tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư
nước ngoài,giữ vững môi trường kinh tế vĩ mô ổn định,giảm chi phí đầu tư,giải
quyết những vướng mắc cụ thể cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước.
Đặc biệt từ khi Việt Nam là thành viên của tổ chúc thương mại thế giới WTO
Nhóm I
13
Đặc điểm của Đầu tư Phát triển, quán triệt những đặc điểm này trong công tác đầu tư
vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam gia tăng đáng kể.Vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài năm 2005 là 78,400 tỷ đồng, năm 2006 là 97,175 tỷ đồng, năm 2007
99,525 là tỷ đồng.Vốn đầu tư nước chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư phát
triển của nền kinh tế.Ngoài các nguòn vốn chủ yếu là ODA và FDI,vào Việt
Nam còn có lượng vốn mà doanh nghiệp tự đi vay nước ngoài hoặc vốn huy
động thông qua phát hành trái phiếu chính phủ bằng ngoại tệ ra nước ngoài.Tuy
nhiên chúng ta cũng chỉ mới phát hành tráiphiếu chính phủ ra nước ngoài nên
nguồn vốn này chưa đáng kể.
Nguồn vốn ODA trong thời gian qua đạt thành tựu quan trọng.tổng mức ODA
các nhà tài trợ cam kết cho nước ta trong giai đoạn 2000-2006 ước tính đạt 31 tỷ
USD,trong đó các khoản viện trợ không hoàn lại chiếm 15-20%.Nguồn vốn ODA
đã được giải ngan khoảng 15.5 tỷ USD ,chiếm khoảng 50% giá trị ODA cam kết
tài trợ,trong đó 80% nguồn vốn đầu tư cho đầu tư phát triển còn lại là chi cho sự
nghiệp,tốc độ giải ngân là 11.3%.Hiện nay có 25 nhà tài trợ song phương,14 tổ
chức tài trợ đa phương và trên 350 NGO hoạt động tại Việt Nam.
Thu hút vốn FDI cũng đạt kết quả tích cực khoảng 298,4 nghìn tỷ
đồng,tương ứng khoảng 19.5% nguồng vốn đầu tư phát triển của toàn nền kinh
tế.Trong số 64 nước đầu tư tại Việt Nam ,các nước châu Á chiếm trên 76% số
dự án và trên 70% số vốn đăng kí,trong đó Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc
,Hồng Kông chiếm trên 605 số dự án và đăng kí còn các nước EU chiếm khoảng
16% vê số dự án và 24% số vốn đăng kí,Hoa Kì chiếm khoảng 19.55 số dự án
va 2.7%sô vốn đăng kí.
Bên cạnh ODA và FDI thì một lượng vốn không nhỏ được chuyển vào
nước ta là kiêu hối chuyển về hang năm .Lượng kiều hố năm 2006 dạt 4.5 tỷ
USDvà năm 2007 lên tới 10 tỷ USD, mức cao nhất từ trước tới nay.So với tổng
mức ngoại tệ Việt kiều gửi về nước năm 2006, lượng kiều hối năm 2007 tăng gần
50%. Nguyên nhân là do chính phủ Việt Nam áp dụng các quy chế mới đối với
Việt kiều trong các lĩnh vực đầu tư, bất động sản và miễn thị thực nhập cảnh. Đặc
biệt gần đây quốc hội thông qua điều luật cho Việt kiều mua nhà tại Việt Nam.
Ngoài các nguồn vốn trên thì còn một lượng vốn vay của nước ngoài .Tuy
nhiên, lượng vốn này không đáng kể, chỉ đạt khoảng 50 nghìn tỷ đồng. Lượng trái
phiếu chính phủ phát hành ra nước ngoài bằng ngoại tệ khoảng 5.5 nghìn tỷ đồng.
Nhóm I
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét