Bất kỳ hoạt động nào của một tổ chức đều mong muốn đạt hiệu quả cao
nhât trên mọi phương diện kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Hoạt động kinh
doanh trong cơ chế thị trường yêu cầu hiệu quả càng đòi hỏi cấp bách, vì nó là
động lực thúc đẩy các doanh nghiệp cạnh tranh và phát triển. Hiệu quả kinh
doanh của các doanh nghiệp chủ yếu xét trên phương diện kinh tế có quan hệ với
hiệu quả xã hội và môi trường.
Thực chất của hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa các kết quả đầu ra
với các yếu tố đầu vào của một tổ chức kinh tế được xem xét trong một thời kỳ
nhất định, tuỳ theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh.
Kết quả đầu ra
Hiệu quả kinh doanh =
_____________________
Yếu tố đầu vào
Hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội. Chính việc
khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thoả mãn
nhu cầu ngày càng cao của xã hội đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để
và tiết kiệm nguồn lực. Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc
phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu năng của các yếu tố
sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí có thể (Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng
đó là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao
gồm cà chi phí cơ hội). Vậy nên, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu.
II. Nội dung phân tích hiệu quả kinh doanh
Về cơ bản hiệu quả kinh doanh được phản ánh trên hai mặt là hiệu quả
kinh tế và hiệu quả xã hội, trong đó hiệu quả kinh tế được các doanh nghiệp quan
tâm hơn và có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả xã hội. Khi phân tích hiệu quả
SVTH: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kế hoạch 47A
kinh doanh, các chỉ tiêu cần được xem xét gắn với thời gian, không gian và môi
trường của các chỉ tiêu nghiên cứu. Mặt khác, hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp còn đặt trong mối quan hệ với hiệu quả xã hội và trách nhiệm bảo vệ môi
trường và nguồn tài nguyên của đất nước.
Phân tích hiệu quả kinh doanh cần phải kết hợp nhiều chỉ tiêu hiệu quả ở
các bộ phận, các mặt của quá trình kinh doanh như chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài
sản dài hạn, tài sản ngắn hạn, nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay, chi phí…
Ngoài ra, có thể đi phân tích từ chỉ tiêu tổng hợp đến chỉ tiêu chi tiết, từ đó khái
quát hoá để đưa ra thông tin hữu ích là cơ sở đưa ra các quyết định phục vụ quá
trình kinh doanh.
1. Hiệu quả kinh tế:
Hiệu quả kinh tế được xây dựng bởi các chỉ tiêu cụ thể thông qua việc tính
toán các số liệu thu thập được trong khoảng thời gian cụ thể. Kết quả của nó
mang tính định lượng và cho phép so sánh một cách tương đối giữa các thời kỳ
với nhau.
Hiệu quả kinh tế biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi
phí bỏ ra để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc tính toán, xác định
hiệu quả kinh tế chính là việc so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả đạt được. Chi
phí và kết quả có quan hệ biện chứng với nhau, chúng phụ thuộc vào nhau, tách
rời ra thì hiệu quả kinh tế không tồn tại. Hiệu quả kinh tế mà doanh nghiệp muốn
là một số dương, điều này đòi hỏi chi phí bỏ ra phải nhỏ hơn kết quả thu được thì
hoạt động kinh doanh mới có hiệu quả.
2. Hiệu quả xã hội:
Hiệu quả xã hội là những đánh giá về mức sống, thu nhập, môi trường, sự
phát triển của con người… Kết quả của hiệu quả xã hội vừa mang tính định
SVTH: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kế hoạch 47A
lượng thông qua tính toán các chỉ tiêu đã định sẵn đồng thời cũng mang tính định
tính được nhận biết bằng trực quan. Sự hình thành hiệu quả xã hội không cố định
về thời gian, không gian, có những tiêu chí thấy được ngay nhưng cũng có những
tiêu chí phải được hình thành trong một thời gian dài mới có hiệu quả.
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội mặc dù có cách thể hiện khác nhau
nhưng có mối liên hệ biện chứng với nhau: hiệu quả kinh tế là cơ sở, tiền đề để
tạo ra hiệu quả xã hội. Hay nói cách khác hiệu sản xuất kinh doanh có lợi nhuận
dẫn đến các đơn vị kinh tế tạo lập, hoàn thiện môi trường văn hoá xã hội, nâng
cao mức sống của các thành viên, nâng cao kiến thức, trình độ, sự hiểu biết của
con người. Đồng thời sự đóng góp của các doanh nghiệp về kinh tế đối với nền
kinh tế quốc dân sẽ thúc đẩy những chuyển biến về cơ chế quản lý, phát triển cơ
sở hạ tầng, thúc đẩy sự hoà nhập vào khu vực và trên thế giới.
Ngược lại, hiệu quả xã hội sẽ tạo ra môi trường, những cơ hội thuận lợi để nâng
cao hiệu quả kinh tế thông qua chế độ chính sách hợp lý, năng lực của con người
trong việc phát triển khoa học công nghệ, nhận biết thông tin đầy đủ về thị
trường, mối quan hệ giữa các đơn vị kinh tế ,ngành kinh tế và các quốc gia.
Mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội không phải lúc nào cũng
diễn ra theo chiều thuận lợi. Cụ thể như hiệu quả kinh tế tăng lên dẫn đến phân
hoá giàu nghèo gay gắt, huỷ hoại môi trường, chuyên môn hoá dẫn tới con người
kém năng động. Mặt khác, hiệu quả xã hội ở một bộ phận nào đó có tăng nhưng
không phải bắt nguồn từ chính các bộ phận kinh tế đó mà là qua nguồn vốn đầu
tư (bằng ngân sách, viện trợ) hay xuất phát từ chủ trương, chính sách của Nhà
nước nhằm duy trì và phát triển các doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu công ích
toàn xã hội.
SVTH: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kế hoạch 47A
Trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa hai bộ phận của hiệu quả kinh doanh
thì hiệu quả kinh tế là nhân tố quyết định, nó chi phối hiệu quả xã hội và khẳng
định sự phát triển của doanh nghiệp trên thị trường.
Đối với doanh nghiệp Quốc phòng
• Hiệu quả kinh tế: Trong các doanh nghiệp Quốc phòng, hiệu quả kinh tế
được hình thành từ hai nguồn chính đó là sản xuất Quốc phòng và sản xuất kinh
tế.
- Đối với sản xuất QP: Hiệu quả kinh tế phần lớn phụ thuộc vào các chế độ
chính sách Nhà nước (như định mức, quy định tỷ lệ hỏng…). Do đó khi chính
sách thay đổi, nhiệm vụ thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi trong hiệu quả kinh tế.
- Đối với sản xuất KT: Hiệu quả kinh tế là do chính năng lực của các doanh
nghiệp tạo ra trong quá trình kinh doanh. Nó được hình thành trong quá trình
hoạt động của doanh nghiệp, bị chi phối bởi các quy luật kinh tế và chịu ảnh
hưởng của nhiệm vụ sản xuất QP.
• Hiệu quả xã hội: Ngoài vấn đề chung của các doanh nghiệp cần đạt được
của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, hiệu quả xã hội lớn nhất của các
doanh nghiệp QP là “duy trì và nâng cao tiềm lực quốc phòng”. Mặt khác phải
đảm bảo duy trì và phát triển môi trường xã hội văn hoá với địa phương đóng
quân, doanh nghiệp đặt trụ sở. Tất cả các vấn để đó khẳng định rằng mặc dù
không phải là điều kiện quyết định nhưng hiệu quả xã hội đối với doanh nghiệp
QP là hết sức quan trọng. Nó đòi hỏi sự quan tâm của các doanh nghiệp và sự
đầu tư của Nhà nước tạo ra sự khác biệt trong quá trình hình thành hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp QP so với các thành phần kinh tế khác.
Như vậy đã có sự khác biệt trong quá trình hình thành hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp QP so với các thành phần kinh tế khác. Sự khác biệt đó cùng
SVTH: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kế hoạch 47A
với mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp QP đã dẫn tới những thay
đổi cơ bản trong mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội. Mối
quan hệ đó xuất phát từ nhiệm vụ của doanh nghiệp QP là đảm bảo sản xuất QP
theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước.
Hiệu quả kinh doanh đạt được mục tiêu hoạt động công ích nhằm giữ
vững an ninh QP, ổn định chính trị, phát triển kinh tế. Hiệu quả xã hội là một
tiêu chí bắt buộc và hình thành trước hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh tế được đảm
bảo trên cơ sở đã hình thành mục tiêu xã hội, thông qua chế độ chính sách cụ thể
của Nhà nước. Đồng thời hiệu quả trong sản xuất QP được nâng cao bởi sự vận
động của chính các doanh nghiệp.
Trong lĩnh vực sản xuất kinh tế, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
QP được thể hiện đầy đủ trên hai phương diện kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, hiệu
quả kinh tế được hình thành trước là điều kiện bắt buộc để doanh nghiệp tồn tại
và phát triển. Đồng thời hiệu quả kinh tế là cơ sở để tạo ra hiệu quả xã hội trực
tiếp của doanh nghiệp và một phần chuyển sang mục đích nâng cao năng lực sản
xuất QP sẽ gián tiếp tạo ra hiệu quả xã hội trong phạm vi lớn hơn.
Vậy nội dung hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp quốc phòng được
thể hiện một cách rộng rãi hơn, phải được xem xét trong mối liên hệ hữu cơ với
hiệu quả của toàn nền kinh tế. Hiệu quả trong hoạt động của các doanh nghiệp
QP tăng lên sẽ tác động tới ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Ngược lại, nền kinh tế quốc dân phát triển sẽ tạo điều kiện và môi trường thuận
lợi để các doanh nghiệp QP có những cơ hội tốt cho sự phát triển toàn diện.
III. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
SVTH: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kế hoạch 47A
Thông thường trước khi tiến hành đánh giá một cách chi tiết, cụ thể hiệu
quả kinh doanh, doanh nghiệp cần đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh,
nghiên cứu một cách toàn diện cả về thời gian, không gian, môi trường kinh
doanh và đồng thời đặt nó trong mối quan hệ với hiệu quả chung của toàn xã hội.
Về môi trường kinh doanh, doanh nghiệp cần phải phân tích vị thế của
mình trong hiện tại và nắm bắt được môi trường bên ngoài, để từ đó dự đoán
những khả năng có thể xảy ra trong tương lai, từ đó có các biện pháp ứng xử kịp
thời.
Về thời gian, các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh thường là kết quả của một
quá trình đạt được trong một khoảng thời gian nhất định. Do vậy khi phân tích
các chỉ tiêu thường gắn với thời gian cụ thể để tiện so sánh: tháng, quý, năm.
Về không gian, các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh thường gắn với các địa
điểm cụ thể như doanh nghiệp A hay thị trường B. Mặt khác, hiệu quả kinh
doanh cũng thường gắn với các hoạt động thựcvhiện trong mọi bộ phận kinh
doanh của doanh nghiệp: Hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, hoạt động
đầu tư tài chính… từ tổng công ty đến các công ty con và các chi nhánh…
Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh, nhằm biết được hiệu quả kinh
doanh ở mức độ nào, xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp và những nhân tố
ảnh hưởng. Thông qua việc đánh giá nhằm đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu
quả kinh doanh, tăng khả năng sinh lời phải đảm bảo hiệu quả kinh tế, xã hội
như tôn trọng pháp luật, quyền lợi cho cán bộ, nhân viên, bảo vệ tài nguyên, môi
trường.
1. Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp.
Đây là chỉ tiêu phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và
hiệu năng quản lý của một doanh nghiệp. Các chỉ tiêu này thể hiện mối quan hệ
SVTH: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kế hoạch 47A
giữa kết quả thu được từ hoạt động của doanh nghiệp và các phương tiện, nguồn
lực để tạo ra kết quả đó.
Doanh thu
H =
_____________________
Chi phí đầu vào
Trong thực tế thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
• Chỉ tiêu doanh lợi doanh thu (ROS): Chỉ tiêu này phản ánh số lợi
nhuận thu được trong 100 đồng doanh thu.
Lợi nhuận sau thuế
ROS =
__________________________
Doanh thu
Giá trị trung bình của ngành là 2,9%.
• Chỉ tiêu doanh lợi tài sản (ROA): ROA đo lường hoạt động của doanh
nghiệp trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận, không phân biệt tài sản này
được hình thành bởi nguồn vốn vay hay vốn chủ sở hữu. Ý nghĩa của ROA cho
biết hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
Thu nhập sau thuế
ROA =
_____________________________
Tổng tài sản
Giá trị trung bình của ngành là 8,8%
• Chỉ tiêu doanh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE): Chỉ tiêu này cho thấy
kết quả của việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận cho chủ sở hữu. ROE có liên
quan đến chi phí trả lãi vay, vì vậy nó là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử
dụng vốn của chủ sở hữu dưới tác động của đòn bẩy tài chính (hệ số nợ và hệ số
thanh toán lãi vay).
SVTH: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kế hoạch 47A
Lợi nhuận sau thuế
ROE =
________________________________
Tổng vốn chủ sở hữu
Giá trị trung bình của ngành là 17,5
2. Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của các yếu tố sản xuất.
2.1Hiệu quả sử dụng lao động:
- Chỉ tiêu năng suất lao động bình quân:
Doanh thu
NSLĐ bq =
________________________________
Số lao động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết: Trong 1 thời kỳ, bình quân lao động của doanh nghiệp
tạo ra được giá trị là bao nhiêu. Qua đó thấy được trình độ sử dụng lao động
ưu việt chưa và từ đó doanh nghiệp có biện pháp điều chỉnh hợp lý.
- Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân 1 lao động:
Lợi nhuận
Lợi nhuận bình quân 1 LĐ =
_______________________________
Số lao động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết: bình quân lao động của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận, rút ra được mức lãi trong kinh doanh và khả năng tích luỹ của
doanh nghiệp
2.2 Hiệu quả sử dụng vốn:
Trong mọi doanh nghiệp, nguồn vốn đểu bao gồm hai bộ phận: vốn chủ sở
hữu và nợ. Mỗi bộ phận này được cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tuỳ
theo tính chất của chúng. Tuy nhiên, việc lựa chọn nguồn vốn trong các doanh
nghiệp khác nhau sẽ không giống nhau, nó phụ thuộc vào một loạt các nhân tố
SVTH: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kế hoạch 47A
như: trạng thái của nền kinh tế, ngành hay lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp,
quy mô và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, chiến lược phát triển và chiến lược
đầu tư của doanh nghiệp, chính sách thuế của Nhà nước…
Kết quả của việc quản lý và sử dụng vốn có ảnh hưởng trực tiếp đến kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp. Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, thường
dụng các chỉ tiêu sau:
• Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tổng hợp:
Kết quả đầu ra
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh =
_______________________________________
Vốn kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn sản xuất kinh doanh bình quân dùng
vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng kết quả đầu ra.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp càng lớn. Để nâng cao chỉ tiêu này, một mặt doanh nghiệp phải
tăng quy mô của kết quả đầu ra, mặt khác phải sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ
cấu của vốn sản xuất kinh doanh.
• Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh:
Tổng lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh =
______________________________________
Vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn dùng vào sản xuất kinh doanh trong
kỳ thì doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn
thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu càng lớn. Chỉ tiêu này cao thường
giúp các nhà quản trị có thể đi huy động vốn mới trên thị trường tài chính để tài
trợ cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Ngược lại nếu chỉ tiêu này nhỏ và vốn
SVTH: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kế hoạch 47A
chủ sở hữu dưới mức vốn điều lệ thì hiệu quả kinh doanh thấp, doanh nghiệp sẽ
gặp khó khăn trong việc thu hút vốn. Tuy nhiên sức sinh lời của vốn chủ sở hữu
cao không phải lúc nào cũng thuận lợi vì có thể là do ảnh hưởng của vốn chủ sở
hữu nhỏ mà vốn chủ sở hữu càng nhỏ thì mức độ mạo hiểm càng lớn. Do vậy khi
sử dụng chỉ tiêu này cần kết hợp với cơ cấu của vốn chủ sở hữu trong từng doanh
nghiệp cụ thể.
2.3 Hiệu quả sử dụng các nguồn lực chi phí:
Chi phí trong kỳ của doanh nghiệp chi ra thường bao gồm: Giá vốn hàng
bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí tài chính, chi phí
khác. Đó là các khoản chi phí bỏ ra để thu lợi nhuận trong kỳ. Để đánh giá hiệu
quả sử dụng chi phí thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
• Tỷ suất lợi nhuận trước thuế so với tổng chi phí:
Lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế so với tổng chi phí =
_____________________________
x 100
Tổng chi phí
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chi
phí thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế, chỉ tiêu này càng cao
chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được
các khoản chi phí chi ra trong kỳ.
• Tỷ suất lợi nhuận so với giá vốn hàng bán:
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Lợi nhuận từ HĐKD
Tỷ suất lợi nhuận so với giá vốn hàng bán =
______________________________
x 100
Giá vốn hàng bán
SVTH: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kế hoạch 47A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét