Tạo tán
Thu hoạch
2.3 Thời vụ
Tuổi thọ bình quân của cây bưởi từ 10 – 20 năm, nếu đất tốt cây có thể sống lâu hơn. Cây
trồng sau 3 năm đã cho trái quanh năm.
Theo nông dân mùa thu họach bưởi chính vào khoảng tháng 8,9 và mùa nghịch vào tháng 2 –
tháng 4. Ngoài ra còn có Mùa Tết (20 -25 Tết), bưởi được neo lại chờ bán với giá cao (nguồn
18, phụ lục 2).
II.4 Diện tích – Năng suất – Sản Lượng
2.4.1 Diện tích
Diện tích trồng cây ăn trái của tỉnh mấy năm gần đây liên tục tăng, năm 2001 cả tỉnh có trên
31,800 ha thì cuối năm 2004 đạt 35.670 ha. Năm 2005, tỉnh Vĩnh Long có 42,752 ha vườn
cây ăn quả, so với năm 2004 tăng trên 600 ha, trong đó diện tích cho sản phẩm là 35,248
ha, chiếm 82.43 % trên diện tích cây lâu năm. (Nguồn 10, phụ lục 2).
Diện tích trồng bưởi : trung bình từ 0,5 – 2 ha/1 nông dân. Tổng diện tích trồng bưởi của cả
tỉnh gồm 5,332.2 ha diện tích trồng tập trung và 246,124 ha diện tích trồng phân tán. Như
vậy diện tích trồng bưởi chiếm khoảng 15 % diện tích cây ăn quả của tỉnh.Trong đó, Bưởi
Năm Roi (tuyến sông Hậu) chiếm khoảng 85% ; Bưởi Da xanh (tuyến sông Tiền) chiếm
khoảng10% ; Bưởi khác (Thanh Trà, bưởi Lông tuyến sông Tiền) chiếm gần 5%. (Nguồn 8,
phụ lục 2)
Đồ thị 2 : Tỷ lệ các giống bưởi hiện có tại Vĩnh Long.
5
Riêng diện tích bưởi Năm Roi đang được phát triển mạnh, từ vùng đất huyện Bình Minh, đến
nay, bưởi Năm Roi đã phát triển sang các huyện Tam Bình, Vũng Liêm, Long Hồ, Trà Ôn, hình
thành nhiều vùng chuyên canh bưởi Năm Roi.
Tốc độ tăng diện tích bình quân là 24.75%/năm (Nguồn 11, phụ lục 2). Theo UBND Vĩnh Long
đến năm 2010 diện tích bưởi 5 roi là 8.000 ha tập trung các huyện Bình Minh, Tam Bình mở
rộng diện tích sang huyện Trà Ôn thuộc các xã Tân Mỹ, Thiện Mỹ, Tích Thiện. (Nguồn 9, phụ
lục 2)
Đồ thị 3: Diện tích trồng bưởi tập trung Đồ thị 4: Diện tích trồng bưởi phân tán
tại tỉnh Vĩnh Long (2004) tại tỉnh Vĩnh Long (2004)
Đồ thị 3 cho thấy rõ tổng diện tích trồng bưởi tập trung của xã Bình Minh chiếm gần 50%
tổng diện tích trồng bưởi tập trung trong tỉnh, là xã trồng bưởi với quy mô lớn và tập trung
nhất. Các xã khác chưa có xã nào đạt được 1,000 ha trồng tập trung. Trong khi đó, ngược
lại, bưởi được trồng phân tán, với diện tích khá cao, đặc biệt 3 tỉnh Vũng Liêm,Trà Ôn và
Tam Bình với tổng diện tích đang cho trái cao gấp 100 lần so với diện trống tập trung! Điều
này có thể giải thích vì sao chất lượng sản phẩm của bưởi không đồng đều mặc dù cùng có
nguồn gốc từ tỉnh Vĩnh Long, vì hiện nay đa số sản phẩm hiện vẫn còn đang được trồng
phân tán là chủ yếu, manh mún và không đồng bộ.
2.4.2 Năng suất
Năng suất bưởi phụ thuộc nhiều vào việc trồng tập trung hay phân tán: Đối với diện tích
trồng tập trung thì năng suất đạt khá cao khỏang 20-30 tấn/ha trong đó số hộ đạt trên 15
tấn/ha chiếm 75%, cao nhất đạt tới 80 tấn/ha (nguồn: thảo luận nhóm). Đối với diện tích
trồng phân tán thì năng suất trung bình đạt thấp hơn, chỉ khỏang 10,028 tấn/ha. (Nguồn 8,
phụ lục 2). Đây cũng chính là lí do tại sao tỉnh đang tập trung khoanh vùng để tăng diện tích
trồng tập trung nhằm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm cho bưởi Vĩnh Long.
2.4.3 Sản lượng
Theo Sở NNPTNN tỉnh Vĩnh Long, năm 2005, sản lượng trái cây các loại của Vĩnh Long đạt
380.000 tấn, tăng 8.5 % so với năm 2004, trong đó đặc sản bưởi Vĩnh Long đạt 54,000 tấn,
chiếm 14 % tổng sản lượng trái cây toàn tỉnh.
6
So với kế hoạch tổng sản lượng bưởi năm 2005 (là 48,000 tấn (xem đồ thị 5), thì sản lượng
thực tế 2005 cao hơn 12.5%, riêng bưởi Năm Roi, tốc độ tăng sản lượng là 46.55%/năm
(nguồn 11, phụ lục 2)
Đồ thị 5: Thị phần sản lượng bưởi Vĩnh Long trong bảng kế hoạch 2005.
(Nguồn11, phụ lục 2)
2.5 Xuất khẩu & Giá trị xuất khẩu
Sau khi công ty chế biến rau quả xuất khẩu Hoàng Gia chính thức ra đời trang web
www.5roi.com, năm 2003 khoảng 10 nghìn trái bưởi đã được xuất khẩu sang thị trường Mỹ.*
Cho đến nay, công ty này đứng đầu tỉnh trong việc xuất khẩu bưởi, không chỉ qua Mỹ mà còn
các thị trường châu Âu (Pháp, Đức), và châu Á (Hồng Kông, Singapore). (Nguồn 17, phụ lục
2).
Năm 2004,2005, sản lượng xuất khẩu bưởi của Công ty Hoàng Gia đã đạt khỏang 2.000
tấn/năm (chiếm khoảng 4% sản lượng bưởi của tỉnh). Hiện nay Hòang Gia đã bao tiêu được
khỏang 240 ha (tương đương 80%) diện tích trồng bưởi của huyện Bình Minh. (Nguồn 14,
phụ lục). Từ năm 2004, doanh nghiệp này đầu tư thêm dây chuyền sản xuất nước ép bưởi
Năm Roi đóng lon có công suất 4,5 triệu sản phẩm/năm. Sản phẩm lon nước bưởi ép chủ yếu
được xuất khẩu sang Đức, Tây Ban Nha, và Pháp. (Nguồn 17, phụ lục 2)
Ngoài xuất khẩu chính ngạch, bưởi Vĩnh Long được xuất tiểu ngạch qua thị trường Trung
Quốc, Campuchia, tuy nhiên sản lượng nhỏ hơn nhiều (khỏang 1 - 2%). ( Nguồn 15, phụ lục)
2.6 Tiêu thụ nội địa
Mặc dù đến 95% bưởi Vĩnh Long được tiêu thụ nội địa (chủ yếu được đưa vào bán tại các
siêu thị ở TP.HCM, Hà Nội và đại lý ở các tỉnh ĐBSCL, Nha Trang, Bà Rịa VũngTàu, Đà
Nẵng), sản lượng bưởi đặc sản hiện nay của tỉnh chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ của thị
trường nội địa. Chính vì vậy, công ty chế biến rau quả xuất khẩu Hoàng gia dự định sẽ phát
triển mạng lưới tiêu thụ trên toàn quốc trong 2006. (Nguồn 16, phụ lục 2).
2.7 Chất lượng & Chứng thực
Với thành tựu đã đạt được trong việc sản xuất & xuất khẩu bưởi Vĩnh Long, đặc biệt là bưởi đặc
sản Năm Roi, tỉnh đang chú trọng đến công tác xây dựng tiêu chuẩn chất lượng cho trái bưởi.**
*Theo số liệu của UBND tỉnh Vĩnh Long giá thị trường của trái cây có múi trung bình 250 - 300 USD/ tấn.
7
**Xem phụ lục 4: Một số tiêu chuẩn về cây giống bưởi đã đư ợc công bố.
8
Gần đây, UBND tỉnh Vĩnh Long đã giao cho Sở NN&PTNT xây dựng nguồn gốc xuất xứ
bưởi năm roi Bình Minh - Vĩnh Long với mục tiêu xây dựng và xác lập hệ thống tiêu chuẩn
chất lượng, quy trình sản xuất, tính đặc thù gắn liền với nguồn gốc xuất xứ hàng hóa bưởi
Năm Roi Bình Minh - Vĩnh Long. Theo đó, ngành nông nghiệp địa phương sẽ phối hợp với
Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam xây dựng tiêu chuẩn hàng hóa bưởi Năm Roi. Hội
làm vườn là đơn vị đứng tên đăng ký xuất xứ hàng hóa và Công ty sở hữu Công nghiệp chi
nhánh phía Nam làm công tác tư vấn.
Tuy nhiên công tác thực thi vẫn không hề đơn giản do nhận thức của người dân còn yếu
kém ngay cả khi đã thực hiện việc công bố tiêu chuẩn nhưng người sản xuất vẫn chưa thực
hiện đúng theo các tiêu chuẩn kỹ thuật mà mình đăng ký. * Do đó, UBND tỉnh đã giao trách
nhiệm cho UBND các huyện và Phòng NN& PTNT huyện Bình Minh cùng phối hợp để điều
tra hiện trạng sản xuất và xúc tiến các thủ tục cần thiết cho việc đăng tiêu chuẩn chất lượng
cũng như nâng cao ý thức của người dân trong việc thữc hiện các bước kỹ thuật cần thiết.
(Nguồn 13, phụ lục). Ngòai ra, Tỉnh cũng đang chú trọng tới việc nghiên cứu xây dựng hệ
thống chất lượng trái cây theo tiêu chuẩn ISO 9001, hoàn chỉnh hệ thống từ khâu giống, kỹ
thuật canh tác đến thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ.
2.8 Thương hiệu, nhãn mác
2.8.1 Thương hiệu
Hiện nay, bưởi Năm Roi đã là một thương hiệu khá nổi tiếng trong và ngoài nước, được các
nhà khoa học đánh giá không chỉ là giống bưởi ngon của Việt Nam mà còn là giống bưởi
ngon của thế giới. (Chỉ sau Israen) (Nguồn 26, phụ lục 2)
Riêng Công ty sản xuất & xuất khẩu Hoàng Gia là đơn vị đã xây dựng thành công thương
hiệu Năm Roi Hòang Gia bằng việc đăng ký độc quyền kinh doanh thương hiệu bưởi Năm
Roi Hoàng Gia và làm chủ trang web www.5roi.com, giúp quảng bá rộng rãi cho loại trái cây
này ra thế giới. Tuy nhiên công việc quảng bá nhãn hiệu bưởi Năm Roi vẫn mang tính đơn
lẻ. Khi được phỏng vấn, nông dân trồng bưởi tại xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh – huyện nổi
tiếng nhất về bưởi Năm Roi của Tỉnh Vĩnh Long cho biết họ rất mong muốn được đăng kí
thương hiệu bưởi Năm Roi Mỹ Hòa/Bình Minh cho tập thể xã viên trong xã, nhưng họ gặp
nhiều khó khăn trong vấn đề thủ tục đăng kí cũng như nguồn vốn cho việc đăng kí thương
hiệu này (nguốn FGD). Tương tự, rất nhiều nông dân của các xã khác cũng mong muốn có
Năm Roi Tam Bình hay Cam Sành Tam Bình, Trà Ôn v.v nhưng đều có chung 1 khó khăn
là không rành các thủ tục pháp lí. Họ rất mong muốn có một tổ chức đứng ra hỗ trợ,
giúp cho bà con không chỉ trong việc xây dựng thương hiệu đơn thuần, mà còn
quảng bá thương hiệu, và vận dụng nâng cao tính ứng dụng hiệu quả của thương
hiệu trên thương trường.
2.8.2 Nhãn mác
Các sản phẩm xuất khẩu của công ty Hòang Gia cho đến hiện nay đều có dán nhãn ‘Năm Roi
Hòang Gia’. Tuy nhiên các sản phẩm tiêu thụ nội địa hầu như không (hoặc rất ít) được dán
nhãn.
Đây cũng là tình trạng chung cho sản phẩm bưởi Vĩnh Long nói riêng và các lọai bưởi khác tiêu
thụ nội địa nói chung. Tình trạng này dẫn đến một thực tế rằng người tiêu dùng chủ yếu nhận
biết sản phẩm qua hình dạng bên ngòai**. Sự nhầm lẫn về nguồn gốc quả bưởi chính vì vậy
cũng thường xuyên xảy ra, gây thiệt thòi không nhỏ cho người nông dân của vùng trồng bưởi
tập trung và chất lượng cao như Bình Minh, Vĩnh Long.
* Nhiều khi vì những lí do hết sức đơn giản như bận ăn giỗ, hay đám ma, đám cưới của hàng xóm mà bỏ
không xịt thuốc trừ sâu đúng cữ, đúng giờ…(Nguồn thảo luận nhóm nông dân )
9
**Chủ yếu phân biệt theo dạng trái (tròn, dài, hình quả lê…), màu sắc (vàng, xanh ) và độ lớn (kích cỡ/kg)
(nguồn thảo luận nhóm nông dân)
III. PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ BƯỞI VĨNH LONG.
Sơ đồ 1: Chuỗi Giá Trị Buởi Vĩnh Long
(Nguồn 6, phụ lục 2 & Thảo luận nhóm nông dân)
Đặc điểm chung:
Chuỗi giá trị của bưởi Vĩnh Long bao gồm 3 kênh, kênh quan trọng nhất vẫn là kênh giữa (xem
sơ đồ 1):
Nông dân Thương lái Người bán sỉ Người bán lẻ Người tiêu dùng.
Đây là kênh chính, chiếm đến hơn 80% lượng tiêu thụ bưởi tại Vĩnh Long. Ngòai kênh này, hai
kênh còn lại tiêu thụ một lượng nhỏ hơn nhiều, bao gồm:
Nông dân Doanh nghiệp Đại lí, siêu thị hoặc xuất khẩu (chiếm 7%)
Và, Nông dân Người tiêu dùng (10%)
Tại Vĩnh Long, cũng như các tỉnh khác, thương lái chiếm một vai trò rất quan trọng trong khâu
thu hoạch, thường quyết định giá cả cho bưởi và thực hiện phần thu gom, bán lại cho các nhà
bán buôn để phân phối tiếp đến các khâu khác trong chuỗi.
* Nông dân cũng có bán cho người bán lẻ địa phương nhưng số lượng không đáng kể nên phần trăm sản
lượng không được thể hiện trong chuỗi. ** Vì % sản lượng của người bán sỉ bao gồm phần trăm sản lượng
của người bán sỉ lớn & bán sỉ nhỏ nên chúng tôi sẽ trình bày sau trong phần người bán sỉ.
Tuy nhiên, so với nho Ninh Thuận, hay Thanh Long Bình Thuận, Xòai Đồng Tháp v.v. người
nông dân trồng bưởi Vĩnh Long dường như có ‘ưu thế’ hơn trong việc quyết định thời điểm bán
và giá bán, vì họ có thể neo trái lại trên cây, hoặc thu họach mà việc bảo quản trái khá dễ dàng
10
Nông dân/
hợp tác xã*
Thương lái
nhỏ
Thương lái
lớn
Người
bán
lẻ/siêu thị
Người bán
sỉ**
Tự bán lẻ
Người tiêu
dùng
Doanh
nghiệp tư
nhân/ Công
ty chế biến
Xuất khẩu
(EU, Hồng
Kông, Trung
Quốc)
10%
5%
90 %
85-90 % tiêu
thụ nội địa
5 – 10% xuất khẩu
32-33%
50%
7%
10%
4%
3%
không ảnh hưởng nhiều đến việc hao hụt hoặc mất giá. Đây chính là điểm hết sức thuận lợi cho
người nông dân trồng bưởi để tập trung vào khâu trước thu họach, nâng sản lượng và giữ
vững chất lượng sản phẩm, không phải quá lo lắng đến khâu sau thu họach.
Trên địa bàn tỉnh có một số ít doanh nghiệp kí hợp đồng bao tiêu sản phẩm ngay từ đầu vụ &
thu mua theo các tiêu chuẩn khá nghiêm ngặt của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hình thức tiêu thụ
qua doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 7% sản lượng, chưa thực sự thu hút nông dân do không
tiêu thụ được hết số bưởi không đạt chất lượng (hiện chiếm một tỷ lệ cao do trồng phân tán,
chất lượng không đồng bộ).
Mô hình hợp tác sản xuất được xúc tiến khá tốt, đang phần nào giúp đỡ bà con trong sản xuất
và tiêu thụ. Tuy nhiên người dân Vĩnh Long cũng như nhiều tỉnh miền Tây khác do tính cách
thoải mái, ít phụ thuộc nên việc tuân thủ theo những qui định, chủ yếu là phải giữ được chất
lượng bưởi ổn định bằng giữ vững kỹ thuật canh tác, bón phân nghiêm ngặt là hết sức khó
khăn, khiến cho không ít người dân vẫn còn đứng bên ngòai mô hình hợp tác xã.
Sau đây là phân tích chi tiết các khâu chính trong chuỗi giá trị bưởi Vĩnh Long.
1. NÔNG DÂN
1.1 Đặc điểm chung
Sơ đồ 2: Nông dân và các quan hệ trực tiếp
Đa số nông dân trồng bưởi Vĩnh
Long hiện vẫn đang trồng bưởi tự
do, manh mún, phân tán theo qui
mô kinh tế hộ gia đình.
Trung bình 1 hộ sở hữu từ 0.5-
2 ha. Riêng xã Mỹ Hoà – vùng
đặc sản bưởi 5 roi có gần 3200
hộ thì đã có 2/3 hộ dân đã
chuyển dịch 75% diện tích sang
trồng bưởi Năm Roi chuyên
canh. (Nguồn 19, phụ lục 2)
1.2. Thu hoạch
Thông thường bưởi được thu hoạch vào vào lúc trời mát (7 – 8 giờ sáng & tránh lúc nắng gắt
làm các tế bào tinh dầu căng dễ vỡ), nông dân tránh thu hoạch quả sau cơn mưa hoặc có
sương mù nhiều vì quả dễ bị ẩm thối khi tồn trữ.
Hiện nay việc cắt bưởi vẫn sử dụng phương pháp thủ công. Dùng kéo cắt cả cuống quả (mất
cuống mất tiền). Sau đó lau sạch cho vào giỏ hoặc sọt tre để vận chuyển đi (xem quy trình thu
hoạch hình 12, 13, 14, phụ lục 3)
Đến thời điểm thu hoạch, người nông dân thường được các thương lái bao tiêu nguyên vườn.
Đây là hình thức ưa chuộng nhất của nông dân trồng bưởi, do không phải tham gia vào việc thu
hoạch, bảo quản, mà vẫn đảm bảo bán hết được các loại bưởi (cả loại dạt). Ngòai ra, khả năng
neo trái cũng là một đặc điểm khá quan trọng của bưởi vì khi giá bưởi hạ thì có thể neo quả
trên cây từ 15 – 30 ngày nữa để chờ giá lên (nguồn 18, phụ lục 2)*
*Bưởi Năm Roi có thời gian chín trên cây lâu nên thuận tiện trong việc thu hái, bán đồng loạt, cũng rất tiện
xử lý thuật để kỹ bảo đảm chất lượng vườn cây cho mùa sau (nguồn thảo luận nhóm nông dân)
Nông dân /HTX Thương lái
Tự bán lẻ
Doanh nghiệp
tư nhân
82 -83%
7 - 8%
10%
11
Tuy nhiên, cũng chính vì khả năng này của trái bưởi, thương lái sau khi bao tiêu thường ép
nông dân neo bưởi trên cây trong thời gian khá dài để chờ được giá. Đây là một trong những
nguyên nhân chính gây ra xung đột giữa nông dân & thương lái vì nếu neo trái quá lâu trên cây
sẽ ảnh hưởng khả năng ra hoa ở vụ sau & tuổi thọ cây bưởi giảm (nguồn thảo luận nhóm nông
dân).
Như vậy, nếu bán cho thương lái, người dân không phải tham gia vào quá trình thu hoạch. Còn
khi phải tự tiêu thụ, qui trình sau thu hoạch từ người nông dân rất đơn giản, thông thường theo
con đường sau:
Sơ đồ 3: Quy trình thu hoạch bưởi
1.Cắt 2. Cho vào giỏ tre 3. Để nơi thoáng mát 4. Phân loại 5. Lau sạch 6. đóng gói
7. Vận chuyển ra chợ bán
Thông thường bước 2, 5,6 hay bị bỏ qua khiến việc sau thu họach của bưởi do người nông dân
thữc hiện còn đơn giản hơn nữa. Việc vận chuyển ra chợ tiêu thụ cũng hết sức đơn giản, phụ
thuộc vào phương tiện sẵn có, thông thường là xe thồ, xe gắn máy (xem hình 21, phụ lục 3)
1.3. Phương thức giao dịch & thanh tóan
1.3.1 Phương thức giao dịch:
Hiện nay, người nông dân bán bưởi theo 3 cách, như sau:
Cách 1: Nông dân bán theo kg hay bán chục (14 trái), chủ yếu là hàng dạt (loại 3). Cách này
chiếm khoảng 10% sản lượng. Gần đây, hình thức này khá phổ biến, đặc biệt khi bưởi được
thu hoạch vào mùa nghịch hoặc mùa Tết.
=> Với cách thức buôn bán này người nông dân trồng bưởi có thể bán theo giá cạnh tranh trên
thị trường nhưng họ gặp khó khăn trong việc tiêu thụ những sản phẩm chất lượng thấp còn tồn
đọng lại, chính vì vậy cách hai vẫn chiếm ưu thế.
Cách 2: Bán Mão, bán thiên (chiếm khoảng 80 – 82% sản lượng)
Trước khi trái chín hoặc ngay cả khi cây còn đang ra hoa, nông dân đã thỏa thuận bán mão
toàn bộ sản phẩm trong vườn cho thương lái. Vào những dịp thị trường đang hút hàng, hình
thức này được thương lái đặc biệt ưa chuộng. Bán thiên (đếm trái trả tiền), đây cũng là một
dạng bán sỉ giống bán mão.
Ở hai hình thức này thương lái thường trả tiền trước (ứng tạm khi bán mão) hoặc trả ngay
(bán thiên).Khi bán giá sỉ, bưởi được nông dân phân loại như sau:
Bảng 3: Phân loại bưởi của nông dân theo giá sỉ
Phân loại Giá bán trung
bình tại vườn*
% trên tổng lượng
Loại 1: 1.4 – 2 kg 3,000 VND/1kg Khoảng 95%
Loại 2: >= 700g – 1.4 kg 2,000 VND/1kg
Loại 3 (Loại dạt: trái nhỏ,
vỏ xấu, bị rầy.v.v)
700-1,000
VND/1kg
Khoảng 5 %
____________________________________________________________________________
*Tuy nhiên khi bán mão,bán thiên nông dân thường không phân loại mà bán tất cả cho thương lái với cùng
1 giá. Hình thức phân loại này chỉ được ứng dụng khi bán theo Kg.
12
Nhìn chung, quan hệ buôn bán giữa nông dân và thương lái tương đối tốt so với các địa
phương khác. Điều này cũng dễ hiểu bởi như đã nói ở trên sản lượng cung ứng bưởi luôn
nhỏ hơn nhu cầu của thị trường, vì vậy thương lái phải mua bán trong một môi trường cạnh
tranh cao. Hầu hết thương lái tự đến vườn của nông dân để đặt mua.
Theo ý kiến của nông dân trong cuộc thảo luận nhóm, thương lái ở đây khá uy tín, hiếm khi
bỏ hợp đồng, luôn trả tiền ngay, tự thu hoạch và tự vận chuyển. Tuy nhiên, đôi khi thương
lái kéo hợp đồng, hoặc ép thời gian thu hoạch sớm hoặc neo trái lâu, khiến chất lượng bưởi
không đáp ứng yêu cầu, giá trả cho nông dân rẻ đi. Khi giá bưởi hạ, nông dân phải neo trái
để chờ giá bưởi lên mới bán, vì vậy nên nông dân phải tốn kém thêm phần công chăm sóc.
Cách 3: Nông dân bán cho doanh nghiệp tư nhân.
Khi bán cho doanh nghiệp, nông dân kÿ hợp đồng với doanh nghiệp và phải tuân theo các
tiêu chuẩn nghiêm ngặt của doanh nghiệp (như DN Hoàng Gia, DNThế Vinh, DNThế
Nghiệp) . Công ty phối hợp với Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam và Sở NN - PTNT
tỉnh Vĩnh Long chọn giống, hướng dẫn nông dân phương pháp trồng, chăm sóc, thu hoạch
và bảo quản bưởi Năm Roi theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật.Theo đó, doanh nghiệp sẽ thường
xuyên kiểm tra chất lượng từ khâu chăm sóc. Khi thu hoạch sản phẩm phải qua khâu thử
mẫu trước khi quyết định thu họach.(Nguồn 16, phụ lục 2)
Có một thực tế hiện nay đối với bưởi Vĩnh Long là phần lớn nông dân không muốn bán
bưởi cho các doanh nghiệp bởi đòi hỏi của doanh nghiệp khắt khe hơn rất nhiều so với
thương lái, mặc dù khi bán cho doanh nghiệp nông dân được trả giá cao hơn một chút .
Chính do việc phân loại sản phẩm gắt gao theo đúng yêu cầu của doanh nghiệp về hình
thức bên ngoài & kích cỡ, chất lượng nên hàng dạt không được chọn khiến nông dân phải
vất vả để tiêu thụ. Ngòai ra, khi bán cho thương lái, người dân không tham gia vào việc thu
họach, vận chuyển, trong khi bán cho doanh nghiệp, nông dân phải chịu khoản chi phí
không nhỏ cho việc bốc vác, vận chuyển đến doanh nghiệp => Khi lợi nhuận và công sức
bán cho doanh nghiệp không hơn hẳn thương lái, người dân vẫn chọn thương lái cho sự an
tòan và ít nhọc nhằn. Họ không thể suy nghĩ sâu sắc cho một ‘kế họach lâu dài’ do hạn chế
của nhận thức => đây chính là khó khăn trong việc phát triển mô hình sản xuất khép kín mà
việc tác động lên nhận thức của ngừơi dân là rất quan trọng.
1.3.2 Thanh toán
Nếu bán theo hình thức bán chục, bán mão, bán thiên, nông dân thường được trả tiền
ngay. Thậm chí khi bán mão, nông dân còn được ứng vốn trước nếu có nhu cầu. Thông
thường vốn ứng trước khoảng 30%, tuy nhiên còn tuỳ vào thoả thuận của đôi bên.
Tuy nhiên nếu bán mão rất ít thương lái trả tiền ngay trong một lần, mà thường chia làm 2,3
đợt theo kiểu gối đầu.
Doanh nghiệp thường sử dụng phương thức bao tiêu sản phẩm và can thiệp từ khâu trồng
trọt nên họ thường ứng trước cho nông dân 1 khoảng chi phí cho sản xuất, sau khi nhận
được sản phẩm doanh nghiệp sẽ thanh toán nốt phần còn lại.
1.4 Hợp đồng
Hợp đồng giao dịch với thương lái:
Giống như tại các tỉnh thành khác và với các sản phẩm khác hiện nay bưởi Vĩnh Long được
giao dịch chủ yếu bằng miệng (chiếm 95%). Hợp đồng giấy chỉ chiếm khỏang 5.
13
Bảng 4: Một số đặc điểm khác biệt của hai lọai hợp đồng như sau:
Hợp đồng giấy Thoả thuận miệng
- Chỉ khi bán bao tiêu cả năm hoặc vào
các dịp thị trường đang hút hàng
- Hình thức này ít, chiếm khoảng 5 %
- Hình thức hợp đồng đơn giản: do
người mua tự soạn & viết tay, không
theo một mẫu chính thức, bao gồm các
cam kết về số lượng, giá cả, số tiến
ứng trước và thời hạn thanh toán.
- Mua theo chục, theo thiên, theo
lứa.
- Chiếm khoảng 95%
- Dựa trên uy tín và các mối quan hệ
Riêng hợp đồng giao dịch với doanh nghiệp thường là hợp đồng giấy, trong đó bao gồm
nhiều qui định chặt chẽ về tiêu chuẩn chất lượng như đã trình bày ở trên, về thời gian giao
hàng, lượng hàng phải giao (Nguồn 16, phụ lục 2)
1.5 Hao hụt
Bưởi là lọai trái có sự hao hụt có thể nói là nhỏ nhất do bản thân trái có vỏ dày, ít bị dập nát khi
vận chuyển như các trái khác.
Khi tự tiêu thụ nông dân chịu hao hụt rất nhỏ, khoảng nhỏ hơn 1%, chủ yếu do quá trình vận
chuyển.
Khi bán cho thương lái, người nông dân không phải lo hao hụt bởi thương lái đảm nhiệm các
khâu sau thu hoạch.
Khi bán cho doanh nghiệp: nếu doanh nghiệp cử người đến vườn thu hoạch thì hao hụt không
đáng kể <1% (chủ yếu do một số trường hợp doanh nghiệp thu hoạch không khéo léo, bẻ làm
rớt trái khác hoặc trái bẻ rồi nhưng không đủ tiêu chuẩn nên không lấy). Nếu nông dân tự thu
hoạch và vận chuyển đến doanh nghiệp, hao hụt họ phải chịu, chủ yếu là do vận chuyển và bốc
vác (khoảng 1-2%). Trong cả hai trường hợp thu họach này nông dân đều phải chịu hao hụt.
1.6 Chi phí & lợi nhuận
Tại xã Mĩ Hoà, mỗi năm, bưởi rải vụ, thu hoạch ba lượt trái có thể thu hơn 137 triệu đồng/ ha,
trừ 10% chi phí sản xuất, mức lợi tức nhà vườn đạt hơn 124 triệu đồng/ha. (Nguồn 21, phụ lục
2). Như vậy có thể nói, bưởi là lọai trái mà chi phí sản xuất thấp, ít công lao động, lợi
nhuận cao.Tuy nhiên giá bưởi phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, mà chất lượng sản phẩm
lại phụ thuộc vào cả quá trình chăm sóc (đất, nước, phun thuốc v.v.) nên không phải nông dân
nào cũng đạt được mức thu nhập cao giống nhau. Tùy thuộc vào nhận thức, tính kỷ luật, chịu
khó người nông dân Vĩnh Long có thể làm giàu bằng trái bưởi, thu nhập cao hơn so với việc
trồng lúa hay canh tác các sản phẩm trái cây khác tại tỉnh.
1.7 Khó khăn & Hướng khắc phục
Mặc dù bưởi Vĩnh Long có nhiều thuận lợi về địa hình sông nước, đất đai về các chính sách
thông thóang của tỉnh trong việc khuyến khích đầu tư trồng bưởi trên diện rộng, cũng như có sự
quan tâm và giúp đỡ từ các viện nghiên cứu (miền Nam, các học viện nước ngòai), trường đại
học Cần Thơ nông dân trồng bưởi vẫn còn gặp một số khó khăn có thể khắc phục được,
được trình bày tóm lược sau đây:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét