Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Công tác quản lý tiền lương tại Xí nghiệp giống gia súc - gia cầm - Bắc Ninh

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
định, phân phối và các khâu khác phụ thuộc vào sản xuất và do sản xuất
quyết định nhưng có ảnh hưởng trực tiếp, tích cực trở lại sản xuất.
Tổng sản phẩm xã hội là do người lao động tạo ra phải được đem
phân phối cho tiêu dùng cá nhân, tích luỹ tái sản xuất mở rộng và tiêu dùng
công cộng. Hình thức phân phối vật phẩm cho tiêu dùng cá nhân dưới chủ
nghĩa xã hội (CNXH) được tiến hành theo nguyên tắc: “Làm theo năng lực,
hưởng theo lao động”. Bởi vậy, “phân phối theo lao động là một quy luật
kinh tế “. Phân phối theo lao động dưới chế độ CNXH chủ yếu là tiền lương,
tiền thưởng. Tiền lương dưới CNXH khác hẳn tiền lương dưới chế độ tư bản
chủ nghĩa.
Tiền lương dưới chế độ XHCN được hiểu theo cách đơn giản nhất đó
là: số tiền mà người lao động nhận được sau một thời gian lao động nhất
định hoặc sau khi đã hoàn thành một công việc nào đó. Còn theo nghĩa rộng:
tiền lương là một phần thu nhập của nền kinh tế quốc dân biểu hiện dưới
hình thức tiền tệ được Nhà nước phân phối kế hoạch cho công nhân viên
chức phù hợp với số lượng và chất lượng lao động của mỗi người đã cống
hiến.
Như vậy nếu xét theo quan điểm sản xuất tiền lương là khoản đãi ngộ
của sức lao động đã được tiêu dùng để làm ra sản phẩm. Trả lương thoả
đáng cho người lao động là một nguyên tắc bắt buộc nếu muốn đạt hiệu quả
kinh doanh cao.
Nếu xét trên quan điểm phân phối thì tiền lương là phần tư liệu tiêu
dùng cá nhân dành cho người lao động, được phân phối dựa trên cơ sở cân
đối giữa quỹ hàng hoá xã hội với công sức đóng góp của từng người. Nhà
nước điều tiết toàn bộ hệ thống các quan hệ kinh tế: sản xuất, cung cấp vật
tư, tiêu hao sản phẩm, xây dựng giá và ban hành chế độ, trả công lao động.
Trong lĩnh vực trả công lao động Nhà nước quản lý tập trung bằng cách quy
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
định mức lương tối thiểu ban hành hệ thống thang lương và phụ cấp. Trong
hệ thống chính sách của Nhà nước quy định theo khu vực kinh tế quốc
doanh và được áp đặt từ trên xuống. Sở dĩ như vậy là xuất phát từ nhận thức
tuyệt đối hoá quy luật phân phối theo lao động và phân phối quỹ tiêu dùng
cá nhân trên phạm vi toàn xã hội.
Những quan niệm trên đây về tiền lương đã bị coi là không phù hợp
với những điều kiện đặc điểm của một nền sản xuất hàng hoá.
- Bản chất phạm trù tiền lương theo cơ chế thị trường
Trong nhiều năm qua, công cuộc đổi mới kinh tế nước ta đã đạt được
những thành tựu to lớn. Song tình hình thực tế cho thấy rằng sự đổi mới một
số lĩnh vực xã hội còn chưa kịp với công cuộc đổi mới chung nhất của đất
nước. Vấn đề tiền lương cũng chưa tạo được động lực phát triển kinh tế xã
hội.
Hiện nay có nhiều ý thức khác nhau về tiền lương, song quan niệm
thống nhất đều coi sức lao động là hàng hoá. Mặc dù trước đây không được
công nhận chính thức, thị trường sức lao động đã được hình thành từ lâu ở
nước ta và hiện nay vẫn đang tồn tại khá phổ biến ở nhiều vùng đất nước.
Sức lao động là một trong các yếu tố quyết định trong các yếu tố cơ bản, của
quá trình sản xuất, nên tiền lương, tiền công là vốn đầu tư ứng trước quan
trọng nhất, là giá cả sức lao động. Vì vậy việc trả công lao động được tính
toán một cách chi tiết trong hạch toán kinh doanh của các đơn vị cơ sở thuộc
mọi thành phần kinh tế. Để xác định tiền lương hợp lí cần tìm ra cơ sở để
tính đúng, tính đủ giá trị của sức lao động. Người lao động sau khi bỏ ra sức
lao động, tạo ra sản phẩm thì được một số tiền công nhất định.Vậy có thể coi
sức lao động là một loại hàng hoá, một loại hàng hoá đặc biệt.Tiền lương
chính là giá cả hàng hoá đặc biệt đó - hàng hoá sức lao động.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Hàng hoá sức lao động cũng có mặt giống như mọi hàng hoá khác là
có giá trị. Người ta định giá trị ấy là số lượng tư liệu sinh hoạt cần thiết để
sản xuất ra nó. Sức lao động gắn liền với con người nên giá trị sức lao động
được đo bằng giá trị các tư liệu sinh hoạt đảm bảo nhu cầu tối thiểu cho cuộc
sống (ăn, ở, học hành, đi lại ) và những nhu cầu cao hơn nữa. Song nó
cũng phải chịu tác động của các quy luật kinh tế thị trường .
Vì vậy, về bản chất tiền công, tiền lương là giá cả của hàng hoá sức
lao động, là động lực quyết định hành vi cung ứng sức lao động. Tiền lương
là một phạm trù của kinh tế hàng hoá và chịu sự chi phối của các quy luật
kinh tế khách quan. Tiền lương cũng tác động đến quyết định của các chủ
doanh nghiệp để hình thành các thoả thuận hợp đồng thuê lao động.
* Chức năng của tiền lương
Tiền lương là một phạm trù kinh tế tổng hợp và bao gồm các chức
năng sau:
- Tiền lương là công cụ để thực hiện các chức năng phân phối thu
nhập quốc dân, các chức năng thanh toán giữa người sử dụng sức lao động
và người lao động.
- Tiền lương nhằm tái sản xuất sức lao động thông qua việc trao đổi
tiền tệ do thu nhập mang lại với các vật dụng sinh hoạt cần thiết cho người
lao động và gia đình họ.
- Kích thích con người tham gia lao động, bởi lẽ tiền lương là một bộ
phận quan trọng của thu nhập, chi phối và quyết định mức sống của người
lao động. Do đó là công cụ quan trọng trong quản lí. Người ta sử dụng nó để
thúc đẩy người lao động hăng hái lao động và sáng tạo, coi như là một công
cụ tạo động lực trong sản xuất kinh doanh (SXKD).
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
II. Nguyên tắc tính lương
- Những cơ sở pháp lí của việc quản lí tiền lương trong doanh nghiệp
- Quy định của nhà nước về chế độ trả lương
Năm 1960 lần đầu tiên nhà nước ta ban hành chế độ tiền lương áp
dụng cho công chức, viên chức, công nhân thuộc các lĩnh vực của doanh
nghiệp hoạt động khác nhau. Nét nổi bật trong chế độ tiền lương này là nó
mang tính hiện vật sâu sắc, ổn định và quy định rất chi tiết, cụ thể:
Năm 1985 với nghị định 235 HĐBT ngày 18/4/1985 đã ban hành một
chế độ tiền lương mới thay thế cho chế độ tiền lương năm 1960. Ưu điểm
của chế độ tiền lương này là đi từ nhu cầu tối thiểu để tính mức lương tối
thiểu song nó vẫn chưa hết yếu tố bao cấp mang tính cứng nhắc và thụ
động.
Ngày 23/5/1993 chính phủ ban hành các nghị định NĐ25/CP,
NĐ26/CP quy định tạm thời chế độ tiền lương mới đối với các doanh
nghiệp với mức tiền lương tối thiểu là 144.000 đ/người/tháng.
Những văn bản pháp lí trên đây đều xây dựng một chế độ trả lương
cho người lao động, đó là chế độ trả lương cấp bậc.
Tiền lương cấp bậc là tiền lương áp dụng cho công nhân căn cứ vào
số lượng và chất lượng lao động của công nhân.
Hệ số tiền lương cấp bậc là toàn bộ những quy định của Nhà nước mà
doanh nghiệp dựa vào đó để trả lương cho công nhân theo chất lượng và
điều kiện lao động khi họ hoàn thành một công việc nhất định.
Chế độ tiền lương cấp bậc tạo khả năng điều chỉnh tiền lương giữa các
nghành, các nghề một cách hợp lí, hạn chế được tính chất bình quân trong
việc trả lương, đồng thời còn có tác dụng bố trí công việc thích hợp với trình
độ lành nghề của công nhân.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Theo chế độ này các doanh nghiệp phải áp dụng hoặc vận dụng các
thang lương, mức lương, hiện hành của Nhà nước.
- Mức lương: là lượng tiền trả cho người lao động cho một đơn vị thời
gian (giờ, ngày, tháng ) phù hợp với các cấp bậc trong thang lương. Thông
thường Nhà nước chỉ quy định mức lương bậc I hoặc mức lương tối thiểu
với hệ số lương của cấp bậc tương ứng.
- Thang lương: là biểu hiện xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lương giữa
các công nhân cùng nghề hoặc nhiều nghề giống nhau theo trình tự và theo
cấp bậc của họ. Mỗi thang lương đều có hệ số cấp bậc và tỷ lệ tiền lương ở
các cấp bậc khác nhau so với tiền lương tối thiểu.
+ Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật là văn bản quy định về mức độ phức
tạp của công việc và yêu cầu về trình độ lành nghề của công nhân ở một bậc
nào đó phải biết gì về mặt kỹ thuật và phải làm được gì về mặt thực hành.
Giữa cấp bậc công nhân và cấp bậc công việc có mối quan hệ chặt
chẽ. Công nhân hoàn thành tốt ở công việc nào thì sẽ được xếp vào cấp bậc
đó.
Cũng theo các văn bản nàý nghĩa cán bộ quản lý trong doanh nghiệp
được thực hiện chế độ tiền lương theo chức vụ. Chế độ tiền lương chức vụ
được thể hiện thông qua các bảng lương chức vụ do Nhà nước quy định.
Bảng lương chức vụ gồm có nhóm chức vụ khác nhau, bậc lương, hệ số
lưong và mức lương cơ bản.
III. Phương pháp tính lương
Bộ luật lao động của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
chương 2 điều 56 có ghi: “Khi chỉ số giá cả sinh hoạt tăng lên làm cho tiền
lương thực tế của người lao động bị giảm sút thì chính phủ điều chỉnh mức
lương tối thiểu để đảm bảo tiền lương thực tế”.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Theo quy định tại nghị định 06/CP ngày 21/1/97 áp dụng từ ngày
1/1/97 mức lương tối thiểu chung là 144.000 đ/ tháng/ người.
Theo nghị định số 175/1999 ND-CP của Chính phủ ngày 15-12/1999
được tính bắt đầu từ ngày 1/1/2000 mức lương tối thiểu chung là 180.000 đ/
tháng/ người đối với cơ quan hành chính sự nghiệp, ngày 27/3/2000 ban
hành nghị định số 10/2000, ND-CP quy định tiền lương tối thiểu cho các
doanh nghiệp.
Tuỳ theo vùng ngành mỗi doanh nghiệp có thể điều chỉnh mức lương
của mình sao cho phù hợp. Nhà nước cho phép tính hệ số điều chỉnh tăng
thêm không quá 1,5n lần mức lương tối thiểu chung.
Hệ số điều chỉnh được tính theo công thức:
K
đc
= K
1
+ K
2
Trong đó: K
đc
: Hệ số điều chỉnh tăng thêm
K
1
: Hệ số điều chỉnh theo vùng (có 3 mức 0,3; 0,2; 0,1)
K
2
: Hệ số điều chỉnh theo ngành (có 3 nhóm 1,2; 1,0; 0,8)
Sau khi có hệ số điều chỉnh tăng thêm tối đa (K
đc
= K
1
+ K
2
), doanh
nghiệp được phép lựa chọn các hệ số điều chỉnh tăng thêm trong khung của
mình để tính đơn giá phù hợp với hiệu quả sản xuất, kinh doanh, mà giới hạn
dưới là mức lương tối thiểu chung do chính phủ quy định (tại thời điểm thực
hiện từ ngày 01/01/1997 là 144.000 đ/ tháng) và giới hạn trên được tính như
sau:
TL
minđc
= TL
min
x (1 + K
đc
)
Trong đó:
TL
min đc
: tiền lương tối thiểu điều chỉnh tối đa doanh nghiệp được
phép áp dụng;
TL
min
: là mức lương tối thiểu chung do chính phủ quy định ,
cũng là giới hạn dưới của khung lương tối thiểu;
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
K
đc
: là hệ số điều chỉnh tăng thêm của doanh nghiệp
Như vậy, khung lương tối thiểu của doanh nghiệp là TL
min
đến TL
min đc
doanh nghiệp có thể chọn bất cứ mức lương tối thiểu nào nằm trong khung
này, nếu đảm bảo đủ các điều kiện theo quy định sau:
+ Phải là doanh nghiệp có lợi nhuận. Trường hợp doanh nghiệp thực
hiện chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước mà không có lợi nhuận hoặc lỗ
thì phải phấn đấu có lợi nhuận hoặc giảm lỗ;
+ Không làm giảm các khoản nộp ngân sách Nhà nước so với năm
trước liền kề, trừ trường hợp Nhà nước có chính sách điều chỉnh giá ở đầu
vào, giảm thuế hoặc giảm các khoản nộp ngân sách theo quy định;
+ Không làm giảm lợi nhuận thực hiện so với năm trước liền kề, trừ
trường hợp Nhà nước có chính sách điều chỉnh tăng giá, tăng thuế, tăng các
khoản nộp ngân sách ở đầu vào. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chính
sách kinh tế-xã hội thì phải giảm lỗ.
IV. Các hình thức trả lương.
IV.1. Trả lương theo thời gian
Điều 58 Bộ luật lao động quy định các hình thức trả lương cho người
lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế và bậc lương của mỗi người.
+ Tiền lương tháng là tiền lương trả cố định hàng tháng trên cơ sở hợp
đồng lao động.
+ Tiền lương tuần: là tiền lương trả cho một tuần làm việc xác định
trên cơ sở tiền lương tháng nhân (x) với 12 tháng và chia (:) cho 52 tuần.
+ Tiền lương ngày: là tiền lương trả cho một ngày làm việc xác định
trên cơ sở tiền lương tháng chia cho 26 ngày.
+ Tiền lương giờ: Là tiền lương trả cho một giờ làm việc và được xác
định bằng cách lấy tiền lương ngày chia cho số giờ tiêu chuẩn theo quy định
của luật lao động (không quá 8 giờ/ ngày)
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Do những hạn chế nhất định của hình thức trả lương theo thời gian
(mang tính bình quân, chưa thực sự gắn với kết quả sản xuất) nên để khắc
phục phần nào hạn chế đó, trả lương theo thời gian có thể kết hợp chế độ
tiền thưởng để khuyến khích người lao động hăng hái làm việc.
IV.2. Tiền lương theo sản phẩm
Tiền lương theo sản phẩm là hình thức trả lương cho người lao động
căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm họ làm ra. Việc trả lương theo sản
phẩm có thể tiến hành theo nhiều hình thức khác nhau như trả theo sản phẩm
trực tiếp không hạn chế, trả theo sản phẩm gián tiếp, trả theo sản phẩm có
thưởng, theo sản phẩm luỹ tiến.
IV.3. Tiền lương khoán
Tiền lương khoán là hình thức trả lương cho người lao động theo khối
lượng và chất lượng công việc mà họ hoàn thành.
Ngoài chế độ tiền lương, các doanh nghiệp còn tiến hành xây dựng
chế độ tiền thưởng cho các cá nhân, tập thể có thành tích trong hoạt động
sản xuất kinh doanh. Tiền thưởng bao gồm thưởng thi đua (lấy từ quỹ khen
thưởng) và thưởng trong sản xuất kinh doanh (thưởng nâng cao chất lượng
sản phẩm, thưởng tiết kiệm vật tư, thưởng phát minh sáng kiến )
Bên cạnh các chế độ tiền lương, tiền thưởng được hưởng trong quá
trình kinh doanh, người lao động còn được hưởng các khoản trợ cấp thuộc
quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong các trường hợp ốm đau, thai sản
Các quỹ này được hình thành một phần do người lao động đóng góp, phần
còn lại được tính vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
PHẦN II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG TẠI
XÍ NGHIỆP GIỐNG GIA SÚC - GIA CẦM - BẮC NINH
I. Giới thiệu chung về xí nghiệp giống gia súc – gia cầm.
I.1. Quá trình hình thành và phát triển của xí nghiệp.
Xí nghiệp giống gia súc gia cầm trực thuộc công ty nông sản Bắc
Ninh. Nhiệm vụ chính của xí nghiệp là sản xuất ra giống gia súc - gia cầm
góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế của tỉnh cũng như kinh tế quốc gia.
Nền kinh tế nước ta chiếm đa phần là nền kinh tế nông nghiệp. Chính bởi
vậy, với vai trò là ngành tạo ra giống vật nuôi phù hợp với điều kiện sản
xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy nhịp độ
phát triển nền kinh tế, giao lưu sản phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu sản xuất
trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Năm1960, trạm truyền giống gia súc
nhân tạo đầu tiên của miền Bắc xã hội chủ nghĩa với bộ máy quản lý, cơ cấu
giống gia súc - gia cầm còn lạc hậu chưa ổn định.
Hơn 40 năm xây dựng và trưởng thành với đội ngũ CBCNV được
trang bị đầy đủ toàn diện và đầy đủ về ý thức, phẩm chất và khoa học kỹ
thuật. Nhằm duy trì và ổn định, mở rộng quy mô sản xuất, trạm truyền
giống gia súc - gia cầm đã hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhà nước giao
phó.
Xí nghiệp được thành lập năm 1960 theo quyết định số 60 CP của thủ
tướng chính phủ.
Các quyết định thành lập : chính phủ nước Việt Nam dân chủ công
hoà.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tên doanh nghiệp: Xí nghiệp giống gia súc - gia cầm Thuận Thành-
trực thuộc công ty nông sản Bắc Ninh.
Trụ sở chính: Phố Hồ – Thuận Thành – Bắc Ninh
Những thay đổi cơ bản từ khi thành lập đến nay.
Xí nghiệp được thành lập năm 1960 do bộ nông nghiệp đầu tư xây
dựng lấy tên là “Trạm truyền tinh nhân tạo Thuận Thành ” (Thuận Thành là
một huyện trực thuộc tỉnh Bắc Ninh) nhiệm vụ là nuôi và lấy tinh lợn ngoại
phối giống cho ra lợn lai kinh tế.
Cùng với sự phát triển của ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế
của đất nước nói chung. Năm 1991 tỉnh Hà Bắc cho sáp nhập với trại lợn
giống cấp I Lạc Vệ (Tiên Sơn) và trạm tinh lợn Võ Cường (BắcNinh) thành
xí nghiệp lợn giống Hà Bắc.
Từ đó đến nay mỗi năm xí nghiệp cung cấp hàng ngàn liều tinh lợn
giống các loại, lợn con giống từ 500-800 con, trọng lượng 8000-12000 Kg
Tháng 5/1996 tỉnh chỉ đạo xí nghiệp bàn giao đất đai, tài sản của trại
Lạc Vệ cho công ty nông sản Bắc Ninh. Số lợn Nái thuần chủng chuyển về
trại Thuận Thành nuôi, xí nghiệp còn có hai cơ sở là Bắc Ninh và Thuận
Thành .
Tháng 8/1997 xí nghiệp được mang tên là xí nghiệp giống gia súc -
gia cầm Bắc Ninh cùng lúc đó xí nghiệp cần mở rộng quy mô sản xuất, cải
tiến kỹ thuật, tổ chức sắp xếp lại bộ máy quản lý của xí nghiệp. Đứng trước
những khó khăn đó CBCNV trong toàn xí nghiệp đã luôn đoàn kết gắn bó.
Dưới sự chỉ đạo của chi bộ Đảng, ban giám đốc, xí nghiệp cùng các tổ chức
đoàn thanh niên, tổ chức công đoàn, tổ chức phụ nữ, phấn đấu không ngừng
để sẵn sàng cạnh tranh với cơ chế thị trường và sự đi lên của đất nước.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét