* Đối với cơ quan nhà nứơc và người làm công: Đối với cơ quan quản lý nhà
nước, qua việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, sẽ đánh giá được năng
lực lãnh đạo của ban giám đốc, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư bổ sung vốn
cho các doanh nghiệp nhà nước nữa hay không.
Ta thấy doanh nghiệp là một tế bào của một nền kinh tế nên hoạt động của
chúng phản ánh tình hình phát triển hay suy thoái của toàn bộ nền kinh tế quốc
dân. Qua đó sẽ giúp cho các nhà quản lý tài chính ở tầm vĩ mô thấy được thực
trạng của nền kinh tế quốc gia, xây dựng kế hoạch và các chính sách phù hợp nhằm
làm cho tình hình tài chính doanh nghiệp nói riêng và tình hình tài chính quốc gia
nói chung ngày càng có sự tăng trưởng.
Kết lu ậ n : Phân tích tình hình tài chính có thể ứng dụng theo nhiều chiều khác
nhau như với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ) và với mục
đích thông tin (trong hoặc ngoài doanh nghiệp ). Việc thường xuyên tiến hành phân
tích tình hình tài chính sẽ giúp cho người sử dụng thấy được thực trạng hoạt động
tài chính, từ đó xác định được nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng đến từng hoạt
động kinh doanh. Trên cơ sở đó có những biện pháp hữu hiệu và ra các quyết định
cần thiết để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh.
1.1.4. Phương pháp phân tích tài chính.
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện
pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong
và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng
hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp. Trên thực tế người
ta sử dụng một số phương pháp sau:
1.1.4.1. Phương pháp so sánh:
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu
hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được
cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới.
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của
doanh nghiệp.
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy tình
hình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được
so với doanh nghiệp cùng ngành.
5
- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng tổng số ở mỗi bản
báo cáo và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại các mục, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc so sánh.
- So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và số
tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp.
Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ 2 điều kiện sau:
- Điều kiện một: Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”.
- Điều kiện hai: Các chỉ tiêu so sánh (Hoặc các trị số của chỉ tiêu so sánh)
phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được với nhau. Muốn vậy, chúng phải thống
nhất với nhau về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán, thời gian tính toán.
Trong phương pháp so sánh gồm có:
+So sánh bằng số tuyệt đối: Được biểu hiện bằng một con số tuyệt đối cụ thể,
phản ánh sự chênh lệnh về quy mô hay khối lượng các chỉ tiêu so sánh. Các số tuyệt
đối đựơc so sánh phải có cùng một nội dung phản ánh, các tính toán xác định. Phạm
vi, kết cấu và đơn vị đo lường của hiện tượng vì thế ứng dụng số tuyệt đối trong phân
tích so sánh phải nằm trong khuôn khổ nhất định.
+So sánh bằng số tương đối: Là số biểu thị dưới dạng số phần trăm, số tỷ lệ
hoặc hệ số, sử dụng số tương đối có thể đánh giá được sự thay đổi kết cấu của hiện
tượng kinh tế, mối quan hệ, tốc độ và mức độ phát triển của các chỉ tiêu phân tích.
Đặc biệt cho phép liên kết các chỉ tiêu không tương đương để phân tích so sánh. Tuy
nhiên. Số tương đối không phản ánh được thực chất bên trong cùng cả số tuyệt đối và
số tương đối Có các loại số tương đối sau.
- Số tương đối kế hoạch: Phản ánh mức độ của kỳ khác so với kỳ kế hoạch.
- Số tương đối động thái: Phản ánh nhịp độ biến động hay tốc độ tăng trưởng
của chỉ tiêu so sánh.
- Số tương đối kết cấu: phản ánh tỷ trọng của từng bộ phận chiếm trong tổng
thể.
+ So sánh bằng số bình quân: Là số phản ánh mặt chung của hiện tượng, bỏ
qua sự phát triển không đồng đều của các bộ phận cấu thành tượng kinh tế của doanh
nghiệp. Xây dựng các định mức kinh tế, kỹ thuật …….Sử dụng số bình quân cần tính
tới các khoản dao động tối đa, tối thiểu. Số bình quân được tính bằng cách sang bằng
sự chênh lệch về trị số của các chỉ tiêu để phản ánh đặc điểm điển hình của một tổ
6
chức, một bộ phận hay một đơn vị… Sau đó so sánh mức độ của doanh nghiệp với số
bình quân chung của tổng thể ngành.
Phương pháp phân tích so sánh này được áp dụng rộng rãi và là phương pháp
đơn giản nhất nó vừa là cơ sở cho phương pháp phân tích khác. Phương pháp này có
thể theo dõi trong một năm hay trong nhiều năm liên tiếp và có thể dụng xen kẽ với
nhiều phương pháp khác.
1.1.4.2. Phương pháp tỷ lệ:
Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài
chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải
xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính
doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ
tham chiếu.
Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng
ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Vì:
- Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn
là cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ lệ của một
doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp.
- Việc áp dụng tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình
tính toán hàng loạt các tỷ lệ.
- Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số
liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục
hoặc theo từng giai đoạn.
Phương pháp tỷ lệ giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu
và phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc
theo từng giai đoạn. Qua đó nguồn thông tin kinh tế và tài chính được cải tiến và
cung cấp đầy đủ hơn. Từ đó cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy quá trình tính
toán hàng loạt các tỷ lệ như:
+ Tỷ lệ về khả năng thanh toán: Được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng
các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
+ Tỷ lệ và khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: Qua chỉ tiêu này
phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính.
7
+ Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh: Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho
việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp.
+ Tỷ lệ về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp
nhất của doanh nghiệp.
1.1.4.3. Phương pháp cân đối.
Là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế mà giữa chúng tồn
tại mối quan hệ cân bằng hoặc phải tồn tại sự cân bằng.
Phương pháp cân đối thường kết hợp với phương pháp so sánh để giúp
người phân tích có được đánh giá toàn diện về tình hình tài chính.
Phương pháp cân đối là cơ sở sự cân bằng về lượng giữa tổng số tài sản và tổng
số nguồn vốn, giữa nguồn thu, huy động và tình hình sử dụng các loại tài sản trong
doanh nghiệp. Do đó sự cân bằng về lượng dẫn đến sự cân bằng về sức biến động
về lượng giữa các yếu tố và quá trình kinh doanh.
1.2. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP QUA
CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH.
1.2.1. Tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát
toàn bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một
thời điểm nhất định ( thời điểm lập báo cáo).
Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp.
Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp
theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu vốn hình thành các tài sản đó.
Thông qua bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp sẽ có rất nhiều đối tượng
quan tâm. Với mỗi đối tượng sẽ quan tâm tới một mục đích khác nhau. Tuy nhiên để
đưa ra quyết định hợp lý, phù hợp với mục đích của mình cần phải xem xét tất cả
những gì cần phải thông qua bảng cân đối kế toán để định hướng cho việc nghiên cứu
tiếp theo.
1.2.1.1 Phân tích kết cấu tài sản:
Phân tích kết cấu tài sản là việc so sánh tổng hợp số vốn cuối kỳ với đầu
năm, ngoài ra ta còn phải xem xét từng khoản vốn (tài sản) của doanh nghiệp chiếm
trong tổng số để thấy được mức độ đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
8
Phân tích kết cấu tài sản ta sẽ phải lập bảng phân tích tình hình phân bổ vốn.
Trên bảng phân tích này ta lấy từng khoản vốn (tài sản) chia cho tổng số tài sản sẽ
biết được tỉ trọng của từng khoản vốn chiếm trong tổng số là cao hay thấp. Tuỳ theo
từng loại hình kinh doanh mà ta xem xét. Nếu là doanh nghiệp sản xuất phải có
lượng dự trữ về nguyên liệu đầy đủ với nhu cầu sản xuất, nếu là doanh nghiệp
thương mại phải có lượng hàng hoá đủ để cung cấp cho nhu cầu bán ra kỳ tới
Đối với khoản nợ phải thu tỷ trọng càng cao thể hiện doanh nghiệp bị chiếm
dụng vốn nhiều, hiệu quả sử dụng vốn thấp
Khi phân tích kết cấu tài sản ta cần chú ý đến tỉ suất đầu tư. Tỉ suất đầu tư
nói lên kết cấu tài sản, là tỉ lệ giữa trị giá tài sản cố định và đầu tư dài hạn so với
tổng tài sản. Tỉ suất đầu tư cũng là chỉ tiêu thể hiện sự khác nhau của bảng cân đối
kế toán giữa các doanh nghiệp khác nhau về đặc điểm, ngành nghề kinh doanh.
Tỉ suất đầu tư tổng quát
=
Trị giá TSCĐ và các khoản đầu tư dài hạn
Tổng tài sản
Tỉ suất này càng cao cho thấy năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài.
1.2.1.2. Phân tích kết cấu nguồn vốn.
Ngoài việc phân tích tình hình phân bổ vốn, các chủ doanh nghiệp, kế toán
trưởng và các nhà đầu tư, các đối tượng quan tâm khác cần phân tích kết cấu
nguồn vốn nhằm đánh giá được khả năng tự tài trợ về mặt tài chính của doanh
nghiệp cũng như mức độ tự chủ, chủ động trong kinh doanh hay những khó khăn
mà doanh nghiệp phải đương đầu.
Cũng như phân tích kết cấu tài sản, ta cũng lập bảng phân tích kết cấu nguồn
vốn để xem xét tỷ trọng từng khoản, nguồn vốn chiếm trong tổng số là cao hay
thấp.
Phân tích kết cấu nguồn vốn là so sánh tổng nguồn vốn và từng loại nguồn
vốn giữa cuối kỳ và đầu năm. Đối chiếu giữa cuối kỳ và đầu năm của từng loại
nguồn vốn qua đó đánh giá xu hướng thay đổi nguồn vốn.
Trong phân tích kết cấu nguồn vốn ta cũng đặc biệt chú ý đến tỉ suất tự tài
trợ (còn gọi là tỉ suất vốn chủ sở hữu). Chỉ số này sẽ cho thấy mức độ tự chủ của
doanh nghiệp về vốn, là tỉ lệ giữa vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn.
9
Tỷ suất tự tài trợ
=
Vốn chủ sở hữu
x 100
Tổng tài sản
Tỷ suất này càng cao càng thể hiện khả năng tự chủ cao về mặt tài chính hay
mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp tốt.
1.2.2. Tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua bảng kết quả hoạt
động kinh doanh.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một bản báo cáo tài chính tổng hợp
phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh theo từng loại hoạt động của
doanh nghiệp. Nội dung của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thay đổi theo
từng thời kỳ tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý, nhưng khi đánh giá khái quát tình hình
tài chính thì phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải phản ánh được 4
nội dung cơ bản: Doanh thu; Giá vốn hàng bán; chi phí bán hàng, chi phí quản lý
doanh nghiệp; Lãi, lỗ.
Báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong thời kỳ nhất định. Nó cung cấp
những thông tin tổng hợp về tình hình tài chính và kết quả sử dụng các tiềm năng về
vốn, lao động kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có
các khoản mục chủ yếu: doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh; doanh thu từ
hoạt động tài chính; doanh thu từ hoạt động bất thường và các chi phí tương ứng.
1.2.3. Tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua phân tích các tỷ số
tài chính:
Trong phân tích tài chính, thường dùng các nhóm chỉ tiêu đánh giá sau:
- Các tỉ số về thanh toán: Phản ánh khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp.
- Các tỉ số về cơ cấu tài chính: Phản ánh mức độ mà doanh nghiệp dùng nợ
vay để sinh lời hay phản ánh mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp.
- Các tỉ số về hoạt động: Phản ánh tình hình sử dụng tài sản, hay phản ánh công
tác tổ chức điều hành và hoạt động của doanh nghiệp.
- Các tỉ số về doanh lợi: Phản ánh hiệu quả sử dụng tài nguyên của doanh
nghiệp, hay phản ánh hiệu năng quản trị của doanh nghiệp.
1.2.3.1. Các tỷ số thanh toán:
10
* Tỷ số thanh toán hiện hành (R
c
):
Chỉ tiêu này là thước đo khả năng có thể tự trả nợ trong kỳ của doanh nghiệp,
đồng thời nó chỉ ra phạm vi, qui mô mà các yêu cầu của các chủ nợ được trang trãi
bằng những tài sản có thể chuyển đổi thành tiền phù hợp với thời hạn trả nợ.
Tỉ số này được xác định bằng công thức:
Tỷ số thanh toán hiện hành =
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Trong đó:
- Tài sản lưu động: là những tài sản có thể chuyển đổi thành tiền trong
khoảng thời gian dưới một năm. Cụ thể bao gồm các khoản: tiền mặt, đầu tư ngắn
hạn, các khoản phải thu và tồn kho và tài sản lưu động khác.
- Nợ ngắn hạn: là toàn bộ các khoản nợ có thời hạn trả dưới một năm kể từ
ngày lập báo cáo. Cụ thể bao gồm: các khoản phải trả, vay ngắn hạn, nợ tích luỹ và
các khoản nợ ngắn hạn khác.
Nếu R
c
càng cao điều đó có nghĩa là công ty luôn có đủ khả năng thanh toán các
khoản nợ. Tuy nhiên, nếu tỷ số thanh toán hiện hành quá cao sẽ làm giảm hiệu quả
hoạt động kinh doanh vì công ty đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động hay nói
cách khác việc quản lý tài sản lưu động không hiệu quả.
Qua thực tế người ta cho rằng hệ số này bằng 2 là tốt nhất. Tuy nhiên điều này
còn phụ thuộc và từng ngành nghề, phụ thuộc vào đặc điểm của từng xí nghiệp, và hệ
số này được so sánh với tỷ số thanh toán trung bình ngành mà công ty xí nghiệp đó
đang kinh doanh hoặc so sánh với các năm trước mới thấy rõ sự tiến bộ hay giảm sút.
Vì vậy trong nhiều trường hợp tỷ số thanh toán hiện hành không phản ánh chính xác
khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
* Tỷ số thanh toán nhanh (Rq):
Hệ số thanh toán nhanh là một tiêu chuẩn đánh giá khắt khe hơn về khả năng
trả các khoản nợ ngắn hạn so với chỉ số thanh toán chung. Hệ số này thể hiện mối
quan hệ giữa tài sản có khả năng thanh toán nhanh bằng tiền mặt (tiền mặt, chứng
khoán có giá và các khoản phải thu) và tổng nợ ngắn hạn. Hàng dự trữ và các
11
khoản phí trả trước không được coi là các tài sản có khả năng thanh toán nhanh vì
chúng khó chuyển đổi bằng tiền mặt và
dễ bị lỗ nếu được bán.
Hệ số này được tính như sau:
Hệ số thanh toán nhanh =
Tài sản lưu động – Hàng tồn kho
Tổng nợ ngắn hạn
Nếu hệ số thanh toán nhanh = 1 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan,
còn nếu < 1 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán.
Hệ số này càng lớn thể hiện khả năng thanh toán nhanh càng cao. Tuy nhiên, hệ
số quá lớn lại gây tình trạng mất cân đối của vốn lưu động, tập trung quá nhiều
vào vốn bằng tiền, đầu tư ngắn hạn hoặc các khoản phải thu có thể không hiệu
quả.
* Tỷ số thanh toán tức thời:
Đây là một tiêu chuẩn đánh giá khả năng thanh toán bằng tiền mặt khắt khe hơn
hệ số thanh toán nhanh. Hệ số này được tính bằng cách lấy tổng các khoản tiền và
chứng khoán có khả năng thanh toán cao chia cho
nợ ngắn hạn.
Hệ số thanh toán tức thời =
Tiền mặt – Chứng khoán thanh khoản cao
Tổng nợ ngắn hạn
Chỉ số này đặc biệt quan trọng đối với các bạn hàng mà hoạt động khan hiếm
tiền mặt (quay vòng vốn nhanh), các doanh nghiệp này cần phải được thanh toán
nhanh chóng để hoạt động được bình thường. Thực tế cho thấy, hệ số này = 0,5 thì
tình hình thanh toán tương đối khả quan, còn nếu <0,5 thì doanh nghiệp có thể gặp
khó khăn trong việc thanh toán. Tuy nhiên,nếu hệ số này quá cao lại phản ánh một
tình hình không tốt là vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quay tiền chậm làm giảm hiệu
quả sử dụng.
1.2.3.2 Các tỉ số về cơ cấu tài chính:
12
Các chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng như khả
năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp. Chúng được dùng để đo lường phần vốn
góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với
doanh nghiệp. Nguồn gốc và sự cấu thành hai loại vốn này xác định khả năng thanh
toán dài hạn của doanh nghiệp ở một mức độ đáng chú ý.
* Chỉ số mắc nợ:
Hệ số nợ (hay tỉ số nợ) là tỉ số giữa tổng số nợ trên tổng tài sản có của doanh
nghiệp.
Hệ số nợ =
Tổng số nợ
Tổng số vốn
Trong đó:
- Tổng số nợ được xác định bằng tổng số nợ phải trả ở phần nguồn vốn trong
bảng cân đối kế toán.
- Tổng số vốn được xác định là số vốn mà doanh nghiệp đang có quyền quản lý
và sử dụng.
Hệ số nợ dùng để đo lường sự góp vốn của chủ doanh nghiệp so với số nợ
vay. Các chủ nợ rất ưa thích hệ số nợ vừa phải, hệ số nợ càng thấp món nợ của họ
càng được đảm bảo thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản.khi hệ số
nợ cao có nghĩa là doanh nghiệp chỉ góp một phần vốn nhỏ trong tổng số vốn thì rủi
ro kinh doanh do chủ nợ ghánh chịu.
Về mặt lý thuyết, chỉ số này nằm trong khoảng 0 < và < 1 nhưng thông thường
nó dao động quanh giá trị 0,5. Bởi lẽ nó bị tự điều chỉnh từ hai phía: Chủ nợ và
con nợ. Nếu chỉ số này càng cao, chủ nợ sẽ rất chặt chẽ khi quyết định cho vay
thêm, mặt khác về phía con nợ, nếu vay nhiều quá sẽ ảnh hưởng đến quyền kiểm
soát, đồng thời sẽ bị chia phần lợi quá nhiều cho vốn vay (trong thời kỳ kinh doanh
tốt đẹp) và rất dễ phá sản (trong thời
kỳ kinh doanh đình đốn).
* Vòng quay vốn lưu động gồm có:
- Tỷ suất đầu tư vốn cố định: là tỷ lệ giữa TSCĐ (giá trị còn lại) với tổng tài
sản của doanh nghiệp.
13
Công thức tính:
Tỷ suất đầu tư TSCĐ =
Tài sản cố định (giá trị còn lại)
Tổng tài sản
- Tỷ suất tự tài trợ TSCĐ:
Là biểu hiện số vốn của doanh nghiệp dùng để trang thiết bị cho TSCĐ là bao
nhiêu. Doanh nghiệp nào có tài chính vững mạnh thì tỷ suất này thường lớn hơn 1. Sẽ
rất nguy hiểm nếu vay ngắn hạn để mua TSCĐ vì TSCĐ thể hiện năng lực sản suất
kinh doanh lâu dài, mà lợi nhuận tạo ra trong kinh doanh chủ yếu do lưu chuyển của
TSCĐ.
Công thức tính:
Tỷ suất tự tài trợ TSCĐ =
Vốn chủ sở hữu
Giá trị TSCĐ còn lại
* Số vòng quay hàng tồn kho:
Hàng tồn kho là một loại tài sản dự trữ với mục đích nhằm đảm bảo cho
sản xuất được tiến hành một các bình thường, liên tục, và đáp ứng được nhu cầu của
thị trường. Mức độ tồn kho cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như:
loại hình kinh doanh, chế độ cung cấp mức độ đầu vào, mức độ tiêu thụ sản phẩm,
thời vụ trong năm Để đảm bảo sản xuất được tiến hành liên tục, đồng thời đáp
ứng đủ cho nhu cầu của khách hàng, mỗi doanh nghiệp cần có một mức dự trữ tồn
kho hợp lý.
Chỉ tiêu này xác định bởi công thức:
Vòng quay hàng tồn kho =
Doanh thu tiêu thụ
Hàng tồn kho
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét