Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng NK tại công ty TNHH TM An Quân

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nhập khẩu đem lại cho nền kinh tế những máy móc thiết bị hiện đại, công
nghệ sản xuất tiên tiến, tăng cường chuyển giao công nghệ, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hoá đất nước.
Hàng hoá nhập khẩu thường là các hàng hoá có chất lượng cao, do đó để có
thể cạnh tranh được với các hàng hoá nhập khẩu thì các doanh nghiệp sản xuất
trong nước buộc phải đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Hàng hoá nhập khẩu góp phần thỏa mãn các nhu cầu của người tiêu dùng, cải
thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo các yếu tố đầu vào sản xuất cho
doanh nghiệp mà các yếu tố đầu vào đó trong nước không thể đáp ứng nổi, tạo việc
làm ổn định cho người lao động.
Những ngành nghề, lĩnh vực mà sản xuất trong nước có lợi thế so sánh cao
hơn sẽ ngày càng được chú trọng và những hàng hoá mà sản xuất trong nước có lợi
thế kém hơn sẽ được nhập khẩu. Điều này sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội, phát
huy tối đa những nguồn lợi, lợi thế trong nước. Bên cạnh đó, những hàng hoá được
sản xuất từ công nghệ hiện đại sẽ có đủ sức cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu và
vươn ra thị trường nước ngoài. Đây cũng chính là một hình thức cạnh tranh lành
mạnh để tất yếu phải đầu tư phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu của các doanh
nghiệp trong nước nếu họ không muốn bị loại bỏ.
Nhập khẩu hợp lý có ý nghĩa to lớn trong việc góp phần tăng nhanh tốc độ
phát triển kinh tế quốc dân, tăng thu nhập của dân cư và giải quyết tốt chính sách
lao động xã hội, sử dụng có hiệu quả khả năng tiềm tàng của sản xuất trong nước,
cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.
Tóm lại, trong một nền kinh tế thị trường, thương mại quốc tế là hoạt động
kinh doanh buôn bán dịch vụ ở phạm vi quốc tế. Đây không phải là những hành vi
mua bán riêng lẻ, mà là một hệ thống các hành vi mua bán có tổ chức nhằm đẩy
mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định và nâng cao
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đời sống nhân dân. Nhờ đó mà nền kinh tế có thể đạt được những bước tăng trưởng
đột biến nhanh chóng nhưng đồng thời cũng có thể gặp phải những thất bại do
đương đầu với các nền kinh tế khác.
Trao đổi mua bán quốc tế là một tất yếu, là một cách thức để phát triển nền
kinh tế quốc dân. Có thương mại quốc tế là có xuất nhập khẩu và kinh doanh hàng
hoá xuất nhập khẩu. Xuất nhập khẩu và kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu là hai
công việc khác nhau, nhưng đứng trên giác độ nền kinh tế quốc dân và các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu thì hai khâu này lại nằm trong chỉnh thể của quá trình kinh
doanh.
II. HỢP ĐỒNG XUẤT NHẬP KHẨU
1. Khái niệm:
Cho đến nay, ở Việt Nam chúng ta chưa có một văn bản quy phạm pháp luật
chính thức nào quy định cụ thể, chi tiết riêng cho hợp đồng xuất nhập khẩu. Trước
đây, trong quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK ngày 31/7/1991 của Bộ Thương
nghiệp (nay là Bộ Thương mại) có nêu khái niệm về hợp đồng xuất nhập khẩu,
trong đó đưa ra ba tiêu chuẩn để hợp đồng mua bán được thừa nhận là hợp đồng
xuất nhập khẩu. Ba tiêu chuẩn đó là :
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng xuất nhập khẩu là các bên có quốc tịch khác
nhau (i).
Thứ hai, hàng hoá là đối tượng của hợp đồng thường được di chuyển từ nước
này sang nước khác (ii).
Thứ ba, đồng tiền thanh toán trong hợp đồng xuất nhập khẩu là ngoại tệ đối
với một hoặc hai bên ký kết hợp đồng (iii).
Khái niệm và cách hiểu này đã được thừa nhận trong thực tiễn hoạt động
xuất nhập khẩu của Việt Nam trong nhiều năm qua. Và ở một chừng mực nhất
định, quan điểm này không sai. Nhưng cùng với việc hình thành các khu chế xuất ở
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Việt Nam và những quy chế đặc biệt về khu chế xuất, tiêu chuẩn (ii) quy định rằng
đối tượng của hợp đồng xuất nhập khẩu phải được chuyển qua biên giới không còn
phù hợp nữa.
Theo Điều 80 của Luật Thương mại hiện hành (10/5/1997): “ Hợp đồng mua
bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hoá được ký
kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước
ngoài”. Như vậy có thể hiểu hợp đồng xuất nhập khẩu là tất cả các hợp đồng mua
bán được ký kết giữa các chủ thể Việt Nam với các thể nhân, pháp nhân nước
ngoài, hay nói cách khác là những hợp đồng mua bán có yếu tố nước ngoài.
Cùng với việc chuyển sang cơ chế thị trường, và việc tham gia sâu rộng vào
sự phân công lao động quốc tế, Việt Nam đang từng bước hoà nhập, thay đổi và đi
đúng quỹ đạo của sự phát triển kinh tế quốc tế. Chính phủ Việt Nam cũng đang
nghiên cứu để tiến tới gia nhập hoặc thừa nhận các điều ước quốc tế đa phương,
trong đó có các điều ước quốc tế về mua bán hàng hoá quốc tế như Công ước Viên
1980. Công ước Viên 1980 là Công ước của Liên Hiệp Quốc về mua bán hàng hoá
quốc tế được ký kết ở Viên (Áo) ngày 11/04/1980. Công ước Viên 1980 có quy
định: “ Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hoá, trong
đó các bên ký kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau. Hàng hoá được
chuyển từ nước này sang nước khác hoặc trao đổi ý chí khi ký kết hợp đồng giữa
các bên ký kết được thiết lập ở các nước khác nhau” (Điều 1).
Vậy, để hiểu rõ và nhận biết hợp đồng xuất nhập khẩu với hợp đồng mua bán
hàng hoá trong nước thì chúng ta cần nắm rõ điều kiện trước tiên của các chủ thể
ký kết là có quốc tịch khác nhau.
2. Đặc điểm:
Bản chất của hợp đồng xuất nhập khẩu (HĐ XNK) là sự thoả thuận của các
bên ký kết (các đương sự ), và có những đặc điểm sau:
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+ Hợp đồng xuất nhập khẩu mang tính thương mại, thông qua nó là sự trao
đổi, mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại của các thương nhân, nhằm
mục đích thu lợi nhuận.
Thương nhân, theo Luật Thương mại quốc tế, là các bên tham gia vào hoạt
động thương mại quốc tế để hưởng các quyền và thực hiện những nghĩa vụ nhất
định.
+ Đồng thời, hợp đồng xuất nhập khẩu mang tính quốc tế, thể hiện:
- Hàng hoá - đối tượng của hợp đồng - được di chuyển ra khỏi biên giới quốc
gia. Thực tế thì điều kiện này cũng chưa cho thấy sự khác biệt giữa hợp đồng xuất
nhập khẩu với một hợp đồng kinh tế nói chung, ví dụ như hợp đồng mua bán ký
kết giữa một xí nghiệp trong khu chế xuất với một xí nghiệp ngoài khu chế xuất
được luật pháp coi là hợp đồng xuất nhập khẩu, nhưng hàng hoá thuộc hợp đồng đó
không di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia.
- Đồng tiền thanh toán phải là ngoại tệ đối với ít nhất một bên.
- Các bên ký kết có trụ sở kinh doanh hoặc quốc tịch ở các nước khác nhau.
- Luật điều chỉnh hợp đồng ( Luật áp dụng cho hợp đồng) mang tính chất
phức tạp và đa dạng; nếu là hợp đồng trong nước thì chỉ chịu sự điều chỉnh của luật
pháp nước đó. Nhưng xuất phát từ đặc điểm các bên ký kết là những thương nhân
có quốc tịch khác nhau, HĐ XNK có thể sẽ áp dụng luật nước ngoài mà các bên
thỏa thuận lựa chọn, tập quán thương mại quốc tế hoặc điều ước quốc tế thậm chí
cả án lệ (tiền lệ pháp). Để tránh hiện tượng “xung đột pháp luật”- là hiện tượng có
nhiều hệ thống pháp luật khác nhau có thể cùng tham gia điều chỉnh một quan hệ
pháp luật – thì các bên phải thống nhất dẫn chiếu một nguồn luật điều chỉnh cụ thể
trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
3. Nguồn luật điều chỉnh
Trước khi giao kết một HĐ XNK các chủ thể luôn phải tìm hiểu trong hoàn
cảnh đó hợp đồng quy định họ có những quyền và nghĩa vụ gì. Nếu một HĐ XNK
không chặt chẽ thì khả năng xảy ra tranh chấp là rất lớn, các bên rất dễ vi phạm hợp
đồng. Trên thực tế, một HĐ XNK dù được soạn thảo hoàn chỉnh, chi tiết đến đâu
cũng không thể tiền liệu trước được mọi tình huống có thể phát sinh trong quá trình
thực hiện. Khi đó, những vấn đề phát sinh sẽ dựa vào cơ sở nào để giải quyết nếu
như trong hợp đồng không quy định hoặc quy định không đầy đủ. Nếu là hợp đồng
mua bán hàng hoá trong nước thông thường thì luật quốc gia đó là cơ sở, nhưng đối
với một HĐ XNK thì vấn đề hoàn toàn không đơn giản – bởi luật quốc gia của các
bên liên quan đều có khả năng áp dụng. Để giải quyết vấn đề này, thì theo sự thoả
thuận của các bên trong quá trình giao kết HĐ nguồn luật điều chỉnh có thể là luật
quốc gia, luật quốc tế, tập quán TMQT hay tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại.
3.1. Luật quốc gia
Các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận được trong hợp đồng không phải
trong mọi trường hợp đều đầy đủ và có thể giải quyết được mọi vấn đề phát sinh
trong quá trình thực hiện hợp đồng. Do đó, vấn đề lựa chọn pháp luật áp dụng cho
quan hệ cụ thể được đặt ra, trước hết các chủ thể tìm hiểu điều ước quốc tế liên
quan quy định ra sao; trong trường hợp không có điều ước quốc tế hoặc điều ước
quốc tế không đề cập hoặc đề cập không đầy đủ quyền và nghĩa vụ các bên thì các
chủ thể của hợp đồng có thể dựa vào luật của quốc gia nào đó để giải quyết các
tranh chấp phát sinh. Trong trường hợp đó, Luật quốc gia sẽ trở thành luật áp dụng
cho HĐ XNK trong các trường hợp sau:
- Nếu điều ước quốc tế mà quốc gia của các chủ thể tham gia ký kết (hoặc
thừa nhận) có quy định về điều khoản luật áp dụng cho HĐ mua bán ngoại thương,
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thì luật đó đương nhiên được áp dụng mà không phụ thuộc sự đàm phán thỏa thuận
của các chủ thể.
- Các bên đã thoả thuận trong HĐ XNK.
- Hoặc có thể do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau mà các
bên có thể thoả thuận lựa chọn luật áp dụng sau khi ký HĐ hoặc thậm chí sau khi
đã phát sinh tranh chấp (khi đó các bên vẫn có quyền thoả thuận đưa tranh chấp ra
xét xử theo trình tự trọng tài và quyết định áp dụng luật quốc gia nào để giải quyết
tranh chấp mà HĐ chưa quy định về cơ quan giải quyết tranh chấp).
- Trong trường hợp không đạt được sự thống nhất giữa các đương sự, cơ
quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (các cơ quan tài phán) sẽ lựa chọn luật áp
dụng. Thông thường, các cơ quan tài phán sẽ lựa chọn nguyên tắc quốc tịch đối với
những trường hợp này, nghĩa là luật áp dụng cho hợp đồng xuất nhập khẩu là luật
quốc gia nơi hợp đồng được ký kết.
Tuy nhiên một vấn đề cần chú ý đối với việc chọn pháp luật áp dụng là tất cả
các nước trên thế giới đều không cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài khi có lý
do phải bảo vệ trật tự công cộng nước mình dù quy phạm xác định dẫn chiếu đến
việc áp dụng pháp luật nước ngoài.
Theo pháp luật Việt Nam, tại Điều 828-Bộ Luật Dân sự và khoản 2 (Điều 4-
Luật Thương mại Việt Nam) có quy định các bên tham gia hợp đồng được thỏa
thuận áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với pháp luật Việt Nam hoặc trong
trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định áp
dụng luật nước ngoài.
Luật do các bên thống nhất dẫn chiếu đến có thể là luật quốc gia của nước
người mua, hoặc của nước người bán, hoặc nếu không thống nhất được các bên có
thể quyết định chọn luật của nước thứ ba-Luật trung lập.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
3.2. Luật quốc tế
Luật quốc tế bao gồm điều ước quốc tế song phương và điều ước quốc tế đa
phương.
Điều ước quốc tế là sự thoả thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế, mà chủ
yếu là giữa các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm thiết lập những quy
tắc pháp lý bắt buộc để ấn định, thay đổi hoặc từ bỏ quyền và nghĩa vụ với nhau.
Mặc dù trong tư pháp quốc tế, điều ước quốc tế không phải là nguồn luật chủ yếu
chiếm ưu thế, vì để ký một điều ước quốc tế cần có những điểm tương đồng về lợi
ích trên cơ sở tương quan lực lượng giữa các quốc gia và còn những trở ngại về
phong tục tập quán, nhưng đây là cách hữu hiệu nhất để giải quyết xung đột pháp
luật, chúng có tác động chủ đạo và trực tiếp đối với hoạt động ngoại thương. Khi
các quốc gia đã tham gia điều ước quốc tế thì phải nghiêm chỉnh thi hành, điều ước
quốc tế có giá trị pháp lý bắt buộc trên toàn bộ lãnh thổ điều ước. Các quy phạm
pháp luật quốc gia phải ban hành phù hợp với điều ước quốc tế. Trong trường hợp
có sự khác nhau, quy phạm của điều ước quốc tế sẽ được áp dụng. Điều đó cũng có
nghĩa là khi ký kết một hợp đồng mua bán ngoại thương, nếu hai bên chủ thể mang
quốc tịch của nước là thành viên điều ước quốc tế vẫn đương nhiên được áp dụng
mà không phụ thuộc ý chí chủ quan của các bên. Nếu nội dung của các điều khoản
trái với điều ước quốc tế chúng sẽ không có hiệu lực pháp lý; và trong quá trình
thực hiện, bên cạnh các quyền, nghĩa vụ mà hợp đồng quy định, các quy định của
điều ước quốc tế cũng phải được thực hiện nghiêm chỉnh.
Hiện nay công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán quốc tế có vai trò quan
trọng trong việc trao đổi, mậu dịch quốc tế. Công ước Viên 1980 quy định cụ thể
quyền, nghĩa vụ, của người bán, người mua, trình tự ký kết hợp đông ngoại thương
giữa các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, nhưng đều là thành viên
của công ước. Cho đến nay đã có hơn 50 quốc gia phê chuẩn, tham gia, tuyên bố
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thừa kế việc tham gia công ước này. Hiện nay Việt Nam chưa tham gia Công ước
Viên 1980 nên nó không phải là nguồn luật đương nhiên điều chỉnh HĐ XNK có
chủ thể là một bên Việt Nam. Nhưng trên cơ sở tôn trọng ý chí tự thỏa thuận của
các bên cũng như của các quốc gia khác, Việt Nam cho phép các điều ước quốc tế
mà Việt Nam chưa tham gia được trở thành luật áp dụng cho hợp đồng mua bán
ngoại thương có sự tham gia của chủ thể Việt Nam nếu chúng được thoả thuận dẫn
chiếu trong hợp đồng. Nếu quy định nào mà hậu quả của việc áp dụng trái với
những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội, của pháp luật Việt Nam sẽ không được
phép áp dụng dù đã được quy định trong điều khoản luật áp dụng của hợp đồng.
Bên cạnh điều ước quốc tế đa phương, thì còn có các điều ước quốc tế song
phương. Đó là những điều ước quốc tế do các quốc gia có quan hệ ngoại thương
với nhau, và hiệu lực chỉ giữa những nước đó, và trong những lĩnh vực nhất định.
Ví dụ như Hiệp định Thương mại Việt Nam –Hoa kỳ…
3.3. Tập quán thương mại quốc tế :
Trong quan hệ kinh tế ngoại thương, tập quán thương mại cũng là nguồn
được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng ngoại thương và cũng giữ một vai trò khá
quan trọng; mỗi hợp đồng mua bán ngoại thương ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của
những tập quán quốc tế.
Tập quán thương mại quốc tế là những thói quen thương mại được lặp đi lặp
lại nhiều lần trong một thời gian dài, được nhiều nước công nhận và áp dụng rộng
rãi trong hoạt động ngoại thương. Tập quán thương mại không có giá trị gì nếu các
vấn đề phát sinh trong quan hệ hợp đồng đã được các điều khoản hợp đồng điều
chỉnh. Các bên không thể phủ nhận những điều khoản này bằng cách viện dẫn nó
trái với tập quán thương mại. Như vậy một tập quán thương mại chỉ được áp dụng
khi:
+ Được các bên thỏa thuận trong hợp đồng là sẽ áp dụng.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+ Được quy định trong điều ước quốc tế .
+ Hoặc trong trường hợp hợp đồng không có quy định gì vấn đề đang tranh
chấp và điều ước quốc tế liên quanvới luật quốc gia được dẫn chiếu không quy định
gì.
Tập quán thương mại quốc tế là tập quán thương mại được nhiều nước công
nhận và áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi, nhiều khu vực. Trong các HĐ XNK thường
dẫn chiếu tới tập quán thương mại quốc tế trong Incoterms do Phòng Thương mại
và Công nghiệp quốc tế biên soạn vào năm 1936, sửa đổi bổ sung vào các năm
1953, 1967, 1980, 1990, và gần đây nhất là Incoterms 2000- quy định về điều kiện
giao hàng, bao gồm quyền và nghĩa vụ của các bên, như : chi phí trong giao nhận
hàng hoá giữa các bên, thời điểm chuyển dịch rủi ro từ người bán sang người mua.
Ngoài ra người ta còn áp dụng Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng
từ (UCP)-do Phòng Thương mại và Công nghiệp quốc tế ban hành.
Theo pháp luật Việt Nam, Điều 48-khoản 3, Luật Thương mại Việt Nam
1997, các bên trong hợp đồng được thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại quốc
tế nếu tập quán thương mại quốc tế đó không trái với pháp luật Việt Nam.
3.4. Tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại
Án lệ về bản chất là việc sử dụng các phán quyết đã tuyên trước đây của toà
án hoặc trọng tài trên cơ sở phân tích, giải thích và vận dụng nó như một cơ sở
pháp lý để các cơ quan tư pháp giải quyết tranh chấp về sau. Đối với một số quốc
gia thì án lệ không được coi là nguồn của pháp luật, nhưng đối với một số nước
như Anh, Mỹ thì án lệ được coi là một nguồn quan trọng của pháp luật.
Việt Nam không thừa nhận án lệ, nhưng đối với hợp đồng xuất nhập khẩu nó
có thể trở thành luật áp dụng nếu một trong hai nước mà chủ thể mang quốc tịch coi
án lệ là một nguồn của pháp luật và luật áp dụng trong hợp đồng là luật của quốc
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
gia coi án lệ là nguồn của pháp luật. Tuy nhiên việc sử dụng án lệ không được trái
với nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
III. KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XUẤT NHẬP KHẨU
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1. Ký kết Hợp đồng xuất nhập khẩu:
1.1. Nguyên tắc ký kết
Việc ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu phải được thực hiện theo các nguyên
tắc cơ bản sau:
+ Nguyên tắc tự nguyện: hợp đồng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí của
các bên tham gia xác lập quan hệ hợp đồng do đó việc ký kết hợp đồng xuất nhập
khẩu phải dựa trên cơ sở tự do ý chí của các bên. Điều đó có nghĩa là các bên tham
gia ký kết hợp đồng có quyền tự do bày tỏ ý kiến của mình, không thể do sự áp đặt
ý chí của bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào. Quan hệ hợp đồng chỉ có thể
hình thành và có giá trị nếu các bên thống nhất ý chí với nhau một cách tự nguyện
và sự thống nhất này phải có chứng cứ.
Trong quá trình ký kết hợp đồng, đây là một nguyên tắc quan trọng, pháp
luật không công nhận giá trị pháp lý của hợp đồng nếu phát hiện có sự vi phạm
nguyên tắc này: một bên đương sự bị đe dọa phải tham gia ký kết; hoặc các bên
tham gia ký kết hợp đồng không phải trên cơ sở tự nguyện, mà do sự áp đặt ý chí
của một chủ thể khác. Sự vi phạm nguyên tắc này thể hiện việc ký kết hợp đồng
không mang lại lợi ích thiết thực cho một trong các chủ thể tham gia, mà vì lợi ích
của cá nhân, tổ chức khác.
+ Nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi: các bên tham gia hợp đồng hoàn toàn
bình đẳng với nhau về các quyền và nghĩa vụ. Điều này thể hiện ở chỗ khi đàm
phán ký kết hợp đồng các bên đều có quyền đưa ra những yêu cầu của mình và đều
có quyền chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của người khác mà không bên

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét