Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mở rộng cung tín dụng đối với người nghèo ở KOMPONGCHAM , CAMPUCHIA

5
- Qua nghiên cứu nhu cầu về vốn, khả năng thanh toán của nông
dân cũng như khả năng đáp ứng của các đònh chế tín dụng, từ đó có những nhận
xét về vấn đề khả năng sản xuất của nông dân và khả năng tiếp cận của họ đối
với các loại tổ chức ĐCTDCT, để đưa phương hướng giải quyết giúp người
nghèo tiếp cận được nguồn tín dụng với lãi suất hợp lý trong sản xuất kinh doanh
của họ.
2.2. Nhiệm Vụ
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu trên, nội dung của luận án tập
trung vào việc trả lời câu hỏi sau đây:
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc tiếp cận nguồn tín dụng của
người nông dân nghèo ở nông thôn Kompongcham ?
- Giải pháp chủ yếu để mở rộng cung tín dụng cho người nông dân
nghèo đói ở vùng nông thôn Kompongcham ?
3. ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Xuất phát từ mục tiêu và nhiệm vụ như đã trình bày trên luận án này xác
đònh đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau:
3.1. Đối Tượng Nghiên Cứu:
Đối tượng nghiên cứu là khả năng mở rộng cung tín dụng với lãi suất hợp
lý và các yếu tố ảnh hưởng như: doanh thu, giá trò tài sản, kỳ hạn vay của người
nông dân nghèo, và một vài yếu tố khác như trình độ văn hóa của nông dân,
kiến thức về sản xuất của họ, văn hóa truyền thống, môi trường, sức khoẻ, dinh
dưỡng, cơ sở hạ tầng nông thôn…
3.2. Giới Hạn Phạm Vi Nghiên Cứu
- Luận án tập trung vào việc phân tích, đánh giá nhằm xác đònh các
yếu tố căn bản có tính quyết đònh việc tiếp cận nguồn tín dụng của nông dân
nghèo đói ở nông thôn trong khu vực tỉnh Kompongcham.
6
- Nghiên cứu thực trạng, thu thập và phân tích số liệu về tình hình
sản xuất nông nghiệp, quan hệ vay mượn nguồn tài chính, cơ sở hạ tầng nông
thôn, trình độ văn hóa, trình độ sản xuất, phong tục tập quán…
Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp nhằm mở rộng cung tín dụng cho
nông dân nghèo ở nông thôn Kompongcham.
3.3. Đòa Bàn Nghiên Cứu
Đòa bàn để nghiên cứu là tại tỉnh Kompongcham, nằm vùng đồng bằng
dọc theo hai bên dòng sông Mekong (sông Cửu Long) - Campuchia, có biên giới
phía đông giáp tỉnh Tây Ninh -Việt Nam.
Do giới hạn về thời gian, ngân sách nghiên cứu, đề tài chỉ giới hạn ở mức
điều tra 100 hộ nông dân nghèo ở hai xã đại diện là xã nghèo nhất ( xã
Sreysnthor) và xã giàu nhất ( xã Stangtrong ) trong tỉnh Komponhcham.
4. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Thực tế hoàn cảnh hiện nay của đất nước Campuchia nói chung và người
dân nghèo ở nông thôn nói riêng, nạn nghèo đói đang đe doạ và ngày càng
nghiêm trọng. Mục tiêu hàng đầu của chính phủ Campuchia là nâng cao trình độ
phát triển kinh tế, tức nâng cao đời sống của nhân dân để từng bước xóa đói
giảm nghèo.
Đề tài này sẽ đóng góp có ý nghóa cho mục tiêu hàng đầu của chính phủ
Campuchia về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
4.1. Về Mặt Lý Luận, Luận Án Này Có Những Đóng Góp Như Sau:
- Vận dụng mô hình kinh tế lượng vào phân tích cung tín dụng cho
người nghèo đói ở nông thôn.
- Vận dụng lý thuyết về kinh tế nông nghiệp vào việc giải thích thực
trạng cung tín dụng cho người nghèo.
- Mở rộng lý thuyết về phát triển cộng đồng người dân nghèo ở
nông thôn thông qua việc cung cấp nguồn vốn trong sản xuất kinh doanh của họ.
7
- Đưa ra phương hướng về mô hình lý thuyết trong việc mở rộng
cung tính dụng của các ĐCTD.
- Mở rộng lý thuyết và mô hình chính sách xóa đói giảm nghèo của
chính phủ của các nước đang phát triển nói chung cũng như ở Campuchia nói
riêng.
4.2. Về Mặt Thực Tiễn, Luận Án Này Có Những Đóng Góp Như Sau:
- Phân tích và chứng minh được những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng
đến việc cung tín dụng cho nông hộ nghèo ở nông thôn tại Kompongcham,
Campuchia.
- Việc tham khảo trường hợp cụ thể của tỉnh Kompongcham góp
phần đánh giá thực trạng của tỉnh, để cung cấp cho đòa phương cơ sở đưa ra
chính sách thích hợp nhằm thúc đẩy việc cung cấp nguồn vốn cho nông hộ nghèo
ở nông thôn.
- Giúp cho cộng đồng người dân nghèo đói ở nông thôn có nguồn
vốn trong sản xuất kinh doanh cũng như để việc phục vụ cho nhu cầu cần thiết
trong cuộc sống của hộ.
Thông qua đó cuộc sống của người dân nghèo đói ở nông thôn đïc cải
thiện, kết cấu cơ sở hạ tầng nông thôn ngày càng cải thiện và phát triển.





8
CHƯƠNG 1 :
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1.1. CÁC MÔ HÌNH LÝ THUYẾT:
Thuật ngữ “Poverty” được dòch với nhiều tác giả khác nhau với nhiều
nghóa: nghèo, nghèo khổ hoặc nghèo đói. Trong bài luận án này do nội dung bên
trong đề cập chủ yếu vào tình trạng nghèo đói của người nông dân ở nông thôn,
nên tác giả tạm dòch ngôn từ “Poverty” là nghèo đói.
1.1.1. Lý Thuyết Về Nghèo Đói:
a. Các khái niệm về tình trạng nghèo đói:
Tình trạng nghèo đói, vừa là một thuật ngữ theo nghóa tương đối vừa là
một thuật ngữ theo nghóa tuyệt đối.
Theo nghóa tương đối: Người hay hộ gia đình có thể được xem là nghèo
đói hay sống trong tình trạng nghèo đói nếu thu nhập của họ hay khả năng tiếp
cận hàng hóa dòch vụ của họ thấp so với của hầu hết người khác trong nền kinh
tế.
Theo nghóa tuyệt đối : Người hay hộ gia đình có thể được xem là nghèo
đói hay sống trong tình trạng nghèo đói là khi thu nhập của họ nằm ở mức thu
nhập tuyệt đối hay mức sống tuyệt đối nào đó, thường là dưới mức tối thiểu
chuẩn đã được qui đònh.
Vậy liệu tăng trưởng kinh tế có thể làm giảm được sự nghèo đói hay
không ? Theo đònh nghóa trên ta thấy tình trạng nghèo đói tương đối sẽ không
thay đổi gì cả khi cùng tăng thu nhập cho mọi người trong nền kinh tế, mọi người
đều vẫn ở trong cùng vò trí “tương đối” mà người ấy đã ở trước đây. Nghèo đói
tuyệt đối được giảm xuống khi nền kinh tế tăng trưởng, còn nghèo đói theo đònh
nghóa tương đối thì không.


9
b. Các khái niệm về nghèo đói trên thế giới
Nghèo đói (poverty) là một thuật ngữ có nhiều khái niệm và đa khía cạnh.
Sau đây sẽ là một số các khái niệm về nghèo đói trên thế giới:
 Theo ngân hàng phát triển Châu Á, nghèo đói là sự thiếu thốn
những cơ hội phát triển (opportunities) và những tài sản thiết yếu (essential
assets) mà mỗi người đều có quyền được nắm giữ (ADB,2003)
 Theo ngân hàng thế giới, một cá nhân đựơc đònh nghóa là nghèo
đói khi thiếu thốn những thứ có thể mang lại “well-being” cho con người, tức là
sự khoẻ mạnh về thể chất lẫn tinh thần và hạnh phúc trong cuộc sống. “Well-
being” có thể được đo lường bằng thu nhập, y tế, dinh dưỡng, giáo dục, tài sản,
nhà ở và một số quyền trong xã hội. Do đó, trong cuộc sống, khi một người thiếu
những thứ kể trên thì có thể được xem là nghèo đói.
 Ngoài ra, khi con người rơi vào hoàn cảnh thiếu thốn những cơ hội
phát triển (lack of opportunities), dễ bò tổn thương (vulnerability) và tỏ ra bất lợi
trước diễn biến của xã hội (powerlessness) thì cũng được xem là trong tình trạng
nghèo đói (World Bank, 2001c).
c. Tình trạng nghèo đói theo phương diện thu nhập và nhu cầu cơ
bản
 Về phương diện thu nhập : một người là nghèo đói tuyệt đối nếu
thu nhập của anh ta thấp hơn thu nhập được xác đònh.
Theo ngân hàng thế giới (Worl Bank) đã lập chuẩn mực khác nhau về
nghèo đói ở khu vực khác nhau. Một người được coi là nghèo khi không kiếm
nổi 1 USD / ngày ở các nứơc đang phát triển; 2 USD / ngày ở châu Mỹ La Tinh
và Carbibe; 4 USD / ngày ở Đông Âu và khối thònh vượng Anh; 14 USD / ngày ở
các nước công nghiệp.
 Về phương diện nhu cầu cơ bản : nghèo đói là sự thiếu thốn về vật
chất để đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người như ăn, mặc ở,… được chăm sóc
sức khoẻ, được giáo dục cơ bản và hưởng các dòch vụ cần thiết khác; ngoài ra
10
còn có các nhu cầu làm việc và giao tiếp. Trong khi một người nghèo tương đối
là khi anh ta thuộc về nhóm thu nhập thấp nhất trong xã hội. Người nghèo cảm
thấy bò tướt đoạt những cái mà người khác trong xã hội được hưởng thụ.
d. Các đặc điểm của tình trạng nghèo đói (WB)
 Vùng nông thôn có tình trạng nghèo khổ cao hơn so với thành thò.
Ở Indonesia, Philippines, Việt Nam, Lào và Campuchia tỷ lệ nghèo đói ở nông
thôn cao gấp đôi so với ở thành thò. Gần 90% số người nghèo ở Việt Nam, Lào
và ở Campuchia sống ở nông thôn.
 Những khác biệt về vùng cũng khá đáng kể. Ví dụ, ở Việt Nam
trong năm 1993, tỷ lệ nghèo đói biến thiên từ mức 33,7% ở Đông Nam bộ lên tới
77,2% ở vùng Bắc Ttrung Bộ.
 Giáo dục có tương quan mạnh với mức nghèo khổ trong toàn khu
vực. Trình độ giáo dục thấp dẫn tới thu nhập thấp khả năng dễ rơi vào tình trạng
nghèo đói, từ đó lại giảm khả năng của hộï gia đình trong việc giáo dục con em
mình. Trẻ em ở hộ nghèo có tỷ lệ đi học tiểu học và trung học thấp hơn nhiều.
 Các hôï nông nghiệp chòu rủi ro nghèo đói cao hơn bất cứ nhóm
nghèo nào khác. Tỷ trọng số người nghèo sống trong các hộ nông nghiệp có mức
cao -60% ở Philippines, 76% ở Thái Lan và Việt Nam.
 Dân tộc thiểu số cũng có tỷ lệ nghèo đói cao ở một số nước trong
khu vực như Việt Nam, Malaysia, Campuchia. Ví dụ ở Việt Nam, tình trạng
nghèo đói có tỷ lệ cao hơn nhiều ở các nhóm dân tộc thiểu số (ngoại trừ người
Hoa).
 Đặc điểm về giới cho thấy các hôï với chủ hôï là nam giới có tỷ lệ
nghèo cao hơn trong hầu hết các nước Đông Á ngoại trừ Mông Cổ.
1.1.2. Mối Quan Hệ Về Nghèo Đói Và Tín Dụng
Như đã biết nghèo đói là tình trạng thiếu thốn về mọi mặt mọi khía cạnh.
Thực tế cho thấy, trong nông nghiệp (nhất là ở vùng nông thôn đồi núi, vùng sâu
vùng xa) hôï nông dân sản xuất theo phương thức tự cấp tự túc với công nghệ lạc
11
hậu, năng suất mỗi năm mỗi mùa phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, khi thất mùa thì
năng suất kém. Muốn nâng cao chất lượng sống của họ phải có vốn và trên thực
tế đang tồn tại một vòng luẩn quẩn như sau:
Sơ đồ 1: Vòng luẫn quẫn của nghèo đói






Người nghèo thu nhập thấp dẫn tới tích lũy thấp, đầu tư thấp, năng xuất
thấp, như thế cứ quay về thu nhập thấp và nó sẽ tiếp tục nối vòng tuần hoàn
luẩn quẩn của tình trạng nghèo đói.
1.1.3. Lý Thuyết Thò Trường TDNT
1.1.3.1. Khái niệm về tín dụng
Từ tín dụng được sử dụng ngày nay ( tiếng Anh: Credit; tiếng Pháp:
Crédit) xuất phát từ gốc tiếng Latin là Creditum có nghóa là lòng tin, sự tín
nhiệm. Ở đây muốn nói niềm tin mà người cho vay hướng về người đi vay khi họ
đem tiền bạc, tài sản ra cho vay, họ phải có cơ sở tin rằng người đi vay sẽ hoàn
trả nợ đúng hạn. Theo nghóa hẹp tín dụng là sự vay mượn trong đó hai chủ thể
người đi vay và người cho vay sẽ thoả thuận một thời hạn nợ và mức lãi cụ thể.
Nếu theo nghóa rộng thì tín dụng là sự vận động của các nguồn vốn từ nơi thừa
đến nơi thiếu.
Như vậy, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về tín dụng như sau: tín
dụng là một quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả (cả vốn và lãi) sau
một thời hạn nhất đònh. Tín dụng là một phạm trù kinh tế đã tồn tại qua nhiều
hình thái kinh tế - xã hội.
Thu nhập thấp
Tích lũy thấp
Năng suất thấp
Đầu tư thấp
12
Mục tiêu cuối cùng của hệ thống tín dụng nông thôn là đáp ứng nhu cầu
về vốn cho người nghèo ở nông thôn. Các loại đònh chế được phân chia thành
các đònh chế chính thức, bán chính thức và đònh chế không chính thức. Như vậy,
cải thiện hiệu quả hoạt động của thò trường tín dụng nông thôn là tùy thuộc vào
hiệu quả hoạt động của các đònh chế này.
1.1.3.2. Tín dụng đối với người nghèo ở vùng nông thôn
Một câu hỏi đáng quan tâm là, ai là người đắc thủ nguồn tín dụng với lãi
suất thấp (cheap rates) và hợp lý (rasonable rates) trong vùng nông thôn ?
Các nhà kinh tế học thuộc trường phái Ohio như Adams (1984), Von
Pischke (1978), và Gonzalez - Vega (1984) tranh luận rằng chỉ có một bộ phận
rất nhỏ của nông dân nghèo đắc thủ được nguồn tín dụng với lãi suất thấp trong
các nước đang phát triển. Theo các công trình nghiên cứu họ chỉ có khoảng 15%
nông dân nghèo ở châu Á và Mỹ Latin, và khoảng nhiều hơn 5% ở châu Phi đắc
thủ được nguồn tín dụng từ các đònh chế thuộc khu vực chính thức (Gonzallez –
Vega, 1984). Lele (1981), Lipton (1976), Rao (1970, 1975), Braverman Guasch
(1986), Egger (1986) và Sarap (1990) cũng chỉ ra rằng những nỗ lực của hệ
thống ĐCTDNT thuộc khu vực chính thức ít khi mang lại lợi ích cho người nghèo
vì: (1) Yêu cầu về tài sản thế chấp như là điều kiện tiên quyết; (2) Các đònh chế
thường giới hạn cung cấp tín dụng đến nông dân nghèo để giảm chi phí giao dòch
vì chi phí giao đòch sẽ rất cao so với số tiền vay rất nhỏ và với số người mượn
đông; (3) Do khống chế của chính sách lãi suất trần, các đònh chế thường tìm
thấy hiệu quả và ít rủi ro khi cho vay đối với nông dân có qui mô sản xuất lớn
(nông dân giàu); (4) Có nhiều người nghèo không có khả năng trả lại nợ và điều
này làm ảnh hưởng chung đến uy tín người nghèo về khả nãng thanh toán.
Trong bối cảnh Việt Nam, chương trình điều tra tín dụng ở vùng Đồng
Bằng Sông Cửu Long (Đinh Phi Hổ 2001) cho kết quả rằng, hộ nông dân giàu
13
đắc thủ 33% của tổng tín dụng với lãi suất hợp lý
1
, còn đối với hộ có thu nhập
trung bình tỷ lệ này là 57%, trong khi đó người nghèo chỉ đắc thủ 10% đối với
nguồn tín dụng trên. Đinh Phi Hổ cũng tìm ra bằng chứng rằng qui mô cho vay
của các đònh chế chính thức và không chính thức tương quan có ý nghóa với thu
nhập của người mượn và thời kỳ ngắn hạn mối tương quan này được thể hiện
như sau:
LnVL = 2,929 – 0,191Lp + 0,639lnBI
Giá trò t (6,014)
a
(-1,696)
c
(12,86)
a
R
2
điều chỉnh = 0,496
Trong đó VL (Volume of concessionary loans) số tiền cho cho vay của
nguồn tín dụng (cả khu vực chính thức và không chính thức) với lãi suất nhỏ hơn
hoặïc bằng 2,5%; Lp (the loan period): thời kỳ của tiền vay; BI (Borrower’s
income): thu nhập của người mượn.
Ghi chú:
a
có ý nghóa thống kê ở trình độ 1%;
c
có ý nghóa thống kê ở trình độ
10%.
Mô hình dựa trên hệ thống số liệu điều tra của 297 hộ nông dân thuộc 6
tỉnh ở Đồng Bằng Sông Cữu Long (2001).
(Nguồn: Đinh Phi Hổ, 2001)
Như vậy thực tiễn ở Việt Nam cho thấy rằng hộ nông dân có thu nhập cao
có nhiều cơ hội hơn trong việc đắc thủ nguồn tín dụng với lãi suất hợp lý so với
người nông dân có thu nhập thấp trên cả hai mặt: qui mô về tiền vay và thời kỳ
cho vay. Điều quan trọng của tìm kiếm này chính là không chỉ riêng các đònh
chế thuộc khu vực chính thức mà ngay cả các đònh chế thuộc khu vực không
chính thức cũng ưa thích cho vay đối với các hộ có thu nhập cao. Vậy thì, việc
cải thiện khả năng đắc thủ tín dụng với lãi suất hợp lý cho nông dân có qui mô
sản xuất nhỏ và người nghèo ở Việt Nam là một thách thức lớn đối với các nhà
kinh tế và chính sách cũng như đối với các tổ chức quốc tế quan tâm đến tài trợ
ở Việt Nam.

1
Lãi suất hợp lý theo Họ được đònh nghóa như là lãi suất cho vay bình quân hàng năm từ 0,6% đến 2,5%
14
1.1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của DCTDNT thuộc khu
vực chính thức
Hơn 5 thập niên qua có nhiều tranh luận khác nhau về việc giải thích yếu
tố ảnh hưởng. Trong những giai đoạn phát triển khác nhau, các nhà kinh tế học
nhận diện những yếu tố khác.
TS. Đinh Phi Hổ (2001) đã đúc kết 6 yếu tố chính ảnh hưởng đến các đònh
chế thuộc khu vực chính thức : lãi suất, huy động tiết kiệm, cấu trúc tổ chức của
đònh chế, vấn đề thông tin không hoàn hảo, yếu tố ngoại sinh và yếu tố khác.
Sơ đồ 2:
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các DCTDCT (FRFIs)




















Lãi suất
Mckinnom 1973; shaw 1973; Adams
1973; Gonzalez-Vega 1981; Von
Pischke 1978; Seibel 1992; Yaron
1994; Hulme and Mosley 1996
Huy động tiết kiệm
Adarms (1973); Vogel (1984);
Seibel (1992); Yaron (1994)
Cấu trúc tổ chức
Factors: Diversification, Horizontal
and vertical organization, Density,
Coverage of rural households
Desai and Mellor 1993
Thông tin không hoàn hảo
Factors: Groups, Intensive Loan
Collections, Incentives to Repy
Hoff, Stiglitz, Braverman 1993;
Hulme and Mosley 1996
Các yếu tố khác
Procedures and Written Documents,
Flexibility, Approved Speed,
Convernient places in transactions
Lee (1983); Sandaratne and
Senanayake (1989), Seibel (1992)

FRFIs
Hiệu quả
hoạt động
Yếu tố ngoại
sinh
Mundle and
Arkadie (1977),
Greenwald and
Striglitz (1986),
Hoff and striglitz
(1993); Besley
(1994)
có nguồn gốc từ các khu vực chính thức và không chính thức trong năm 1998.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét