Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
đã chiếm 14% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Trong những năm tiếp theo, tín
dụng đầu tư của nhà nước sẽ có xu hướng cải thiện về mặt chất lượng và
phương thức tài trợ nhưng tỷ trọng sẽ không có sự gia tăng đáng kể.
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích
cực trong việc giảm đáng kể việc bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước. Với
cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc
hoàn trả vốn vay. Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư,
sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là
một hình thức quá độ chuyển từ hình thức cấp phát ngân sách sang phương
thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước còn phục vụ
công tác quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô. Thông qua nguồn tín dụng đầu
tư, nhà nước thực hiện việc khuyến khích phát triển kinh tế ngành, vùng,
lĩnh vực theo chiến lược của mình. Đứng ở khía cạnh là công cụ điều tiết vĩ
mô, nguồn vốn này không chỉ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn
thực hiện cả mục tiêu phát triển xã hội. Việc phân bổ và sử dụng nguồn vón
tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển những vùng kinh tế khó khăn,
giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo. Và trên hết, nguồn vốn
tín dụng đầu tư và phát triển của nàh nước có tác dụng rất tích cực trong việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước: Nguồn vốn này
chủ yếu bao gồm từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại tại doanh
nghiệp nhà nước. Theo bộ kế hoạch và đầu tư, thông thường nguồn vốn của
doanh nghiệp nhà nước tự đầu tư chiếm 14-15% tổng số vốn đầu tư toàn xã
hội, chủ yếu là đầu tư theo chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị,
hiện đại hóa day chuyền công nghệ của doanh nghiệp.Được xác định là
thành phần chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm
giữ một khối lượng vốn khá lớn. Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhưng
đánh giá một cách công bằng thì khu vực thì khu vực kinh tế Nhà nước với
sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng một vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế nhiều thành phần.Với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh
nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng
được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia
tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội.
2.1.2. Nguồn vốn của dân cư và tư nhân:
Nhóm 5 – Kinh tế đầu tư 49D 5
Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư,
phần tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Theo ước tính
của bộ kế hoạch và đầu tư, tiết kiệm trong dân cư và các doanh nghiệp dân
doanh chiếm bình quân khoảng 15% GDP, trong đó phần tiết kiệm của dân
cư tham gia gián tiếp vào đầu tư vào khoảng 3,7% GDP, chiếm khoảng 25%
tổng tiết kiệm của dân cư; phần tiết kiệm của dân cư tham gia đầu tư trực
tiếp khoảng 5% GDP và bằng 33% số tiết kiệm được. Trong giai đoạn
2001-2005, vốn đầu tư của dân cư và tư nhân chiếm khoảng 26% tổng vốn
đầu tư toàn xã hội. Trong giai đoạn tiếp theo, nguồn vốn này sẽ tiếp tục gia
tăng cả về quy mô và tỷ trọng.
Thực tế thời gian qua cho thấy đầu tư của khu vực tư nhân và hộ gia
đình có vai trò đặc biết quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, thương mại, dịch vụ và vận tải trên các địa phương. Trong 20
năm thực hiện chính sách đổi mới, nhà nước liên tục hoàn thiện các chính
sách nhằm tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế hộ gia
đình mạnh dạn bỏ vốn đầu tư và phát triển đan xen, hỗn hợp các hình thức
sở hữu trong nền kinh tế. Với Luật Doanh nghiệp thống nhất (2005) và Luật
đầu tư chung (2005) chính thức có hiệu lực từ giữa năm 2006, các tầng lớp
dân cư và khu vực kinh tế tư nhân sẽ tiếp tục được khuyến khích, động viên
đại bộ phận tích lũy cho đầu tư phát triển.
Với khoảng vài trăm ngàn doanh nghiệp dân doanh (doanh nghiệp tư
nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã) đã, đang và
sẽ đi vào hoạt động, phần tích lũy của các doanh nghiệp này cũng sẽ đóng
góp đáng kể vào tổng quy mô vốn của toàn xã hội. Bên cạnh đó, nhiều hộ
gia đình cũng đã trở thành đơn vị kinh tế năng động trong các lĩnh vực
thương mại, dịch vụ, sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Ở mức
độ nhất định, các hộ gia đình cũng là một trong những kênh tập trung và
phân phối vốn quan trọng trong nền kinh tế.
Nguồn vốn trong dân cư còn phụ thuộc vào tu nhập và chi tiêu của các
hộ gia đình. Quy mô của nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào: Trình độ phát
triển của đất nước ( ở những nước có trình độ phát triển thấp thường có quy
mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp); Tập quán tiêu dùng của dân cư; Chính sách động
viên của nhà nước thông qua các chính sách thuế thu nhập và các khoản
đóng góp của xã hội.
2.2. Nguồn vốn nước ngoài:
Nhóm 5 – Kinh tế đầu tư 49D 6
Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm bộ phận tích lũy của cá
nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể
huy động vào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại.
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nuớc ngoài trên phạm vi rộng hơn
đó là dòng lưu chuyển vốn quốc tế (International Capital Flows). Về thực
chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao
nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới. Trong các dòng lưu
chuyển vốn quốc tế, dòng từ các nước phát triển đổ vào các nước đang phát
triển thường được các nước có thu nhập thấp đặc biệt quan tâm. Dòng vốn
này diễn ra với nhiều hình thức. Mỗi hình thức có đặc điểm, mục tiêu và
điều kiện thực hiện riêng, không hoàn toàn giống nhau. Theo tính chất lưu
chuyển vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nước ngòai chính như sau:
- Tài trợ phát triển vốn chính thức (ODF - Official Development
Finance). Nguồn này bao gồm: Viện trợ phát triển chính thức (ODA -
Offical Development Assistance) và các hình thức viện trợ khác. Trong đó,
ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF. Vì vậy, khi đề cập đến
nguồn tài trợ phát triển chính thức chỉ đề cập đến nguồn ODA
- Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
- Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế.
2.2.1. Nguồn vốn ODA:
Nguồn vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và
các chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát
triển. So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất
cứ nguồn vốn ODF nào khác. Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời
hạn cho vay dài, khối lượng cho vay lớn, bao giờ trong ODA cũng có yếu tố
không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%.
Yếu tố không hoàn lại ( thành tố hỗ trợ) của từng khoản vay được xác
định dựa vào các yếu tố lãi suất, thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, số lần
trả nợ trong năm và tỷ suất chiết khấu. Công thức tính hệ số thành tố tài trợ
(GE) như sau:
GE = 100% [1 –
d
ar
][1 -
)(
)1(1)1(1
aGaMd
dd
aMaG
−
+−+
]
Nhóm 5 – Kinh tế đầu tư 49D 7
Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
Trong đó:
r- Tỷ lệ lãi suất hàng năm
a- Số lần trả nợ trong năm
d- Tỷ suất chiết khấu
G- Thời gian ân hạn
M- Thời hạn cho vay
Trong thời gian qua, việc thu hút ODA phục vị cho sự nghiệp công
nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam đã diễn ra trong bối cảnh trong nước
và quốc tế có nhiều thuận lợi. Kể từ năm 1993 đến hết năm 2006, Việt Nam
đã tổ chức được 14 hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ với tổng mức vốn
cam kết hơn 36 tỷ USD. Với quy mô tài trợ khác nhau, hiện nay Việt Nam
có trên 45 đối tác hợp tác phát triển song phương và hơn 350 tổ chức quố tế
và phi chính phủ đang hoạt động.
Trong số vốn ODA cam kết nói trên bao gồm cả viện trợ không hoàn
lại chiếm khoảng 15-20% và phần chủ yếu còn lại là vay ưu đãi. Số vốn
ODA cam kết này được sử dụng trong nhiều năm, tùy thuộc vào các chương
trình và dự án cụ thể. Căn cứ vào chính sách ưu tiên sử dụng ODA, Chính
phủ Việt Nam đã định hướng nguồn vốn ODA ưu tiên cho các lĩnh vực giao
thông vận tải; phát triển hệ thống nguồn điện, mạng lưới chuyển tải và phân
phối điện; phát triển nông nghiệp và nông thôn bao gồm cả thủy lợi, thủy
sản, lâm nghiệp kết hợp xóa đói giảm nghèo; cấp thoát nước và bảo vệ môi
trường; y tế, giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ, tăng cường năng
lực và thể chế…
Để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong thời kỳ
2006-2010, Chính phủ Việt Nam tích cực chủ trương huy đọng mọi nguồn
vốn trong đó nguồn vốn ODA vẫn tiếp tục đóng vị trí quan trọng. Tổng
nguồn vốn ODA thực hiện dự kiến khoảng 11-12 tỷ USD trong 5 năm
2006-2010 chiếm khoảng 80% tổng vốn ODA cam kết.
Khi xem xét trên góc độ nguồn vốn đầu tư, ODA là một trong những
nguồn vốn nước ngoài. Tuy nhiên, trong quản lý và sử dụng nguồn vốn này,
một phần vốn ODA có thể đưa vào ngân sách đáp ứng mục tiêu chi cho đầu
tư phát triển của nhà nước, một phần có thể đưa vào các chương trình tín
dụng ưu đãi đầu tư của nhà nước và một phần có thể vận hành theo các dự
án độc lập. Theo ước tính phần chuyển vào ngân sách nhà nước chiếm
khoảng 15% tổng vốn đầu tư của ngân sách nhà nước.
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường đi
kèm các điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án,
thủ tục chuyển giao vốn và thị trường…). Vì vậy, để nhận được loại tài trợ
Nhóm 5 – Kinh tế đầu tư 49D 8
Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài
chính tổng thể. Nếu không việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng
nợ nần lâu dài cho nền kinh tế. Tức là ngoài những yếu tố thuộc về nội dung
dự án tài trợ, còn cần có phương pháp thoả thuận để vừa có thể nhận vốn,
vừa bảo đảm được những mục tiêu có tính nguyên tắc.
2.2.2. Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế:
Đây là nguồn vốn mà các nước nhận vốn vay từ các ngân hàng thương
mại quốc tế với một mức lãi suất nhất định. Sau một thời gian, các nước này
phải hoàn trả cả vốn và lãi, các ngân hàng thương mại quốc tế sẽ thu được
lợi nhuận từ lãi suất của khoản vay.
Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với
nguồn vốn ODA. Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là không có gắn
với các ràng buộc về chính trị, xã hội. Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với
nguồn vốn này thường là tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt,
mức lãi suất cao là những trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo.
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận
trọng trong kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro ở nước đi vay, của thị trường
thế giới và xu hướng lãi suất quốc tế), nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng
thương mại thường được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và
thường là ngắn hạn. Một bộ phận của nguồn vốn này có thể được dùng để
đầu tư phát triển. Tỷ trọng của nó có thể gia tăng nếu triển vọng tăng trưởng
của nền kinh tế là lâu dài, đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu của nước đi vay
là sáng sủa. Đối với Việt Nam, việc tiếp cận đối với nguồn vốn này vẫn còn
khá hạn chế.
2.2.3. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):
Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển không chỉ đối với
các nước nghèo mà kể cả các nước công nghiệp phát triển.
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác nguồn
vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ
cho nước tiếp nhận. Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận
được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả. Đầu
tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước
nhận vốn nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những
ngành đòi hỏi cao về trình độ kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn. Vì thế
Nhóm 5 – Kinh tế đầu tư 49D 9
Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu
tư .
Không những là nguồn vốn bổ sung quan trọng, đầu tư trực tiếp nước
ngoài còn đóng góp vào việc bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai và cải thiện
cái cân thanh toán quốc tế. Ngoài ra đóng góp cho ngân sách nhà nước của
khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng rất đáng kể ( hàng năm khu
vực kinh tế này đã nộp ngân sách nhà nước hàng tỷ USD).
2.2.4. Thị trường vốn quốc tế:
Là nguồn vốn huy động từ thị trường chứng khoán trên thế giới, bằng
việc bán trái phiếu, cổ phiếu của chính phủ, các công ty trong nước ra nước
ngoài.
Nguồn vốn này có thể huy động vốn với số lượng lớn, trong thời gian dài
để đáp ứng nhu cầu về vốn cho nến kinh tế mà không bị ràng buộc bởi các
điều kiện về tín dụng quan hệ cho vay để gây sức ép với nước huy động vốn
trong các quan hệ khác. Bên cạnh đó còn tạo điều kiện cho nước tiếp nhận
vốn tiếp cận với thị trường vốn quốc tế .
Với xu hướng toàn cầu hoá, mối liên kết ngày càng tăng của các thị
trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng vế
các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu chuyển trên
phạm vi toàn cầu. Ngay tại nhiều nước đang phát triển, dòng vốn đầu tư qua
thị trường chứng khoán cũng gia tăng mạnh mẽ. Trong những năm gần đây
dòng vốn này đã và đang có xu hướng tiếp tục gia tăng.
3. Bản chất của vốn đầu tư:
Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm
hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái
sản xuất xã hội. Điều này được cả kinh tế học cổ điển, kinh tế chính trị học
Mác - Lênin và kinh tế học hiện đại chứng minh.
Trong tác phẩm “Của cải của dân tộc” (1776), Adam Smith, một đại
diện điển hình của trường phái kinh tế học cổ điển đã cho rằng: “Tiết kiệm
là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. Lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹ
cho quá trình tiết kiệm. Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng
không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”.
Nhóm 5 – Kinh tế đầu tư 49D 10
Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan
hệ giữa các khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề trực tiếp liên
quan đến tích luỹ, C. Mác đã chứng minh rằng: Trong một nền kinh tế hai
khu vực, khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệu
tiêu dùng. Cơ cấu tổng giá trị của từng khu vực đều bao gồm (c + v + m)
trong đó c là phần tiêu hao vật chất, (v + m) là phần giá trị mới tạo ra. Khi
đó, điều kiện để đảm bảo tái sản xuất mở rộng không ngừng thì nền sản xuất
xã hội phải đảm bảo (v + m) của khu vực I lớn hơn tiêu hao vật chất (c) của
khu vực II. Tức là:
(v + m)I > cII
Hay nói cách khác:
(c + v + m)I > cII + cI
Điều này có nghĩa rằng, tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I
không chỉ bồi hoàn tiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh tế (của cả hai khu
vực) mà còn phải dư thừa để đầu tư làm tăng quy mô tư liệu sản xuất trong
quá trình sản xuất tiếp theo.
Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo:
(c+v+m)II < (v+m)I + (v+m)2
Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị
sản phẩm sản xuất ra của khu vực II. Chỉ khi điều kiện này được thoả mãn,
nền kinh tế mới có thể dành một phần để tái sản xuất mở rộng. Từ đó quy
mô vốn đầu tư cũng sẽ gia tăng.
Như vậy, để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng quy
mô đầu tư, một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu vực I,
đồng thời phải sử dụng tiết kiệm tư liệu sản xuất ở cả hai khu vực. Mặt khác
phải tăng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II, thực hành tiết kiệm
tư liệu tiêu dùng ở cả hai khu vực.
Với phân tích như trên, chúng ta thấy rằng theo quan điểm của C.Mác,
con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát
triển sản xuất và thực hành tiết kiệm cả ở trong sản xuất và tiêu dùng. Hay
nói cách khác, nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được
đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và tích luỹ của nền kinh tế.
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại tiếp tục được các nhà
kinh tế học hiện đại chứng minh. Trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng
quan về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của mình, Jonh Maynard Keynes đã
Nhóm 5 – Kinh tế đầu tư 49D 11
Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
chứng minh được rằng: Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không được
chuyển vào tiêu dùng. Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là
phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng.
Tức là:
Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư
Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng
Như vậy:
Đầu tư = Tiết kiệm
Hay: (I) = (S)
Theo Keynes, sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư xuất phát từ tính
song phương của các giao dịch giữa một bên là nhà sản xuất và bên kia là
người tiêu dùng. Thu nhập chính là mức chênh lệch giữa doanh thu từ bán
hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ và tổng chi phí. Nhưng toàn bộ sản phẩm
sản xuất ra phải được bán cho người tiêu dùng hoặc cho các nhà sản xuất
khác. Mặt khác đầu tư hiện hành chính bằng phần tăng thêm năng lực sản
xuất mới trong kỳ. Vì vậy, xét về tổng thể phần dôi ra của thu nhập so với
tiêu dùng mà người ta gọi là tiết kiệm không thể khác vơí phần gia tăng năng
lực sản xuất mà người ta gọi là đầu tư.
Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế
đóng. Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu
vực tư nhân và tiết kiệm của chính phủ. Điểm cần lưu ý là tiết kiệm và đầu
tư xem xét trên góc độ toàn bộ nền kinh tế không nhất thiết được tiến hành
bởi cùng một cá nhân hay doanh nghiệp nào. Có thể có cá nhân, doanh
nghiệp tại một thời điểm nào đó có tích luỹ nhưng không trực tiếp tham gia
đầu tư. Trong khi đó, có một số cá nhân, doanh nghiệp lại thực hiện đầu tư
khi chưa hoặc tích luỹ chưa đầy đủ. Khi đó thị trường vốn sẽ tham gia giải
quyết vấn đề bằng việc điều tiết nguồn vốn từ nguồn dư thừa hoặc tạm thời
dư thừa sang cho người có nhu cầu sử dụng. Ví dụ, nhà đầu tư có thể phát
hành cổ phiếu, trái phiếu (trên cơ sở một số điều kiện nhất định, theo quy
trình nhất định) để huy động vốn thực hiện một dự án nào đó từ các doanh
nghiệp, hộ gia đình hay các cá nhân - người dư thừa hoặc tạm thời dư thừa
vốn.
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế
không phải bao giờ cũng được thiết lập. Phần tích luỹ của nền kinh tế có thể
lớn hơn nhu cầu đầu tư tại nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sang
cho nước khác để thực hiện đầu tư. Ngược lại, vốn tích luỹ của nền kinh tế
có thể nhỏ hơn nhu cầu đầu tư, khi đó nền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ
Nhóm 5 – Kinh tế đầu tư 49D 12
Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
nước ngoài. Trong trường hợp này, mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư
được thể hiện trên tài khoản vãng lai.
CA = S – I
Trong đó: CA là tài khoản vãng lai (current account)
Như vậy, trong nền kinh tế mở nếu như nhu cầu đầu tư lớn hơn tích
luỹ nội bộ nền kinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy động
vốn đầu tư từ nước ngoài. Khi đó đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở
thành một trong những nguồn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế. Nếu
tích luỹ của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu tư trong nước trong điều kiện
thặng dư tài khoản vãng lai thì quốc gia đó có thể đầu tư vốn ra nước ngoài
hoặc cho nước ngoài vay vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền
kinh tế.
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRONG
NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI
2. Mối quan hệ giữa vốn đầu tư trong nước và nước ngoài.
Sau khi tiến hành cải cách nền kinh tế năm 1986 nền kinh tế
Việt Nam dần mở cửa để cho nền kinh tế phát triển theo quy luật vốn có của
nó-nền kinh tế thị trường cũng là lúc các nhà đầu tư nước ngoài thăm dò và
bắt đầu bỏ vốn để đầu tư vào Việt Nam. Kể từ đó đến nay nguồn vốn từ
nước ngoài đổ vào ngày càng nhiều mặc dù có giai đoạn giảm sút. Việt Nam
đã huy động một khối lượng vốn rất lớn từ bên ngoài để phát triển kinh tế-xã
hối có thời kì hoạt động của nguồn vốn bên ngoài còn đóng góp nhiều hơn
so với nguồn vốn trong nước vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Nhưng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế một quốc gia, nguồn vốn
trong nước và nguồn vốn nước ngoài có mối quan hệ hữu cơ, bổ sung cho
nhau trong đó nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định và nguồn vốn
đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng không thể thiếu
1. Nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định:
1.1 Vốn trong nước với vấn đề phát triển kinh tế
Vốn trong nước luôn được coi là nội lực, bệ phóng cho phát triển nền
kinh tế
Nhóm 5 – Kinh tế đầu tư 49D 13
Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
Vốn trong nước với là nguồn đáp ứng nhu cầu của đầu tư cho phát
triển kinh tế. Bên cạnh đầu tư nước ngoài, vốn trong nước dành cho tái đầu
tư, mở rộng quy mô phát triển cũng như thành lập thêm những mảnh ghép
quan trọng của nền kinh tế luôn được đặc biệt quan tâm và chiếm tỷ lệ cao.
Nguồn vốn trong nước là nguồn đóng góp lớn vào GDP toàn xã hội,
góp phần thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế. Với việc vốn trong nước
được đưa vào tái đầu tư, nó góp phần tăng GDP theo hệ số nhân tiền, với
việc vốn trong nước dành cho phát triển kinh tế ngày càng cao, đồng nghĩa
với việc đóng góp vào GDP của nguồn vốn này ngày càng lớn.
Nguồn vốn đầu tư trong nước đóng vai trò định hướng cho việc thay
đổi cơ cấu kinh tế, cân bằng thị trường hàng hóa, giúp cho nền kinh tế quốc
gia tăng trưởng, phát triển toàn diện, đồng đều. Các doanh nghiệp nhà nước
là hạt nhân trong vai trò này. Khi các doanh nghiệp nhà nước được coi là
xương sống của nền kinh tế, việc thành lập, đưa vào hoạt động cũng như
định hướng phát triển cho các doanh nghiệp nhà nước đóng góp rất tích cực
cho vai trò này.
Nguồn vốn đầu tư trong nước có vai trò đảm bảo sự phát triển toàn
diện, không lệch lạc giữa các vùng miền của nền kinh tế, góp phần giúp nền
kinh tế tăng trưởng, phát triển mộtc cách bền vững. Việc nhà nước dành vốn
để đầu tư phát triển cho các khu vực còn khó khăn, hay cân đối nguồn vốn
giữa các vùng thể hiện rất rõ vai trò này.
Nguồn vốn trong nước góp phần kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế,
đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước, tạo đà cho
tăng trưởng và phát triển kinh tế. Việc huy động vốn trong xã hội, mà chủ
yếu là từ khu vực tư nhân và dân cư an toàn hơn nhiều so với việc in tiền
hay vay từ nước ngoài bởi nó hạn chế được lạm phát hay nguy cơ nợ nước
ngoài, cũng theo hướng này, tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
được đẩy nhanh, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế
Nguồn vốn trong nước xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đạt một trình
độ nhất định tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng
như tăng tính hiệu quả, nhanh chóng của việc sử dụng vốn đầu tư nước
ngoài, tạo nền tảng vững chãi cho sự tăng trưởng của nền kinh tế. Do việc
Nhóm 5 – Kinh tế đầu tư 49D 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét