Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

MÔ HÌNH TRUNG TÂM HỖ TRỢ VÀ XÚC TIẾN TMĐT CỦA THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC

Đề tài KC.01-05-03



Hội Tin học Viễn thông Hà Nội 5
NHÓM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI


Cơ quan chủ quản đề tài : Trung tâm Thông tin Thương mại - Bộ Thương mại

Cơ quan chủ trì đề tài nhánh : Hội Tin học Viễn thông Hà Nội

Các cơ quan phối hợp chính :

• Trung tâm tin học, Bộ KHCNMT
• Trung tâm thông tin thương mại, Bộ thương mại
• Công ty điện toán và truyền số liệu VDC
• Công ty VNET
• Công ty VASC
• Một số doanh nghiệp ở Hà Nội và các tỉ
nh Hải Dương, Hải Phòng, Nam
Định v.v.

Những người thực hiện chính :

• Tiến sĩ Mai Anh - Chủ tịch Hội Tin học Viễn thông Hà Nội
• Thạc sĩ Lê Hồng Hà - Tổng thư ký Hội Tin học Viễn thông Hà Nội
• Kỹ sư Dương Anh Đức - Tổng Giám đốc Công ty VNET
• Kỹ sư Ngô Tố Nhiên - Hội Tin học Viễn thông Hà Nội.
• Kỹ sư Nguyễn Vinh Th
ọ - Hội Tin học Viễn thông Hà Nội
• Kỹ sư Ngô Quốc Thái - Hội Tin học Viễn thông Hà Nội

Đề tài KC.01-05-03



Hội Tin học Viễn thông Hà Nội 6
PHẦN I
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI


I.1. Một số khái niệm cơ bản trong TMĐT

Quan điểm của nhóm thực hiện đề tài về một số khái niệm cơ bản về TMĐT.
Các khái niệm này sẽ được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu của đề tài.

a. Thư điện tử :

Các đối tượng tham gia TMĐT (người tiêu dùng, doanh nghiệp, các cơ quan
Chính phủ) sử dụng hòm thư điện t
ử để gửi thư cho nhau một cách “trực tuyến”
thông qua hệ thống mạng, thư điện tử còn được phổ biến dưới cái tên e-mail. Thông
qua e-mail người ta có thể gửi và nhận được thông tin ở dạng «phi cấu trúc»
(unstructured form), đây là dạng thông tin không phải tuân thủ một cấu trúc đã thoả
thuận trước, đây chính là sự khác biệt giữa e-mail và FEDI.

b. Thanh toán điện tử

Thanh toán điện tử (electronic payment) là việ
c thanh toán tiền thông qua
thông điệp điện tử (electronic message). Sự hình thành và phát triển của TMĐT đã
hướng thanh toán điện tử mở rộng sang các lĩnh vực mới là :

• Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data Interchange - FEDI)
chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau
bằng điện tử.

• Tiền mặt Internet (Internet Cash) là tiền mặt đượ
c mua từ một nơi phát hành
(ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng) sau đó được chuyển đổi tự do sang các
đồng tiền khác thông qua Internet, tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số
hoá, vì thế tiền mặt này còn có tên gọi là “tiền mặt số hoá” (Digital Cash), công
nghệ đặc thù chuyên phục vụ mục đích này có tên gọi là “mã hoá khoa công
khai/bí mật” (Public/Private key Crypto-graphy). Thanh toán bằng tiền mặt
Internet đang trên đà phát triển nhanh, vì có hàng loạt ư
u điểm nổi bật.

- Có thể dùng cho thanh toán những món hàng giá trị nhỏ ;
- Có thể tiến hành giữa hai con người hoặc hai công ty bất kỳ mà không đòi
hỏi phải có một quy chế được thoả thuận trước các thanh toán là vô hình ;
- Tiền mặt nhận được đảm bảo là tiền thật, tránh được nguy cơ tiền giả.

• Ví tiền điện tử (electronic purse hoặc electronic wallet) còn gọi là “ví
điện tử”,
nói đơn giản hơn là nơi để tiền mặt Internet mà chủ yếu là thẻ thông minh (Smart
card, còn có tên gọi là thẻ giữ tiền, stored value card), tiền được trả cho bất cứ ai
Đề tài KC.01-05-03



Hội Tin học Viễn thông Hà Nội 7
đọc được thẻ đó ; kỹ thuật của túi tiền điện tử về cơ bản là kỹ thuật “mã hoá công
khai/bí mật” tương tự như kỹ thuật áp dụng cho “tiền mặt Internet”.

• Thẻ thông minh (smart card) nhìn bề ngoài thương tự như thẻ tín dụng, nhưng ở
mặt sau của thẻ, thay vì cho dải từ, lại là một chip máy tính điện tử có một bộ nhớ
nh
ỏ để lưu trữ tiền số hoá, tiền ấy chỉ được “chi trả” khi người sử dụng và thông
tin (ví dụ xác nhận thanh toán hoá đơn) được xác nhận là “đúng”

• Giao dịch ngân hàng số hoá (digital banking), và giao dịch chứng khoán số hoá
(digital securities trading). Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một đại
hệ thống, gồm nhiều tiểu hệ thống :

- Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng (qua điện thoạ
i, tại các điểm bán
lẻ, các kiốt, giao dịch cá nhân tại nhà, giao dịch tại trụ sở khách hàng, giao
dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng )

- Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu thị )

- Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác.

c. Trao đổi dữ liệu điện tử

Trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange - EDI) là việc trao đổi
các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (Structured form) từ máy tính điện tử này sang
máy tính điện tử khác trong nội bộ công ty hay giữa các công ty hay tổ chức đã thoả
thuận buôn bán với nhau theo cách này một cách tự động mà không cần có sự can
thiệp của con người (gọi là dữ liệu có cấu trúc, vì các bên đối tác phải thoả thuận từ
trước khuôn dạng cấu trúc của các thông tin). Uỷ ban Liên hiệp Quốc về luật thương
mại quốc tế (UNCITRAL) đã được ra định nghĩa pháp lý sau đây : “trao đổi dữ liệu
điện tử” (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính
điện tử khác bằng phương tiện điện tử mà sử dụng một tiêu chuẩn đã được thoả
thuận về cấu trúc thông tin.

EDI ngày càng được sử dụng rộng rãi trên bình diện toàn cầu, và chủ yếu
được thự
c hiện thông qua các mạng nội bộ và liên mạng nội bộ.

TMĐT qua biên giới (Cross border electronic commerce) về bản chất là trao
đổi dữ liệu điện tử (EDI) giữa các doanh nghiệp được thực hiện giữa các đối tác ở
các quốc gia khác nhau, với các nội dung : giao dịch kết nối, đặt hàng, giao dịch gửi
hàng (shipping), thanh toán.

d. Giao gửi số hoá các dung liệu

Dung liệu (content) là các hàng hoá mà cái người cần đến là nội dung của nó
(hay nó cách khác chính nội dung là hàng hoá) mà không phải là b
ản thân vật mang
Đề tài KC.01-05-03



Hội Tin học Viễn thông Hà Nội 8
nội dung, ví dụ như :tin tức, sách báo, nhạc, phim, các chương trình phát thanh,
truyền hình, các chương trình phần mềm. Các ý kiến tư vấn, vé máy bay, vé xem
phim xem hát, hợp đồng bảo hiểm Nay cũng được đưa vào danh mục các dung
liệu. Đồng thời, trên góc độ kinh tế-thương mại, các loại thông tin kinh tế và kinh
doanh trên Internet đều có ở mức phong phú, do đó một nhiệm vụ quan trọng của
công tác thông tin ngay nay là khai thác trực tiếp được lượng thông tin trên Web và
phân tích tổng hợp.

e. Bán lẻ hàng hoá h
ữu hình

Để tận dụng tính năng đa phương tiện (multimedia) của môi trường Web và
Java, người bán xây dựng trên mạng các “cửa hàng ảo” (vitual shop) để thực hiện
việc bán hàng. Người sử dụng Internet/Web tìm trang Web của cửa hàng phải dùng
tới các phương tiện gửi hàng truyền thống để đưa hàng đến tay khách, điều quan
trọng nhất là: khách có thể mua hàng tại nhà (home shopping), mà không cần phải
đích thân đi tới cửa hàng.

TMĐT
đang phát triển rất nhanh, theo các dự báo TMĐT hiện nay và trong
một vài năm tới chủ yếu được ứng dụng trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng, tiếp
đó đến du lịch kinh doanh bán lẻ, và quảng cảo TMĐT trong lĩnh vực buôn bán hàng
hữu hình ngày càng phát triển.


I.2. Tình hình xu hướng sử dụng, truy cập và các ứng dụng phục vụ kinh
doanh trên Internet

Với tình hình kinh tế như trên, hiện nay các hoạt động dịch vụ internet cũng
đang tăng nhanh,
đặc biệt là ở khu vực các nước đang phát triển. Số lượng người
dùng Internet chỉ là một khía cạnh nhỏ, không phản ánh rõ đầy đủ bức tranh về công
nghệ thông tin trên toàn thế giới nhưng nó lại là yếu tố cơ bản để nhận định về việc
phát triển kinh doanh TMĐT dựa trên dịch vụ Internet. Số lượng người truy cập
Internet sẽ ảnh hưởng lớn đến các hoạt độ
ng kinh doanh e-business, nó là con số
minh chứng cho việc phát triển công nghệ thông tin nói chung và việc phát triển kinh
doanh thương mại điện tử nói riêng. Số lượng người truy cập Internet trên toàn thế
giới trong năm 2000 đến 2002 được thể hiện ở bảng dưới đây :

Bảng 5 : Số lượng người dùng Internet theo khu vực, 2000-2002

Đơn vị tính : 1000 người

2002 2001 2000
% tỷ lệ
2001-2002
% tỷ lệ
2000-2001
Africa
7 943 6 510 4 559 22.0 42.8
Asia
201 079 150 472 109 257 33.6 37.7
Europe
166 387 143 915 110 824 15.6 29.9
Latin America & Caribbean
35 459 26 163 17 673 35.5 48.0
Đề tài KC.01-05-03



Hội Tin học Viễn thông Hà Nội 9
North America
170 200 156 823 136 971 8.5 14.5
Oceania
10 500 9 141 8 248 14.9 10.8
Developing countries
189 882 135 717 93 161 39.9 45.7
Developed countries
401 686 357 307 294 371 12.4 21.4
World 591 567 493 024 387 531 20.0 27.2
Nguồn : ITU (2003a) và UNCTAD.

Nhìn vào tỷ lệ số người sử dụng Internet năm 2002/2000 ta nhận thấy các
nước đang phát triển đã có một bước nhảy vọt đáng kể trong quang thời gian này. Nó
đánh dấu sự phát triển về hạ tầng công nghệ thông tin và nhận thức của người dân
sống tại đây đã có sự thay đổi lớn. Đồ thị dưới đây sẽ phác hoạ rõ hơn số lượng
ng
ười dùng theo khu vực của giai đoạn 2000 - 2002.

Số lượng người dùng Internet giai đoạn 2000 - 2002 (1000 người)



Nguồn : UNCTAD elaboration of ITU (2003a). Nguồn : UNCTAD elaboration of ITU (2003a)


Theo báo cáo của UNCTAD năm 2003, số lượng người dùng Internet đã được
điều tra chi tiết từng nước trên thế giới. Các con số dưới đây được UNCTAD công
nhận và sẽ dùng làm tài liệu cơ bản để đánh giá tình hình phát triển Internet của các
nước trên thế giới.

Bảng 4 : Số lượng người sử dụng Internet (1000 người)
tính theo mỗi nước, 2000-2002


2002 2001 2000
% Tỷ lệ
2001-2002
% Tỷ lệ
2000-2001
Africa 7 943 6 510 4 559 22.01 42.81
Algeria 500 200 150 150.00 33.33
Egypt* 600 600 450 33.33
Đề tài KC.01-05-03



Hội Tin học Viễn thông Hà Nội 10

2002 2001 2000
% Tỷ lệ
2001-2002
% Tỷ lệ
2000-2001
Kenya* 500 500 200 150.00
Morocco 500 400 200 25.00 100.00
Nigeria 200 115 80 73.91 43.75
South Africa 3 100 2 890 2 400 7.27 20.42
Togo 200 150 100 33.33 50.00
Tunisia 506 400 250 26.38 60.00
Zimbabwe 500 100 50 400.00 100.00
Others 1 337 1 155 679 15.76 70.21
Latin America & Caribbean 35 459 26 163 17 673 35.53 48.04
Argentina 4 100 3 650 2 600 12.33 40.38
Brazil 14 300 8 000 5 000 78.75 60.00
Chile* 3 102 3 102 2 537 22.26
Colombia 1 982 1 154 878 71.75 31.44
Mexico 4 663 3 636 2 712 28.27 34.04
Peru* 2 000 2 000 800 150.00
Venezuela 1 274 1 153 820 10.58 40.55
Khác 4 037 3 469 2 325 16.37 49.18
North America 170 200 156 823 136 971 8.53 14.49
United States 155 000 142 823 124 000 8.53 15.18
Canada 15 200 14 000 12 971 8.57 7.93
Asia 201 079 150 472 109 257 33.63 37.72
China 59 100 33 700 22 500 75.37 49.78
Hong Kong (China) 2 919 2 601 1 855 12.21 40.22
India 16 580 7 000 5 500 136.86 27.27
Indonesia 4 000 4 000 2 000 100.00
Israel 2 000 1 800 1 270 11.11 41.73
Japan 57 200 48 900 38 000 16.97 28.68
Korea, Rep.of 26 270 24 380 19 040 7.75 28.05
Malaysia 6 500 6 500 4 000 62.50
Philippines 2 000 2 000 1 540 29.87
Singapore 2 247 1 700 1 300 32.18 30.77
Taiwan P. of China 8 590 7 820 6 260 9.85 24.92
Thailand 4 800 3 536 2 300 35.75 53.74
Others 8 873 6 534 3 692 35.80 77.00
Europe 166 387 143 915 11 824 15.61 29.86
France 18 761 15 653 8 460 19.86 85.02
Germany 35 000 30 800 24 800 13.64 24.19
Đề tài KC.01-05-03



Hội Tin học Viễn thông Hà Nội 11

2002 2001 2000
% Tỷ lệ
2001-2002
% Tỷ lệ
2000-2001
Italy 17 000 15 600 13 200 8.97 18.18
Netherlands 8 590 7 900 7 000 8.73 12.86
Poland 3 800 3 800 2 800 35.71
Russia 6 000 4 300 2 900 39.53 48.28
Spain 7 856 7 388 5 486 6.33 34.67
Sweden 5 125 4 600 4 048 11.41 13.64
Turkey 4 900 4 000 2 000 22.50 100.00
United Kingdom 24 000 19 800 15 800 21.21
25.32
Others 35 355 30 074 24 330 17.56
23.61
Oceania 10 500 9 141 8 248 14.87
10.83

Australia 8 400 7 200 6 600 16.67
9.09
New Zealand 1 908 1 762 1 515 8.29
16.30
Others 192 179 133 7.43
34.97
Developing countries 189 882 135 717 93 161 39.91
45.68
Developed countries 401 686 357 307 294 371 12.42
21.38
World 591 567 493 024 387 531 19.99
27.22
Nguồn : ITU (2003a) và UNCTAD.

Qua bảng trên ta thấy số lượng người dùng Internet tiếp tục tăng vào năm
2002 là 591 triệu người vào thời điểm cuối năm. Tỷ lệ tăng từ 20% - 27.3% trên
toàn cầu trừ khu vực Oceania, nơi tỷ lệ tăng trưởng chỉ đạt từ 10.8% đến 14.9%. Các
nước đang phát triển tiếp tục có kinh nghiệm phát triển nhanh số lượng người dùng
Internet, một phần bởi vì tính chất đặc biệ
t về con người (số lượng người trẻ tuổi,
dân số phát triển nhanh). Vào cuối năm 2002, các nước đang phát triển chiếm 32%
tổng số người dùng Internet trên toàn cầu, trong khi năm 2001 mới chỉ đạt 28%. Nếu
xu hướng này tiếp tục phát triển, số lượng người dùng Internet ở các nước đang phát
triển có khả năng chiếm 50% trong 5 năm tới.

Theo báo cáo của ITU, số lượng Internet host giảm dần vào năm 2002, cũng
theo thông tin từ Internet Domain Survey, hãng Internet Software Consortium, tổng
số host trên thế giới được tạo mới có tỷ lệ tăng là 16.48% trong khoảng thời gian từ
tháng 1/2002 đến tháng 1/2003 (Internet Software Consortium 2003). Trong khi đó
từ 1/2001 đến tháng 1/2002, tốc độ tăng số host Internet đạt 34%, nhưng nhìn chung
Internet vẫn tiếp tục phát triển mạnh.

Số lượng Internet host có ý nghĩa lớn trong việc đánh giá sự phát triển về
công ngh
ệ thông tin cũng như các dịch vụ trên thế giới nói chung. Đồ thị dưới đây
sẽ đưa ra các thông số về Internet hosts trên toàn cầu. Trong đó Bắc Mỹ và Châu Âu
Đề tài KC.01-05-03



Hội Tin học Viễn thông Hà Nội 12
chiếm 89% số lượng host Internet trên toàn thế giới.

Internet hosts chia theo khu vực, 2002



Bảng 6 : Số lượng Internet hosts theo khu vực 2000–2002

Đơn vị tính : 10.000 người


Nguồn: ITU (2003) và UNCTAD

Netscraft Web Server Survey bổ sung thêm thông tin cung cấp bới ITU với
thông tin chi tiết về sự phát triển của World Wide Web servers trong năm 2002.
Tháng 5/2003, toàn cầu có 40.936.076 sites, tăng 15.17% tính từ tháng 12/2002,
trong khi đó con số tỷ lệ số lượng Website tăng của năm 2002/2001 là 3.12%
(Netcraft.com 2003). Ngoài ra theo thông tin chi tiết của Netcraft (bảng 1.7) thì số
lượng địa chỉ Internet Protocol sử dụng một số ngôn ngữ Script cũng tăng 52.1%,
con số này thể hiện trình độ hoạt động và người dùng ngày càng có nhi
ều kinh
Đề tài KC.01-05-03



Hội Tin học Viễn thông Hà Nội 13
nghiệm. Tương tự, cũng có 14% số lượng site đã sử dụng công nghệ bảo mật secure
sockets layer (SSL).

Bảng 7 : Tình hình World Wide Web năm 2002


Nguồn: Netcraft (2003).

Bảng 8 : Băng thông đường truyền Internet quốc tế (Mbps),
tính theo khu vực, 2000–2002a


Đây là dữ liệu mô tả tốc độ đường truyền Internet (không phải lưu lượng) kết nối trực tiếp đến đường quốc tế. Nguồn :
TeleGeography (2002).

Đường truyền Internet quốc tế năm sau luôn tăng gấp đôi so với năm trước,
năm 2001 tăng 122%, năm 2002 phát triển chậm đạt đến 40%, (Tele-Geography
2002). Đặc biệt tại Châu Mỹ Latinh (nơi mà tốc độ đuờng truyền tăng 471% trong
năm 2002, trong khi đó năm 2001 chỉ tăng có 65%), tiếp đến là Châu Âu (tốc độ tăng
từ 191% năm 2001, giảm xuống 35% năm 2002), Bắc Mỹ (tốc độ
đường truyền
143% năm 2001, giảm xuống còn 40% năm 2002), Asia (từ 122% đến 55%) và Châu
Phi, tốc độ đường truyền tăng đến 90% năm 2001 sau đó lại giảm xuống còn 72%
năm 2002.

I.3. Tình hình phát triển TMĐT nói chung trên thế giới

Thương mại điện tử (TMĐT), một yếu tố hợp thành của nền kinh tế số hóa là
hình thái hoạt động thương mại bằng các phương pháp điện tử
. Theo quan điểm
trong luật mẫu về thương mại điện tử thì "Thương mại điện tử là việc sử dụng các
công nghệ mạng Internet trong các hoạt động giao dịch thương mại". Với quan điểm
Đề tài KC.01-05-03



Hội Tin học Viễn thông Hà Nội 14
này ta có thể hiểu TMĐT bao gồm một chu trình hoàn chỉnh của một phiên giao
dịch thương mại như : chào hàng, chọn hàng, ký kết hợp đồng, giao hàng, thanh
toán, bảo hành và các dịch vụ sau bán. TMĐT mang lại nhưng lợi ích tiềm tàng, nhờ
các phương tiện của TMĐT, các doanh nghiệp có được thông tin nhanh chóng,
phong phú về thị trường; các chi phí văn phòng, bán hàng, giao dịch giảm đi nhiều
lần, rút ngắn chu thời sản xuất, nhanh chóng tạo ra nhiều sản phẩ
m mới.

Ngày nay cùng với sự phát triển của TMĐT và đặc tính toàn cầu không biên
giới của nó mà các nước, các khu vực và các tổ chức quốc tế đang có rất nhiều nỗ
lực nhằm tạo ra một môi trường thống nhất cho TMĐT phát triển. Sự hợp tác toàn
cầu, sự thống nhất về mặt chính sách là những vấn đề được đề cao trong mục tiêu
phát triển TMĐT. Chính vì vậy việc t
ạo ra một môi trường áp dụng chung một định
hướng quốc tế các quy chế là hết sức quan trọng.

Với vai trò là một tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh, Liên hiệp quốc đã giúp
TMĐT quốc tế hình thành nên một bộ khung pháp lý nhằm tạo thuận lợi cho sự phát
triển thương mại điện tử, giúp các nước định hướng cho những quy định về TMĐT
và giúp các doanh nghiệ
p vượt qua được những trở ngại pháp luật của các nước.
UNCITRAL Model Law on Electronic Commerce (1996) - Luật mẫu UNCITRAL
về thương mại điện tử - gọi tắt là luật mẫu được Ủy ban pháp luật thương mại quốc
tế của Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 12 tháng 6 năm 1996. Đại hội đồng liên hiệp
quốc đã ra nghị quyết khuyến nghị các Chính phủ phổ biến rộng rãi và áp dụng đạo
luậ
t mẫu này. Luật mẫu tạo thuận lợi cho việc sử dụng TMĐT, tạo sự bình đẳng cho
những người sử dụng tài liệu trên cơ sở giấy tờ và những người sử dụng thông tin
trên cơ sở máy tính. Cấu trúc luật mẫu được chia làm hai phần : phần một liên quan
đến những vấn đề chung về thương mại điện tử, phần còn lại liên quan đến vấn
đề
TMĐT ở một số lĩnh vực xác định.

Năm 1998, APEC thông qua "Chương trình hành động về TMĐT của APEC".
Tiểu ban điều phối về TMĐT của ASEAN cũng đã hoàn tất bản "Các nguyên tắc chỉ
đạo về TMĐT của ASEAN". Vấn đề này được đề cập trong hầu hết các hội nghị và
hội thảo quốc tế ngày nay.

Internet đã trở thành một y
ếu tố không thể thiếu được trong một xã hội văn
minh, lợi ích của Internet ngày càng được khẳng định qua các con số thông kê về
ICT và E-Commerce. Trong báo cáo về E-Commerce và sự phát triển năm 2003 (E-
Commerce and Development report 2003) của UNCTAD đã phác hoạ một bức tranh
cơ bản về tình hình ICT và E-Commerce toàn cầu năm 2003. Trong báo cáo nhấn
mạnh về lợi ích, tiềm năng hứa hẹn của nền kinh tế Internet ngày càng cao. Trong
lĩnh vực máy tính lớn sử dụng cho e-business: năm 2001 được nhìn nhậ
n sự phát
triển ở 6,2%, thì năm 2002 là 11% và trong năm 2003 đã tiếp tục tăng 4%, dựa vào
các con số trên chúng ta có thể nhận thấy nhu cầu sử lý thông tin cho e-business
ngày càng tăng mạnh.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét