Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

480 Những doanh nghiệp nhà nước trong quá trình Cổ phần hóa tại Việt Nam Thực trạng và giải pháp

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
LỜI NÓI ĐẦU
D E
1. Lý do chọn đề tài:
Từ cuối những năm 80, làn sóng hợp nhất doanh nghiệp, mua bán doanh
nghiệp, chia tách cơ cấu lại doanh nghiệp phát triển rất mạnh trên thế giới.
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thò trường cũng là một hàng hoá, nó cũng có giá
trò sử dụng, giá trò và giá cả. Kinh tế thò trường càng phát triển, sự cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp càng sâu sắc, đòi hỏi sự cơ cấu lại theo hướng hợp nhất,
mua bán diễn ra thường xuyên đòi hỏi phải xác đònh giá trò của doanh nghiệp
làm cơ sở cho những hoạt động đó.
Tuy nhiên do đặc tính doanh nghiệp là một hàng hoá đặc biệt bao gồm
nhiều bộ phận cấu thành, cả những bộ phận hữu hình như tài sản vật tư, nhà
xưởng, cả những bộ phận vô hình như danh tiếng, mối quan hệ các khâu trong
doanh nghiệp, cũng như giữa doanh nghiệp với môi trường bên ngoài, năng lực
của lãnh đạo và nhân viên và tính đơn chiếc của doanh nghiệp nên việc xác đònh
giá trò doanh nghiệp là một việc phức tạp.
Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới theo hướng phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thò trường có đIều tiết của nhà nước, thì
sự chia tách, sáp nhập, liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm tăng sức
mạnh trên thò trường diễn ra khá phổ biến. Trong khu vực kinh tế quốc doanh,
chủ trương của nhà nước là: đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng
cao hiệu quả các doanh nghiệp theo hướng chỉ giữ 100% vốn nhà nước đối với
những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành kinh tế quan trọng đem lại số
thu lớn cho ngân sách nhà nước, đảm bảo cân đối lớn cho nhà nước còn lại tiến
hành chuyển hình thức kinh doanh, hình thức sở hữu hoặc giải thể. Tất cả những
sự kiện đó làm cho vấn đề xác đònh giá trò doanh nghiệp càng trở nên cấp thiết.
Tuy nhiên việc xác đònh giá trò doanh nghiệp ở nước ta hiện nay vẫn mang
tính áp đặt vì chủ yếu việc xác đònh giá trò doanh nghiệp hiện nay gắn với cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nước nên nếu không phải là nhà nước được lợi thì
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 5

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
cũng là người lao động được hưởng. Do đó vấn đề xác đònh giá trò doanh nghiệp
không chỉ cần thiết cho công tác cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước mà trong
sự phát triển của kinh tế thò trường, đặc bòêt là khi có thò trường chứng khoán,
xác đònh giá trò doanh nghiệp sẽ là công việc thường xuyên diễn ra ở các doanh
nghiệp , nên việc nghiên cứu vấn đề xác đònh giá trò doanh nghiệp là hết sức cần
thiết và có ý nghóa cả về lý luận và thực tiễn đối với tiến trình đổi mới quản lý
doanh nghiệp ở nước ta hiện nay cũng như trong tương lai.
2. Phạm vi đề tài:
Đề tài này nghiên cứu và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công
tác đònh giá doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cổ phần hoá. Vì xác đònh giá
trò doanh nghiệp là một trong những vấn đề quan trọng của quá trình cổ phần
hoá của nước ta hiện nay, do đó đề tài đã gắn kết những nghiên cứu về việc đònh
giá doanh nghiệp với cả quả trình cổ phần hoá. Trên cơ sở đó người viết sẽ dựa
trên việc phân tích thực trạng quá trình cổ phần hoá tại Việt Nam, xác đònh rõ
những nguyên nhân cản trở tiến trình thực hiện cổ phần hoá, đưa ra những giải
pháp kiến nghò nhằm thúc đẩy công việc cổ phần hoá nhanh chóng đạt tới mục
tiêu mà kế hoạch của Chính phủ đã đề ra.
Mặc dù rất cố gắng tuy nhiên quỹ thời gian có hạn nên luận văn này
không tránh khỏi thiếu sót. Người viết rất mong nhận được sự quan tâm, theo dõi
và những đóng góp quý báu của Quý Thầy Cô, của các anh chò và của các bạn
để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn và có ý nghóa thiết thực trong công cuộc phát
triển nền kinh tếâ và đổi mới ở đất nước ta. Xin chân thành cám ơn.
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 6

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp

CHƯƠNG I
:
SỰ CẦN THIẾT CỦA CỔ PHẦN HOÁ VÀ
LÝ LUẬN CHUNG VỀÂ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH
NGHIỆP

I.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM.
Các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam được hình thành từ năm 1954 (ở
miền Bắc) và từ năm 1975 (ở miền Nam). Do hình thành từ nhiều nguồn gốc
khác nhau và được xây dựng trên cơ sở của nhiều quan điểm nên các doanh
nghiệp nhà nước ở Việt Nam có nhiều đặc trưng khác biệt so với nhiều nước
trong khu vực và trên thế giới, biểu hiện ở chỗ :
• Quy mô doanh nghiệp phần lớn nhỏ bé, cơ cấu phân tán. Năm 1992 cả
nước có trên 2/3 tổng số doanh nghiệp nhà nước có số lượng lao động dưới
100 người, chỉ có 4% doanh nghiệp có số lượng lao động trên 100 người. Số
lượng lao động trong khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm tỉ trọng khá nhỏ
trong tổng số lao động xã hội khoảng 5-6%.
• Trình độ kó thuật, công nghệ lạc hậu, trừ một số rất ít (18%) số doanh
nghiệp nhà nước được đầu tư mới đây, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước
đã được sử dụng khá lâu, có trình độ kó thuật, công nghệ thấp kém so với các
nước từ 3 đến 4 thế hệ. Có doanh nghiệp còn trang bò các thiết bò kó thuật từ
năm 1939 và trước đó được xây dựng bằng kó thuật của nhiều nước khác nhau
nên tính đồng bộ của doanh nghiệp thấp. Khi chuyển sang nền kinh tế thò
trường, các doanh nghiệp khó có khả năng cạnh tranh cả trong nước và trên
thế giới.
• Việc phân bố còn bất hợp lý về ngành, vùng. Khi chuyển sang nền
kinh tế thò trường, các doanh nghiệp nhà nước không còn được bao cấp mọi
mặt như trước nữa, đã thế lại bò các thành phần kinh tế khác cạnh tranh quyết
liệt, nên nhiều doanh nghiệp không thể trụ nổi buộc phải phá sản, giải thể.
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 7

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
Đặc biệt trong những năm gần đây chúng ta đã tiến hành cải cách doanh
nghiệp nhà nước. Do đó mặc dù số lượng các doanh nghiệp đã giảm từ
12.084 tính đến ngày 1/4/1994 xuống còn 6.264 doanh nghiệp nhà nước, nhờ
sự đổi mới về tổ chức quản lý, về kó thuụat và công nghệ của các doanh
nghiệp còn lại, tổng sản phẩm giá trò tuyệt đối của kinh tế nhà nước, cũng
như tỷ trọng tổng sản phẩm quốc dân (GDP) không những không giảm mà
còn tăng lên đáng kể.
Bảng sau đây cho chúng ta thấy rõ điều đó :
Giai đoạn (năm) 1971 - 1980 1981 - 1985 1986 - 1990 1991 - 1997
Tốc độ tăng trưởng kinh
tế bình quân năm (%)
0,4 6,4 3 7,8 đến 8,5

Năm 1990 1991 1992 1993 1997
Tỷ trọng kinh tế quốc
doanh GDP (%)
34,1 36 39,6 42,9 43,6
Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế nước ta trong những năm qua đã tăng
nhanh, đặc biệt các doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng vai trò chủ yếu trong nhiều
ngành kinh tế, nhất là những ngành quan trọng đòi hỏi đầu tư lớn, kó thuật cao và
các ngành sản xuất cung ứng các hàng hoá và các dòch vụ công cộng. Đồng thời
doanh nghiệp nhà nước vẫn là thành phần kinh tế đóng góp chủ yếu cho ngân
sách nhà nước. Có thể nhận thấy rằng: hầu hết các doanh nghiệp nhà nước của
ta hình thành từ thời quản lý tập trung quan liêu bao cấp, khi chuyển sang cơ chế
mới lại thiếu kiểm soát chặt chẽ việc thành lập nên phát triển tràn lan (nhất là
cấp tỉnh thành phố, quận huyện, cơ quan, trường học). Một bộ phận quan trọng
doanh nghiệp nhà nước không đủ điều kiện tối thiểu để hoạt động, thiếu vốn tối
thiểu, trang thiết bò quá đơn sơ, trách nhiệm tài ssản không được phân đònh rõ
ràng. Mặt khác trong điều kiện kinh tế tư nhân còn quá non yếu về mọi mặt chỉ
mới hoạt động chủ yếu trong lónh vực dòch vụ, tiểu thủ công nghiệp và nông
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 8

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
nghiệp nên doanh nghiệp nhà nước chưa thể tập trung toàn lực cho yêu cầu phát
triển ở những ngành, lónh vực then chốt.
Những đặc điểm trên luôn chi phối phương hướng, bước đi, và biện pháp
trong quá trình đổi mới ở nước ta. Sau 10 năm đổi nới, các doanh nghiệp nhà
nước đã và đang chuyển hướng khá căn bản, đã sắp xếp lại một bước quan
trọng, giảm được gần một nửa số doanh nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp đòa
phương nhỏ bé, hoạt động không hiệu quả. Số lớn doanh nghiệp còn lại được tổ
chức và từng bước phát huy quyền tự chủ trong kinh doanh làm ăn năng động và
hiệu quả. Nhưng nhìn chung các doanh nghiệp nhà nước vẫn rất còn khó khăn,
hướng kinh doanh còn thấp, nhiều doanh nghiệp vẫn làm ăn thua lỗ triền miên,
hoạt động cầm chừng. Sự đóng góp của doanh nghiệp nhà nước cho ngân sách
nhà nước chưa tương xứng với phần đầu tư của nhà nước cho nó, cũng nhưvới
tiềm lực của doanh nghiệp nhà nước tình trạng mất, thất thoát lớn về vốn đang
diễn ra hết sức nghiêm trọng, việc quản lý đối với các doanh nghiệp còn quá
yếu kém, đặc biệt là tình trạng buông lỏng quản lý tài chính làm nhà nước mất
vai trò thực sự là người chủ sở hữu, tình trạng phân hoá, chênh lệch trong thu
nhập ngày càng tăng ( có nhiều doanh nghiệp thu nhập bình quân trên 1 triệu
đồng/1 người/1 tháng, trong khi có doanh nghiệp lương công nhân không đảm
bảo nhu cầu tối thiểu ).
I.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC HIỆN NAY.
Sự ảnh hưởng nặng nề của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ
trong điều kiện cạnh tranh kéo dài sự tư duy không đúng trong một mô hình xã
hội trước đây. Tư duy đó đã chi phối đường lối xây dựng nền Kinh tế xã hội chủ
nghóa với cơ cấu chỉ có hai thành phần ( quốc doanh và tập thể ). Tư tưởng muốn
xoá bỏ nền kinh tế tư nhân và nền kinh tế cá thể, đồng nhất với mục tiêu phương
hướng xây dựng Chủ nghóa xã hội. Trước đây người ta thường xem nhẹ các quy
luật kinh tế khách quan của thò trường, coi thò trường là vốn có của chủ nghóa tư
bản. Từ đó dẫn đến hậu quả là việc hạch toán kinh tế ở các doanh nghiệp mang
tính hình thức, các doanh nghiệp thực chất chỉ là người sản xuất, gia công cho
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 9

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
nhà nước chứ không phải một cơ sở kinh doanh. Như vậy rõ ràng doanh nghiệp
nhà nước trong điều kiện đó rất xa lạ với mô hình doanh nghiệp theo cơ chế trên
thò trường có sự quản lý của nhà nưóc.
Sự yếu kém của nền kinh tế chủ yếu là lực lượng sản xuất, nói chung các
nguồn lực để phát triển sản xuất và kinh tế của ta tuy phong phú song chủ yếu
mới ở dạng tiềm năng. Để biến chúng thành hiện thực và có hiệu quả, cần phải
có lực lượng vốn lớn, kó thuật công nghệ đồng bộ, hiện đại, đội ngũ công nhân,
cán bộ kó thuật, cán bộ quản lý có năng lực đồng thời phải có trình độ tổ chức và
quản lý thích hợp của nhà nước cũng như của doanh nghiệp.
Sự yếu kém của lực lượng sản xuất của nước ta hiện nay biểu hiện rõ nhất
là sự thấp kém lạc hậu của kết cấu hạ tầng của toàn bộ nền kinh tế cũng như
mỗi doanh nghiệp. Trình độ kết cấu hạ tầng và dòch vụ của nước ta chỉ ở dưới
mức trung bình so với các nước đang phát triển. Ví dụ hệ thống giao thông liên
lạc – cầu nối gắn liền nền kinh tế nước ta với thò trường thế giới đến nay vẫn vô
cùng thấp kém và lạc hậu, cả nước mới có 32.595 km đường sắt nhưng chủ yếu
đường khổ rộng 1m : quốc lộ có 11 vạn km thì 7% đường tốt, 47% km đường xấu
và rất xấu, cảng biển và sân bay thiếu cả về số lượng và chất lượng. Những cơ
sở hiện nay vẫn chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Nền kinh tế của ta còn bộc lộ những yếu kém chưa có tích luỹ nội bộ,
chưa có khả năng chi trả số nợ đến hạn và quá hạn. Khả năng vay vốn nước
ngoài cũng không phải là thuận lợi. Bởi lẽ ta còn nợ nhiều không có khả năng
chi trả trong thời gian nhất đònh. Mặt khác hiệu quả kinh doanh của các doanh
nghiệp còn quá thấp, lãi suất tiền vay còn cao. Trong khi khả năng cạnh tranh
của sản phẩm và kinh nghiệm kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam trên thò
trường thế giới còn quá yếu kém.
Trình độ quản lý vó mô đối với nền kinh tế nói chung, đối với doanh
nghiệp nói riêng nhìn chung còn nhiều thiếu sót, hệ thống pháp luật, chính sách
quản lý chưa hoàn chỉnh, phần lớn các văn bản pháp quy, dưới luật có nhiều quy
đònh mâu thuẫn với nhau, hệ thống toà án kinh tế chưa tổ chức kòp thời nhằm
đảm bảo nghiêm chỉnh pháp luật kinh tế. Trong hoạt động quản lý nhà nước, tệ
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 10

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
cửa quyền quan liêu, thủ tục hành chính quá phiền hà đối với doanh nghiệp và
công dân còn khá phổ biến.
Trong quá trình chuyển cơ chế quản lý, nhiều văn bản quản lý cũ đã lỗi
thời, song chưa được huỷ bỏ, những văn bản mới có nhiều sơ hở, nhưng không
kòp thời sửa đổi nên đã bò lợi dụng phục vụ lợi ích trước mắt, cục bộ của cơ sở,
ngành gây nhiều tiêu cực, vô hiệu hoá những quy đònh mới đúng đắn của nhà
nước.
Một số công tác đặc biệt quan trọng về quản lý đối với doanh nghiệp như
quản lý tài chính, kế toán, kiểm toán, thanh tra, giám sát thi hành pháp luật chưa
chuyển biến kòp thời trong môi trường kinh doanh mới có lúc buông lỏng, nếu
nhà nước không nắm được thực trạng tài chính, hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp . Ngược lại có lúc, có nơi lại có nhiều thanh tra kiểm soát hoạt động của
doanh nghiệp một cách tuỳ tiện.
Trong quá trình chuyển sang cơ chế thò trường, Đảng và nhà nước chậm
và không cương quyết trong việc cải cách chế độ sở hữu trong các doanh nghiệp
nhà nước. Về mặt pháp ly, tài sản, tiền vốn trong các doanh nghiệp nhà nước
thuộc sở hữu toàn dân, nhưng trên thực té tính chất toàn dân của sở hữu bò bào
mòn một cách nghiêm trọng. Do các hình thức cụ thể của sở hữu toàn dân về
mặt kinh tế không được xác đònh nên hầu hết những người lao động trong các
doanh nghiệp nhà nước thờ ơ và xa cách với sở hữu toàn dân. Đó là nguyên nhân
của sự tham nhũng, thiếu trách nhiệm, thiếu kỷ cương và kỷ luật của người lao
động, của sự giảm sút về năng suất, chất lượng, hiệu quả, thiếu minh bạch trong
phân phối thu nhập ở các doanh nghiệp nhà nước. Đã có thời gian dài Việt Nam
có sai lầm là trao cho người lao động và Đại hội công nhân viên chức những
thẩm quyền của người chủ sở hữu.
Tóm lại, các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta do yếu tố lòch sử để lại đã
và đang đóng góp vai trò to lớn gần như tuyệt đối trong lónh vực của nền kinh tế
quốc dân, nhưng lại hoạt động kém hiệu quả và phát sinh nhiều tiêu cực. Quá
trình chuyển đất nước sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động
theo cơ chế thò trường có sự quản lý của nhà nước tất yếu phải đổi mới căn bản
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 11

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
doanh nghiệp nhà nước. Đây là mâu thuẫn lớn, song bắt buộc phải kiên quyết
đổi mới, phải có giải pháp và bước đi phù hợp với trình độ thực tế cơ sở.
I.3. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾN HÀNH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC.
I.3.1. Mục tiêu cổ phần hoá:
Từ tình hình trên, có thể thấy khu vực kinh tế nhà nước không phải là
điểm sáng như chúng ta mong đợi, đặc biệt nó vẫn chưa thực sự thể hiện tốt vai
trò chủ đạo của mình. Do đó vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải có một loạt
những giải pháp tiến hành đồng bộ. Trong đó, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước là một trong những biện pháp được Đảng và Nhà nước đặt lên vò trí then
chốt, hàng đầu. Mặt khác, cổ phần hóa sẽ đem lại những lợi ích sau:
• Thứ nhất : thực hiện cổ phần hóa là để giải quyết mâu thuẫn giữa quan
hệ sản xuất và vật liệu sản xuất. cổ phần hóa góp phần thực hiện chủ trương
đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Trước đây chúng ta xây dựng một cách
cứng nhắc chế độ công hữu, thể hiện ở một số lượng quá lớn các doanh
nghiệp nhà nước mà không nhận thấy quan hệ sản xuất này không phù hợp
với lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém, lạc hậu. Vì vậy cổ phần hóa sẽ
giải quyết được mâu thuẫn này, giúp lực lượng sản xuất phát triển.
• Thứ hai : Thực hiện cổ phần hóa nhằm xã hội hoá lực lượng sản xuất,
thu hút thêm nguồn lực sản xuất. Khi thực hiện cổ phần hóa, người lao động
sẽ gắn bó, có trách nhiệm với công việc hơn, họ trở thành người chủ thực sự
của doanh nghiệp. Ngoài ra, phương thức quản lý được thay đổi, doanh
nghiệp sẽ trở nên năng động, tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh nâng cao
hiệu quả sản xuất.
• Thứ ba : Bên cạnh đó, cổ phần hóa là một yếu tố thúc đẩy sự hình
thành và phát triển thò trường chứng khoán, đưa nền kinh tế hội nhập với kinh
tế khu vực và trên thế giới.
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 12

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
• Thứ tư : Thực hiện cổ phần hóa là một trong những giải pháp quan
trọng nhằm huy động các nguồn lực, các công ty cổ phần có điều kiện sản
xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao được khả năng cạnh
tranh trên thò trường, tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
• Thứ năm : cổ phần hóa tác động tích cực đến đổi mới quản lý ở cả tầm
vó mô và vi mô. Chuyển từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần
không những chỉ là sự thay đổi về sở hữu, mà còn là sự thay đổi căn bản
trong công tác quản lý ở cả phạm vi doanh nghiệp và ở cả phạm vi nền kinh
tế quốc dân.
• Thứ sáu : cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một giải pháp quan
trọng để cơ cấu lại nền kinh tế trong quá trình đổi mới.
Như vậy, đứng trước thực trạng hoạt động yếu kém của hệ thống doanh
nghiệp nhà nước, cổ phần hóa với những ưu điểm và mục tiêu của mình đã
chứng tỏ đó là một chủ trương đúng đắn phù hợp với giai đoạn quá độ đi lên chủ
nghóa xã hội ở nước ta.
I.3.2. Quy trình cổ phần hóa:
Quy trình cổ phần hóa tại Việt Nam từ trước đến nay cũng tuân theo các
bước như trên thế giới, bao gồm:
• Xác đònh doanh nghiệp sẽ tiến hành cổ phần hoá.
• Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp lớn hay nhỏ, ngành nghề và lónh vực
hoạt động; các cấp thẩm quyền tương ứng sẽ tiến hành phê duyệt loại hình
doanh nghiệp được cổ phần hoá toàn bộ hay một phần; doanh nghiệp do Nhà
nước năm giữ cổ phần chi phối hay doanh nghiệp cổ phần bình thường.
• Xây dựng và thẩm đònh điều lệ hoạt động doanh nghiệp.
• Xác đònh giá trò doanh nghiệp.
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 13

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
• Thành lập Ban lãnh đạo hay Hội đồng quản trò của doanh nghiệp mới
thông qua hình thức bỏ phiếu tín nhiệm
I.3.3. Nội dung cổ phần hoá.
Với mục tiêu như trên, tiến trình cổ phần hóa đã được sự quan tâm đặc
biệt của Đảng, Chính phủ và các ban ngành, chính quyền đòa phương. Trong suốt
hơn 10 năm thực hiện, nhiều văn bản pháp quy quy đònh chi tiết nội dung cổ
phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được ban hành nhằm đưa công tác cổ phần
hoá phù hợp với từng giai đoạn. Đặc biệt Nghò đònh 44/CP (29/6/1998) của Chính
phủ là nghò đònh đầu tiên quy đònh chi tiết nội dung cổ phần hóa, là cơ sở phát
triển các nghò đònh sau bao gồm: đối tượng cổ phần hóa, hình thức cổ phần hóa,
xác đònh giá trò doanh nghiệp, đối tượng mua cổ phần và phân tích đánh giá thực
trạng doanh nghiệp.
I.3.3.1. Về đối tượng cổ phần hóa.
Xuất phát từ thể chế chính trò, lòch sử, để phù hợp với hoàn cảnh và điều
kiện kinh tế nước ta, đối tượng thực hiện cổ phần hóa là những doanh nghiệp
nhà nước hội tụ đủ ba điều kiện: có quy mô vừa và nhỏ ; không thuộc diện Nhà
nước giữ 100% vốn đầu tư; có phương án kinh doanh có hiệu quả hoặc tuy trước
mắt có khó khăn nhưng triển vọng tốt.
Trong ba điều kiện này, điều kiện thứ hai (doanh nghiệp không thuộc
diện nhà nước giữ 100% vốn đầu tư) được coi là quan trọng nhất bởi những
doanh nghiệp nhà nước giữ 100% vốn đầu tư là công cụ điều tiết vó mô của Nhà
nước, là đòn bẩy kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn đònh theo đúng
hướng chủ nghóa xã hội.
I.3.3.2. Về lựa chọn hình thức tiến hành.
Theo nghò đònh này thì có 4 hình thức cổ phần hóa, ban cổ phần hoá sẽ lựa
chọn một hình thức phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và người lao
động. Các hình thức đó là:
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét