Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Mở rộng thị trường xuất khẩu và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của tổng công ty rau quả Việt Nam

đó chỉ có duy nhất một khách hàng có nhu cầu với sản phẩm hàng hoá, dịch vụ
đó và họ cũng kiểm soát các mỗi quan hệ kinh tế.
Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo: Là thị trờng ở đó có nhiều ngời mua và
bán tham gia. Những ngời này không ai có đủ u thế để cung ứng một sản phẩm
đủ sức chi phối giá cả trên thị trờng. Về ngời mua cũng không ai cỏ thể đủ khả
năng để mua một số lợng sản phẩm lớn đủ để gây những biến động giá cả.
Thị trờng độc quyền cạnh tranh: Là thị trờng mà ở đó vừa có trạng thái
độc quyền, vừa có trạng thái cạnh tranh.
Trong trờng hợp này bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng có thể là độc
quyền hoặc là ngời cạnh tranh trong cùng một loại sản phẩm nhng về mặt chất
lợng và số lợng có khác chút ít.
b. Căn cứ trên giác độ nhu cầu hàng hoá xuất khẩu có:
Thị trờng hàng hoá: Là thị trờng có đối tợng trao đổi hàng hoá với mục
tiêu nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng về vật chất.
Thị trờng dịch vụ: Là nơi cung cấp sản phẩm dịch vụ. Thị trờng này sử
dụng kênh phân phối trực tiếp không qua trung gian.
c. Căn cứ vào mức độ hạn chế xuất khẩu có:
Thị trờng có hạn ngạch.
Thị trờng không có hạn ngạch.
Hạn ngạch: là quy định của chính phủ về số lợng, chất lợng hàng hoá
xuất nhập khẩu, giá trị. Việc quy định này đợc Thủ tớng chính phủ phê duyệt
hàng năm. mục đích của việc này là đảm bảo những cân đối lớn của nền kinh tế
quốc dân, bảo hộ các ngành sản xuất trong nớc. Cho đến nay Việt Nam chỉ áp
dụng hạn ngạch đối với hai loại thị trờng hàng hoá là hàng dệt may, gạo xuất
khẩu vào thị trờng EU và Canađa, theo hiệp định song phơng.
d. Căn cứ đặc điểm sản xuất hàng xuất khẩu có:
Thị trờng xuất khẩu gia công: là thị trờng có sự tham gia của hai chủ thể:
bên gia công và bên nhận gia công. Bên đặt gia công giao toàn bộ hoặc một
phần nguyên liệu cùng các tài liệu hớng dẫn kỹ thuật cho bên nhận gia công,
bên nhận gia công tiến hành sản xuất và giao thành phẩm cho bên đặt gia công
và nhận phí gia công từ bên đặt gia công. Đây là một hình thức liên kết kinh tế
5
giữa các doanh nghiệp có quy mô, trình độ kỹ thuật và công nghệ khác nhau,
phân bổ các địa bàn khác nhau, quốc gia khác nhau. Qua đó cùng nhau tạo ra
thị trờng chung phân định hai mức sản lợng cho từng thành viên, giá cả từng
loại sản phẩm để bảo vệ lợi ích kinh tế của nhau, tạo ra cho nhau có khoản thu
nhập cao nhất.
Thị trờng xuất khẩu sản phẩm sản xuất: là nơi tiêu thụ các sản phẩm hàng
hoá đợc sản xuất bởi các doanh nghiệp.
e. Căn cứ vào nguồn gốc xuất khẩu.
Thị trờng xuất khẩu trực tiếp: là thị trờng mà ở đó các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu trực tiếp tham gia xuất khẩu và thị trờng không phải qua các khâu
trung gian. ở thị trờng này các doanh nghiệp tự nghiên cứu thị trờng, tìm kiếm
khách hàng, thoả thuận giao dịch ký kết hợp đồng ròi tự khai thác nguồn
hàng, sản xuất, giá cả, chế biến, và thực hiện hợp đồng, doanh nghiệp chịu
trách nhiệm đảm bảo hợp đồng bằng tài sản của mình. Hiện nay xu hớng xuất
nhập khẩu trực tiếp ngày càng đợc mở rộng.
Thị trờng xuất khẩu gián tiếp: là thị trờng mà tại đó các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu phải thông qua khâu trung gia xuất nhập khẩu. Các doanh
nghiệp này vì lý do chủ quan không thể tham gia xuất nhập khẩu trực tiếp, do
vậy phải uỷ quyền cho doanh nghiệp trung gian thờng là những doanh nghiệp
kinh doanh hàng xuất nhập khẩu làm dịch vụ xuất khẩu hàng hoá cho mình và
phải trả một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác.
f. Căn cứ vào chủ thể nhập khẩu gồm có:
Thị trờng theo các nớc.
Thị trờng một khu vực.
Việc phân chia thị trờng theo nớc hoặc khu vực căn cứ vào điều kiện địa
lý, mức thu nhập, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, nhu cầu và thị hiếu của
ngời dân
Do đó hình thành nên thị trờng Mỹ, Pháp, Đông Nam á, Đông Âu,
Nhật Từ sự phân chia này mà các chủ thể xuất khẩu có những chính sách xuất
khẩu và biện pháp phát triển thị trờng thích hợp.
g. Căn cứ vào quy định của nhà nớc gồm có:
6
Thị trờng chính ngạch: là thị trờng có các sản phẩm xuất khẩu mà việc
mua bán trao đổi đợc thực hiện giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc giữa các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu thông qua các hợp đồng mua bán ngoại thơng, và
việc thanh toán diễn ra thông qua các ngân hàng đại diện.
Thị trờng tiểu ngạch: là thị trờng mà ở đoa việc mua bán là trực tiếp có
thể không qua ký kết hợp đồng theo đúng quy tắc. Tức thị trờng có các quy định
của nhà nớc hạn chế về số lợng mặt hàng xuất nhập khẩu, loại hình doanh
nghiệp này thờng đợc thực hiện giữa các quốc gia có chung đờng biên giới. Nh
vậy, thực chất của việc mua bán trong thị trờng tiểu ngạch là mua bán trao tay,
thanh toán trực tiếp không cần qua các ngân hàng.
3. Chức năng của thị trờng.
Chức năng của thị trờng là những tác động khách quan vốn có bắt nguồn
từ bản chất của thị trờng tới quá trình tái sản xuất và tới đời sống kinh tế xã hội.
Trong quá trình vận động sản phẩm xã hội từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng, thị
trờng đã thực hiện các chức năng quan trọng sau:
a. Chức năng thừa nhận.
Trong nền kinh tế thị trờng hầu hết các sản phẩm hàng hoá dịch vụ sản
xuất ra đều đợc đem trao đổi buôn bán trên thị trờng. Việc hàng hoá bán ra đợc
là nhờ chức năng thừa nhận của thị trờng. Thị trờng thừa nhận chính là ngời
mua chấp nhận mua hàng và do đó hàng hoá bán đợc và nh vậy có thể nói về cơ
bản quá trình tái sản xuất xã hội của hàng hoá đã hoàn thành. Do đó, thị trờng
là là nơi để doanh nghiệp thể hiện khả năng cạnh tranh của mình và qua sự cạnh
tranh đó doanh nghiệp thấy rõ mình có thể đứng vững hay thất bại. Và cũng
nhìn vào đó doanh nghiệp sẽ quyết định đợc loại hàng hoá mà mình sẽ kinh
doanh. Nói cho cùng đây cũng là thể hiện chức năng thừa nhận của thị trờng
thông qua tác động của doanh nghiệp.
b. Chức năng thực hiện.
Thị trờng chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán hàng hoá và dịch
vụ. Nói một cách khác, thị trờng thực hiện hành vi trao đổi hàng hoá, thực hiện
cân bằng cung càu của từng hàng hoá, thực hiện giá trị hàng hoá thông qua giá
cả, thực hiện việc trao đổi thông qua giá trị. Ngời bán cần giá trị hàng hoá, ngời
mua cần giá trị sử dụng của hàng hoá. Nhng trình tự thì sự thực hiện về giá trị
7
chỉ xảy ra khi nào thực hiện đợc giá trị sử dụng, bởi vì hàng hoá hoặc dịch vụ
nào dù là đợc tạo ra với chi phí thấp nhng không phù hợp với nhu cầu thị trờng
và xã hội thì cũng không thể tiêu thụ hoặc bán đợc. Nh vậy, thông qua chức
năng thực hiện của thị trờng, các hàng hoá và dịch vụ hình thành nên các giá trị
trao đổi của mình để làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực.
c. Chức năng điều tiết.
Nhu cầu thị trờng là mục tiêu của quá trình sản xuất. Thị trờng là tập hợp
các hoạt động của quy luẩ kinh tế của thị trờng. Nói cách khác, thị trờng có
chức điều tiết khích thích sản xuất xã hội, chức năng này của thị trờng đợc thể
hiện ở chỗ:
Thông qua nhu cầu thị trờng các doanh nghiệp, các nhà sản xuất bằng
nghệ thuật của mình lựa chọn đợc sản phẩm thích hợp để sản xuất, tìm đợc nơi
tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ nhằm đạt đợc lợi nhuận cao, đồng thời củng cố đợc
địa vị của mình và tăng cờng sức cạnh tranh. Hơn nữa sự điều tiết kích thích của
thị trờng còn đợc thể hiện ở chỗ: Thị trờng chỉ thừa nhận những sản phẩm có
chi phí sản xuất thấp, chi phí lu thông thấp hoặc ở mức trung bình do vậy
khuyến khích các doanh nghiệp cải tiến sản xuất, giảm chi phí tới mức thấp
nhất.
Thông qua thị trờng, ngời tiêu dùng hay ngời mua có thể lựa chọn hàng
hoá dịch vụ đáp ứng đợc nhiều nhất nhu cầu của mình và giá cả thấp nhất. Nói
cách khác, thị trờng cho phép ngời tiêu dùng mua đợc những hàng hoá dịch vụ
có lợi nhất cho mình.
Nh vậy thị trờng vừa kích thích ngời sản xuất sử dụng hợp lý các nguồn
lực của mình, vừa kích thích ngời tiêu dùng sử dụng có hiệu quả ngân sách của
mình.
d. Chức năng thông tin.
Thị trờng thực hiện chức năng cung cấp thông tin về nhu cầu thị trờng, về
thị trờng, về tổng số cung cầu, thị hiéu khách hàng quan hệ cung- cầu của từng
loại hàng hoá, dịch vụ, chất lợng sản phẩm, các điều kiện tìm kiếm nguồn đầu
vào, các đơn vị sản xuất và phân phối cho ngời mua và ngời bán. Thông qua đó
các doanh nghiệp có thể trả lời các câu hỏi về thị trờng mục tiêu, về dung lợng
thị trờng, thị trờng cạnh tranh.
8
Tóm lại thị trờng cung cấp những thông tin hết sức cần thiết đối với ngời
sản xuất, ngời tiêu dùng để họ có thể đa ra những quyết định thích hợp đem lại
lợi ích hay hiệu quả cho mình.
Xuất phát từ những chức năng trên, có thể rút ra một số vai trò cơ bản của
thị trờng:
4. Vai trò của thị trờng.
Trong nền kinh tế hàng hoá, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế dù là
loại hình nào: quốc doanh, tập thể, t nhân đều là những chủ thể của sản xuất
(hàng hoá) kinh doanh hàng hoá, tồn tại trong một hệ thống nhất nh một cơ thể
sống vận động trên thị trờng lấy thị trờng làm môi trờng nh mảnh đất nuôi sống
doanh nghiệp. Trên thị trờng các doanh nghiệp đều có t cách pháp nhân và bình
đẳng các quan hệ hợp tác cho phép các doanh nghiệp tìm kiến tất cả các bạn
hàng phù hợp với doanh nghiệp của mình. Doanh nghiệp với t cách là ngời sản
xuất, kinh doanh hàng hoá tham gia thị trờng sẽ làm thay đổi toàn bộ các quan
hệ kinh tế các quan hệ ngang sẽ làm xuất hiện nhiều nhân tố mới. Mỗi doanh
nghiệp sẽ cần đến nhiều loại vật t hàng hoá, cần đến chất xám, do đó thúc đẩy
các ngành sản xuất vật t và các ngành kỹ thuật phát triển đòi hỏi của thị trờng
ngày cao và càng nhiều loại hàng hoá với chủng loại kích cỡ khác nh sẽ thúc
đẩy sự ra đời của các ngành sản xuất kinh tế mới. Mọi hoạt động của doanh
nghiệp đều gắn bó với thị trờng, sản phẩm của doanh nghiệp có bán đợc trên thị
trờng thì mới có thể bù đắp đợc chi phíq và thu đợc lợi nhuận. Thị trờng là nơi
đánh giá mọi hoạt động của doanh nghiệp một cách khách quan và chính xác.
Vì vậy, vai trò của thị trờng đối với doanh nghiệp đợc thể hiện là:
Một là: Thị trờng là sống còn đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
hàng hoá.
Doanh nghiệp khi chiếm lĩnh đợc những thị phần mới là họ đã phát triển
cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, mọi hoạt động kinh doanh cũng phát triển theo
và khả năng thu lợi nhuận sẽ tăng lên.
Doanh nghiệp khi mất đi thị phần sẽ gặp nhiều khó khăn, sản xuất kinh
doanh sẽ bị thu hẹp. Nếu không có biện pháp khắc phục kịp thời thì nguy cơ
phá sả là điều không thể tránh khỏi.
Hai là: Thị trờng phá vỡ ranh giới sản xuất tự nhiên tự cấp tự túc để tạo
thành thể thống nhất trong toàn nền kinh tế quốc dân.
9
Tác động của các quy luật thị trờng đó làm cho cho hàng hoá lu thông tự
do từ nơi có hàng đến nơi có nhu cầu. Dù có sự ngăn sống cấm chợ khi có lợi
nhuận nó cũng vợt qua. Và khi nền kinh tế hàng hoá xuất hiện thì hàng rào nào
cũng sẽ tự biến mất. Thị trờng là môi trờng đồng thời cũng là sức hút để hàng
hoá tự do lu thông từ vùng nọ sang vùng kia, làm cho hàng hoá phong phú và nó
cũng thống nhất mọi vùng ngăn cách.
Ba là: Thị trờng hớng dẫn sản xuất kinh doanh.
Do thị trờng là khách quan mỗi cơ hội sản xuất kinh doanh không có khả
năng làm thay đổi thị trờng và ngợc lại họ phải tiếp cận để thích ứng với thị tr-
ờng. Các nhà sản xuất kinh doanh phải căn cứ vào giá cả cung cầu trên thị trờng
mà quyết định các vấn đề: sản xuất cái gì? sản xuất bao nhiều và sản xuất cho
ai? Trên cơ sở đó xác định phơng án kinh doanh cho phù hợp (tuân theo các quy
luật thị trờng, phát huy khả năng sẵn có), khi có sự thay đổi trên thị trờng để
đứng vững đợc thì các hoạt động của doanh nghiệp cũng phải uốn theo cho phù
hợp. Tuân theo các quy luật thị trờng, phát huy khả năng sẵn có làm phơng
châm hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng. Nh vậy
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự chi phối của thị trờng.
Bốn là: Thị trờng là chiếc gơng phản chiếu tình hình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Nhìn vào thị trờng của doanh nghiệp ngời sẽ thấy đợc quy mô, tốc độ và
trình độ phát triển của doanh nghiệp. Nội dung tính hoạt động của doanh nghiệp
đều đợc thị trờng trả lời đúng hay sai. Những u khuyết điểm về sản phẩm, về
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trờng sẽ đợc bộ lộ rõ.
Do đó doanh nghiệp phải thờng xuyên bám sát thị trờng để thấy đợc tình hình
sản xuất, kinh doanh của bản thân để có những chính sách cho sản xuất kinh
doanh thích hợp.
Năm là: Thị trờng là nơi kiểm nghiệm, đánh giá tính chất đúng đắn các
chủ trơng, chính sách biện pháp kinh tế của nhà nớc, của các nhà quản lý kinh
doanh, thông qua đó một mặt nâng cao trình độ quản lý kinh doanh của các nhà
sản xuất doanh nghiệp. Đồng thời nó cũng đào thải những nhà sản xuất, nhà
quản lý không thích nghi đợc sự năng động của nó. Tầm quan trọng của thị tr-
ờng đối với sự phát triển của doanh nghiệp là không thể phủ nhận. Nó là điều
kiện cần và đủ để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
10
Tóm lại, thị trờng là khâu quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất hàng
hoá, là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng. Thị trờng là tấm gơng để các cơ
sở sản xuất kinh doanh nhận biết đợc nhu cầu xã hội và để đánh giá đợc hiệu
quả kinh doanh của chính bản thân mình. Thông qua đó, họ có thể điều kiển
mọi hành vi của bản thân cho thích nghi đợc với thị trờng.
5. Một số nét đặc trng của thị trờng xuất khẩu.
Thị trờng là một phạm trù của nền kinh tế hàng hoá. Thị trờng đợc nhiều
nhà kinh tế định nghĩa khác nhau, song trong mỗi định nghĩa, mỗi khái niệm về
thị trờng các nhà kinh tế có thể nhấn mạnh một yếu tố nào nh cung - cầu hay
vai trò của ngời mua hoặc ngời bán.
Theo đà quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới, khái niệm thị trờng nớc
ngoài có những thay đổi. Đối với các hãng đa quốc gia, không tồn tại thị trờng
nớc ngoài mà chỉ có những thị trờng ở các vùng khác nhau. Nhng dù thế nào thì
khi nói đến thị trờng nói chung và thị trờng xuất khẩu nói riền thì phải có đặc tr-
ng sau:
Một là: Phải có khách hàng, không nhất thiết phải gắn liền với địa điểm
xác định.
Hai là: Khách hàng phải có nhu cầu cha đợc thoả mãn. Đây là cơ sở thúc
đẩy khách hàng mua hàng hoặc dịch vụ.
Ba là: Khách hàng phải có khả năng thanh toán, tức là khách hàng có
khả năng trả tiền mua hàng.
Ngoài ra, với thị trờng xuất khẩu và thị trờng nội địa còn có đặc điểm
khác nhau về: địa lý, khách hàng, sở thích, văn hoá, thói quen, chính sách, đồng
tiền, phơng thức thanh toán Do đó các doanh nghiệp muốn xâm nhập vào thị
trờng này cần phải quan tâm xem xét.
Những đặc trng trên của thị trờng đòi hỏi các nhà kinh doanh, các nhà
kinh tế phải luôn nắm vững. Có nh vậy mới đi đúng con đờng của mình. Khi
xem xét thị trờng ta có thể thấy đợc sự phức tạp của thị trờng. Thị trờng không
có các bộ não trung tâm song lại giải đợc các bài toán kinh tế hết sức hóc búa.
Các hoạt động kinh tế diễn ra trên thị trờng không có sự bắt buộc nhng sự vận
động của cơ chế thị trờng tuân theo các quy luật. Nếu đi ngợc lại các quy luật
đó sẽ bị đào thải. Dới sự chi phối của các quy luật thì các hoạt động của nền
kinh tế trở nên linh hoạt, nhịp nhành, có hiệu quả, có trật tự.
11
Khi đề cập đến thị trờng, tức là đề cập đến các yếu tố cung, cầu, giá cả,
cạnh tranh. Các yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau. Thị trờng cung cầu là
cốt cách vật chất, giá cả là diện mạo thì cạnh tranh là linh hồn sống. Khi nói
đến thị trờng là nói đén thị trờng ngời mua đợc đặc trng bổi các khách hàng, thị
trờng ngời bán đặc đợc trng bởi ngời bán. nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì
thị trờng không đợc hoàn chỉnh.
II. Nội dung và biện pháp phát triển thị trờng xuất
khẩu.
1. Nội dung phát triển thị trờng xuất khẩu của các doanh nghiệp kinh
doanh quốc té.
a. Quan niệm về phát triển thị trờng.
Nh trình bày ở phần trên vai trò của thị trờng trong sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, ta cũng biết biết rằng để tồn tại và phát triển thì mỗi doanh
nghiệp đều phải làm tốt công tác thị trờng mà trong đó thị trờng tiêu thụ đóng
một vai trò quan trọng. Cùng với sự biến đổi rất nhanh chóng và phức tạp của
môi trờng kinh doanh, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đợc thì tất
yếu phải sản xuất và cung ứng ra thị trờng những sản phẩm hàng hoá, dịch vụ
có giá trị với một nhóm khách hàng nào đó, tập hợp những khách hàng đó là thị
trờng của doanh nghiệp. Trong điều kiện cạnh tranh, phần thị trờng của doanh
nghiệp là một bộ phận trong tổng thể rộng lớn của thị trờng mà ngời doanh
nghiệp đó ra còn có muôn vàn những doanh nghiệp khác cũng có những thị
phần riêng của nó.
Ta cũng biết rằng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cung cấp ra thị trờng
không phải là bất biến mà nó thay đổi liên tục theo nhu cầu của thị trờng cả về
số lợng, chất lợng, mẫu mã và chủng loại.
Thớc đo chính xác để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp không phải là cơ sở vật chất kỹ thuật thiết bị, máy móc công nghệ mà
chính là thị phần mà sản phẩm sản xuất ra của doanh nghiệp chiếm lĩnh đợc.
Nói nh vậy không có nghĩa là các yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh
nghiệp là không quan trọng, nhng để đánh giá xem hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay không ta phải đứng trên góc độ ngời
tiêu dùng để xem xét, chỉ cần nhìn vào thị phần và sự phát triển thị phần của
12
doanh nghiệp ta có thể thấy đợc doanh nghiệp làm ắn nh thế nào. ngời ta có thể
đầu t để mở rộng quy mô sản xuất tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật nhng liệu
sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra có phù hợp với thị trờng, có đợc ngời
tiêu dùng chấp nhận hay không rõ ràng phải nhìn sản phẩm dới con mắt của ng-
ời tiêu dùng mới có thể nhận biết đợc.
Phát triển thị trờng sản xuất chính là việc đa các sản phẩm vào bán tại
các thị trờng mới.
Tuy nhiên nếu phát triển thị trờng chỉ đợc coi là việc đa các sản phẩm
hiện tại vào bán trong các thị trờng mới thì có thể nh là cha đầy đủ với một
doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Bởi vì trong điều kiện hiện
nay khi mà nền kinh tế thị trờng phát triển nhanh chóng trong khi đó các doanh
nghiệp với những trang thiết bị còn lạc hậu, cha đồng bộ thì không những sản
phẩm hiện tại cha đáp ứng đợc nhu cầu của thị trờng hiện tại mà việc đa các sản
phẩm mới và thị trờng hiện tại và thị trờng mới là một vấn đề rất khó khăn. Do
đó việc phát triển thị trờng có thể hiểu một cách rộng hơn.
"Phát triển thị trờng ngoài việc đa sản phẩm hiện tại vào bán trong thị tr-
ờng mới còn bao gồm việc khai thác thị trờng hiện tại, nghiên cứu dự đoán thị
trờng đa ra những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của thị trờng hiện tại và khu
vực mới".
Để có thể tiếp tục các hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp sau mỗi
giai đoạn, chu kỳ kinh doanh phải có các hoạt động tổng kết đánh giá kết quả
kinh doanh của chu kỳ kinh doanh trớc trớc khi bớc vào một giai đoạn kinh
doanh mới. Công tác đánh giá về hoạt động phát triển thị trờng là một nội dung
quan trọng cần đợc phân tích. Từ đó có thể rút ra những bài học kinh nghiệm để
có thể tiếp tục các hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp có thể đánh giá sự phát
triển thị phần sản phẩm của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu: doanh số bán
hàng, thị phần, số lợng khách hàng, số lợng đại lý tiêu thụ và một số chỉ tiêu tài
chính khác nh: số vòng quay của vốn, tỷ suất lợi nhuận
Tóm lại, phát triển là quy luật tất yếu của mọi sự vật hiện tợng và đối với
các doanh nghiệp thì chỉ có thể tồn tại vững chắc khi có sự phát triển, có nh vậy
doanh nghiệp mới có phù hợp với các doanh nghiệp khác và cả nền kinh tế. Đối
với doanh nghiệp, phát triển chính là phát triển thị trờng tiêu thụ từ đó nâng cao
doanh số bán ra, mở rộng quan hệ, củng cố uy tín, nâng cao hiệu quả kinh
doanh.
13
b. ý nghĩa của việc phát triển thị trờng xuất khẩu.
Trong xu hớng toàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới, các quốc gia ngày
càng xích lại gần nhau hơn, các quan hệ, song phơng, đa phơng là xu hớng tất
yếu của mọi quốc gia, ảnh hởng của các nớc lẫn nhau ngày càng sâu sắc, các xu
hớng chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trờng, khuynh h-
ớng tự do hoá thơng mại, chính sách đầu t ở các nớc phát triển, khuynh hớng t
nhân hoá nền kinh tế và khuynh hớng phát triển thị trờng từ khu vực khép kín
sang thị trờng mở. Những điều đó khiến cho không một doanh nghiệp nào, một
quốc gia nào mà không ảnh hởng sâu sắc đến những biến đổi trên.
Nhiều doanh nghiệp đã chủ động đa sản phẩm đang bán trên thị trờng nội
địa sang bán ở các thị trờng nớc ngoài bằng cách xuất khẩu, đây là cách dễ dàng
nhất và đợc sử dụng nhiều nhất đối với các doanh nghiệp đang tiến những bớc
đầu tiên tham gia vào thị trờng quốc tế, vì cách này ít rủi ro về mặt tài chính
nhất.
Xuất khẩu là cách thông thờng đợc các nhà kinh doanh quốc tế có kinh
nghiệm sử dụng. Hiện nay khi mà việc cạnh tranh đã không còn diễn ra trên thị
trờng quốc tế mà ngay cả trên thị trờng nội địa các doanh nghiệp cũng gặp phải
phải sự cạnh tranh gay gắt thì việc chỉ tiêu thụ sản phẩm trên thị trờng nội địa
cũng ít hiệu quả hơn nếu doanh nghiệp muốn mở rộng phạm vi thị trờng tiêu
thụ.
Trên thực tế nhu cầu của mỗi đoạn thị trờng không phải là vô hạn, mặt
khác nhu cầu ở mỗi đoạn thị trờng là không hoàn toàn giống nhau. Phát triển thị
trờng sẽ làm cho doanh nghiệp có vị trí ngày càng ổn định, nâng cao uy tín sản
phẩm của doanh nghiệp trong mỗi bộ phận ngời tiêu dùng, và trên cơ sở đó thị
trờng hiện có đợc mang tính ổn định hơn.
Hiện nay, nói tới nền kinh tế thị trờng là nói đến sự cạnh tranh gay gắt
trên mọi lĩnh vực, doanh nghiệp nào không ý thức đợc điều đó, không nỗ lực
tăng trởng thì dẽ nhanh chóng bị tụt xuống thứ hạng thấp trong lĩnh vực của
mình. Một doanh nghiệp muốn thành công thì phải nắm đợc thị trờng vơn lên
nhóm đầu trong lĩnh kinh doanh của mình.
Liên tục phát triển đó là mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tồn
tại. Trong một nền kinh tế mà cạnh tranh rất đợc coi là linh hồn của thị trờng thì
việc dậm chân tại chỗ vốn cũng đợc coi là một sự tụt lùi. Khai thác thị trờng
hiện có theo chiều sâu và mở rộng thị trờng đợc xem là nhiệm vụ thờng xuyên
liên tục của một doanh nghiệp kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trờng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét