Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

246043





Trang 5
4.2.1.1 VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐẦU TƯ VÀ GIẢI PHÓNG MẶT
BẰNG 62
4.2.1.2 HỖ TR CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÁC
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ 66
4.2.1.3 GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 69
4.2.2 QUẢNG BÁ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ NHẰM THU HÚT ĐẦU
TƯ TẠI LÂM ĐỒNG 71
4.3 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 79
4.4 MỘT SỐ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 80





















Trang 6
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ CÁC HÌNH


I. DANH MỤC CÁC BẢNG
BẢNG 3.1 SỐ LƯNG DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH PHÂN
THEO LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP VÀ KHU VỰC KINH TẾ NĂM
2000 VÀ NĂM 2005 34
BẢNG 3.2 CƠ CẤU SỐ DOANH NGHIỆP PHÂN THEO QUY MÔ LAO
ĐỘNG NĂM 2005 37
BẢNG 3.3 TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU 41
BẢNG 3.4 KÝ HIỆU CÁC BIẾN 50
BẢNG 3.5 KẾT QỦA PHÂN TÍCH HỒI QUY MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 51
BẢNG 3.6 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUY MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 52
II. DANH MỤC CÁC HÌNH
HÌNH 1.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT 8
HÌNH 2.1 KHẢ NĂNG VỀ TIẾP THỊ CỦA MỘT ĐỊA PHƯƠNG 29
HÌNH 3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀO SỰ
THỎA MÃN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TẠI LÂM ĐỒNG 49











Trang 7
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Giới Thiệu
Với đònh hướng Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa của Đảng và Nhà nước
thì việc thu hút đầu tư từ nhiều thành phần kinh tế, từ nguồn vốn trong và
ngoài nước là rất quan trọng để thúc đẩy xã hội phát triển. Nhiều Quốc Gia đã
thành công trong việc phát triển kinh tế quốc gia của mình, tuy nhiên cũng
không ít quốc gia mà ở đó việc phát triển kinh tế không được như ý muốn.
Những khó khăn trong việc phát triển kinh tế của các quốc gia này không phải
là họ làm sai, nhưng là do họ theo đuổi các chính sách phát triển, lệ thuộc qúa
nhiều vào lý thuyết lợi thế so sánh, không còn phù hợp trong nền kinh tế thế
giới hiện nay nữa
1
. Một số quốc gia đã vực được nền kinh tế của mình lên như
Nhật bản, Hàn Quốc, v.v. là những quốc gia không có những lợi thế so sánh về
các yếu tố sản xuất cơ bản như tài nguyên thiên nhiên hay lao động rẻ. Sự tin
tưởng vào lý thuyết lợi thế so sánh do Ricardo đưa ra từ thế kỷ 19 có thể là
một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên sự thất bại trong việc phát
triển kinh tế đòa phương.
Những thách thức trong cạnh tranh trên lãnh vực toàn cầu đòi hỏi các
quốc gia, thành phố, tỉnh thay đổi cách nhìn của họ. Lợi thế so sánh của các
yếu tố sản xuất cơ bản không còn là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế
nữa vì các lợi thế này đều mang tính tương đối. Lý do là các đòa phương cùng
cạnh tranh vào tài nguyên thiên nhiên dẫn đến giá của nó ngày càng có xu
hướng giảm đi. Lao động rẻ thường không bù được cho kỹ năng lao động.
Trong bối cảnh của nền kinh tế thế giới với trình độ khoa học và công nghệ

1
Fairbanks, M.& Landsa, S. (1997), Plowing the sea, Massachusetts: Harvard Business School




Trang 8
phát triển với tốc độ ngày càng nhanh, đòi hỏi kỹ năng chuyên môn cao trong
lao động hơn là số lượng và chi phí của lực lượng lao động.
Một cách nhìn về đòa phương đònh chính sách đều đồng ý đó là xem một
đòa phương như là một thương hiệu để tiếp thò nó. Như vậy, về mặt tiếp thò,
một đòa phương được xem như là một thương hiệu, gọi là “Thương hiệu đòa
phương” để phân biệt với thương hiệu sản phẩm và dòch vụ của các đơn vò
kinh doanh. Trên quan điểm tiếp thò đòa phương, các đòa phương cần phải xác
đònh thò trường mục tiêu của mình. Thò trường bao gồm các nhà đầu tư, kinh
doanh, trong và ngoài nước. Đây cũng là thò trường ưu tiên hàng đầu của các
nước đang phát triển, đặc biệt ở châu sau cuộc khủng hoảng tài chính. Các
đòa phương tìm cách kêu gọi đầu tư, mà trọng tâm là đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI). Lý do là đầu tư nước ngoài tạo ra nhiều ngành nghề mới, tạo
công việc làm, giúp phát triển công nghệ và tăng trưởng kinh tế, điều chỉnh
cán cân thanh toán quốc tế, tăng thu nhập cho người lao động, và thu nhập cho
ngân sách
2
. Để kích thích và hấp dẫn các nhà đầu tư, các nhà tiếp thò đòa
phương thường nỗ lực xác đònh đặc trưng của đòa phương có ý nghiõa với khách
hàng mục tiêu của mình, từ đó xây dựng và quảng bá vò trí của đòa phương
mình cho khách hàng đầu tư hiện tại và tiềm năng.
Một đòa phương thành công khi có khả năng hoạch đònh chiến lược tiếp
thò phù hợp cũng như thực hiện được quy trình tiếp thò đòa phương mình một
cách có hiệu quả. Hai khả năng này sẽ tạo cho sự phát triển bền vững của đòa
phương. Một đòa phương thất bại trong việc phát triển là đòa phương mà nhà
tiếp thò không có được kỹ năng hoạch đònh cũng như thực hiện chiến lược tiếp
thò. Tuy nhiên, khi một đòa phương có chiến lược tiếp thò hợp lý nhưng lại thiếu
khả năng thực hiện cũng tạo một sự mất ổn đònh cho đòa phương đó. Ngược lại,

2
Root, F. R. (1990), International Trade and Investments, Ohio: South - Western




Trang 9
một đòa phương có khả năng thực hiện cao nhưng lại thiếu năng lực hoạch đònh
chiến lược thì sự thành công của đòa phương này mang tính may rủi. Trong
nhiều trường hợp, các đòa phương này có thể thành công, nhất là trong ngắn
hạn, nhưng do thiếu tầm nhìn chiến lược nên rất khó phát triển bền vững trong
dài hạn.
1.2 Vấn đề và mục tiêu nghiên cứu
Nền kinh tế Việt Nam đã khởi sắc từ khi mở cửa và tiếp tục đổi mới và
đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Trong những năm gần đây, GDP
tiếp tục tăng trưởng trên 7% năm, quan hệ Việt- Mỹ ngày càng chặt chẽ hơn,
đặc biệt Việt Nam đã gia nhập WTO tháng 11 năm 2006 và Mỹ đã bình
thường hóa với Việt Nam. Chính phủ đã chủ động kiểm soát được mức độ lạm
phát, không ảnh hưởng đến đời sống người dân.
Tổng vốn đầu tư vào nền kinh tế Việt Nam qua các năm đều liên tục
tăng, tính trong giai đoạn từ 1995 đến 2005, mức tăng trung bình 12%/năm,
trong đó khu vực nhà nước tăng trung bình 16.2%/năm khu vực ngoài quốc
doanh tăng trung bình 11.6%/năm, và khu vực có FDI tăng trung bình
5.7%/năm
3
. Đây là một tín hiệu đáng khích lệ và phù hợp với đònh hướng phát
triển của nền kinh tế Việt Nam, tổng vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh. Liên
quan đến đầu tư nước ngoài, trong 20 năm qua, các hoạt động đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam được điều chỉnh bởi Luật đầu tư nước ngoài ban hành ngày
29/12/1987 cùng với những sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992, 1996, 2000 và
đặc biệt là năm 2005 và các văn bản hướng dẫn khác
4
. Trong những năm gần
đây, tình hình thu hút vốn FDI dao động liên tục nhưng tổng vốn đầu tư vẫn
theo chiều hướng tăng. Điều này cho thấy: Các dự án đầu tư mang tính tập

3
Niên giám thống kê năm 2005
4
Báo cáo của ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Tài liệu đã dẫn T18)




Trang 10
trung hơn, quy mô trung bình của từng dự án lớn hơn, hứa hẹn nhiều hơn vào
hiệu quả đầu tư.
Tính đến 31/12/2005, đã có 6.341 dự án đầu tư nước ngoài hoạt động ở
Việt Nam – với tổng số vốn đăng ký là 53,6 tỷ USD. Các dự án đầu tư nước
ngoài chiếm 18% tổng vốn đầu tư
5
.
Tuy có nhiều thay đổi trong nguồn FDI, kết quả đạt được vẫn chưa cao,
vì vậy môi trường đầu tư ở Việt Nam còn nhiều mặt cần được khắc phục,
nhưng trong thời gian qua, công tác cải thiện môi trường đầu tư cũng như các
hoạt động quảng bá về cơ hội đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam đã đạt được
những thành tựu đáng khích lệ, nâng cao dần lòng tin của các khách hàng đầu
tư trong nước và nước ngoài. So với các khu vực khác, đầu tư tại Lâm Đồng
còn tương đối thấp. Về FDI, với số lượng 88 Dự án tại Lâm Đồng và với tổng
vốn đầu tư 131,3 triệu USD, so với 25285,4 triệu USD của cả nước, nguồn vốn
FDI vào khu vực này còn khá khiêm tốn. Có nhiều nguyên nhân tác động vào
tình hình thu hút đầu tư nói chung và FDI nói riêng, khách quan cũng như chủ
quan. Tác động của chính sách mới về thuế thu nhập doanh nghiệp, nhất là đối
với các dự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất tại các đô thò lớn làm
cho một số dự án có quy mô khá lớn hoãn lại việc đầu tư hoặc chuyển sang
nước khác.
Về đầu tư trong nước, tăng trưởng trong đầu tư mạnh nhất vẫn là khu
vực kinh tế nhà nước. Trong khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt từ khi luật doanh
nghiệp được thi hành (01/01/2000), cũng phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, khu
vực này cũng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là thiếu bình đẳng trên thò trường,
phần nào đó làm giảm động lực đầu tư
6
. Hơn nữa các dòch vụ quản lý hỗ trợ

5
Báo cáo của ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Tài liệu đã dẫn T18)
6
Nhà quản lý, số 5, tháng 11 /2003.




Trang 11
kinh doanh và hệ thống pháp luật vẫn còn nhiều bất cập và chưa đồng bộ, góp
phần làm giảm tính cạnh tranh của Việt Nam
7
, v.v.
Có nhiều nghiên cứu, phân tích về những yếu tố làm giảm mức độ cạnh
tranh của Việt Nam
8
cũng như của từng đòa phương và những phân tích đánh
giá này góp phần vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam nói
chung và từng đòa phương nói riêng.
Lý thuyết tiếp thò nói chung và tiếp thò đòa phương đã cho thấy, nếu
khách hàng (đầu tư, kinh doanh) thỏa mãn với một đòa phương, đó là lợi thế
cạnh tranh quan trọng của đòa phương đó. Lý do là khi khách hàng thỏa mãn
với đòa phương, họ không những có xu hướng gia tăng tiêu dùng (ở đây là đầu
tư nhiều hơn) vào đòa phương đó, mà còn giới thiệu với các nhà đầu tư kinh
doanh khác vào đòa phương. Do đó, khám phá ra các yếu tố về môi trường đầu
tư có khả năng làm gia tăng mức độ thỏa mãn các nhà đầu tư và kinh doanh tại
một đòa phương đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển đòa phương đó.
Để góp phần vào việc cải thiện, phát triển môi trường đầu tư tại Lâm
Đồng nhằm kích thích các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, trong và ngoài
nước, hay nói cách khác là xây dựng, phát triển và đònh vò thương hiệu Lâm
Đồng. Theo quan điểm tiếp thò đòa phương cho các khách hàng đầu tư, mục
tiêu của luận văn này bao gồm:
1. Đánh giá thực trạng môi trường đầu tư hiện tại Lâm Đồng, dựa trên
quan điểm của khách hàng đầu tư. Công việc này bao gồm việc khám
phá, phân tích, và đánh giá những yếu tố về môi trường đầu tư có khả
năng tác động đến sự thỏa mãn của khách hàng đầu tư.

7
Nhà quản lý, số 8, tháng 02/2004
8
Ví dụ:Nguyễn Thò Liên Hoa (2002), Xây dựng lộ trình thu hút FDI tại Việt Nam trong giai đọan 2002-
2100, Phát triển kinh tế, 145, 2-3; Phan Quang Thìn (2002), thu hút vốn FDI nhìn từ Đồng Nai, v.v.




Trang 12
2. Nhận dạng những vấn đề cơ bản về môi trường đầu tư của đòa phương
cần phải ưu tiên giải quyết cho từng khách hàng đầu tư mục tiêu theo
quan điểm tiếp thò đòa phương, và đề xuất một số giải pháp tiếp thò đầu
tư cho tỉnh Lâm Đồng.
1.3 Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến môi trường đầu tư tại Lâm Đồng
được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu sau đây:
• Đánh giá mức độ nhận biết, đầu tư và hài lòng của khách hàng đầu tư đối
với môi trường đầu tư tại Lâm Đồng.
• Đánh giá sự hài lòng của khách hàng đầu tư về các thủ tục có liên quan.
• Phân tích sự tác động của các biến số nêu trên đến sự cam kết, gắn bó
của khách hàng đầu tư tại Lâm Đồng.
• Đề xuất các giải pháp tiếp thò môi trường đầu tư tại Lâm Đồng nhằm thu
hút các nhà đầu tư vào Lâm Đồng.
Biến nghiên cứu (biến phụ thuộc) ở đây sẽ là biến “Sự hài lòng của
khách hàng đầu tư” và các biến tác động (biến độc lập) bao gồm: Cơ sở hạ
tầng đầu tư, chế độ, chính sách đầu tư, môi trường sống và làm việc. Ba biến
độc lập này được giả đònh là sẽ tác động đến sự hài lòng của khách hàng đầu
tư. Sự tác động này có thể được nhìn thấy qua mô hình lý thuyết của nghiên
cứu này được thiết kế theo hình 1.1.
Trong mô hình này, các biến độc lập và phụ thuộc đều là những biến
tiềm ẩn (latent variables). Mỗi biến như vậy sẽ được đo lường bằng các yếu tố
thành phần (items). Các yếu tố thành phần để đo lường các biến này đã được
xác đònh trong bảng câu hỏi điều tra.




Trang 13
Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu lý thuyết

Để đánh giá độ tin cậy của đo lường (xác đònh xem các yếu tố thành
phần có thể đo được biến tiềm ẩn hay không) chúng ta dùng hệ số Cronbach
alpha. Với nghiên cứu giải thích chúng ta sẽ chấp nhận những yếu tố này đo
lường được biến tiềm ẩn nếu hệ số Cronbach alpha lớn hơn 0.6
Sau khi kiểm đònh hệ số Cronbach alpha, chúng ta sẽ xây dựng hàm
tương quan tuyến tính để khám phá sự tác động của các biến nêu trên đến
biến nghiên cứu cần quan tâm là sự hài lòng của khách hàng đầu tư. Giả
thuyết nghiên cứu chủ yếu ở đây chính là: Nếu khách hàng càng thoả mãn về
môi trường đầu tư, v.v, thì họ sẽ càng hài lòng hơn đối với các yếu tố thuộc về
môi trường đầu tư mà Lâm Đồng tạo ra. Nghiên cứu khám phá thông qua dữ
liệu thứ cấp.
1.3.2 Mẫu và cơ cấu mẫu
Mẫu được lựa chọn theo phương pháp thuận tiện. Kích thước mẫu được
chọn là 231 mẫu, dữ liệu được nhập và làm sạch thông qua phần mềm SPSS
13.0. Đối tượng điều tra ở đây là các doanh nghiệp trong và ngoài nước đang
đầu tư kinh doanh tại Lâm Đồng. Quy trình nghiên cứu được thực hiện thông
qua ba bước, (1) nghiên cứu khám phá thông qua dữ liệu thứ cấp, (2) nghiên
cứu khám phá bằng phương pháp nghiên cứu đònh tính, (3) nghiên cứu chính
thức bằng phương pháp nghiên cứu đònh lượng.
Cơ sở hạ tầng đầu tư
Môi trường sống và làm việc
Chế độ, chính sách
Sự hài lòng của
khách hàng đầu tư




Trang 14
1.3.3 Xây dựng thang đo (Phụ lục số 2)
Thang đo trong nghiên cứu này được xây dựng theo quy trình xây dựng
thang đo trên cơ sở các lý thuyết về xây dựng thang đo. Chúng được điều
chỉnh và bổ sung cho phù hợp với đặc thù của môi trường đầu tư dựa vào kết
quả của bước nghiên cứu đònh tính.
Như đã trình bày ở trên, có 4 khái niệm nghiên cứu: Ba biến tiềm ẩn và
một biến phụ thuộc được sử dụng trong nghiên cứu này, đó là: (1) Cơ sở hạ
tầng đầu tư, (2) Chính sách, dòch vụ đầu tư, (3) Môi trường sinh sống và làm
việc.
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập thông qua sách báo, niên giám
thống kê, tạp chí chuyên ngành, nguồn thông tin nội bộ tại Lâm Đồng và
mạng Internet. Dữ liệu này dùng để khám phá sơ bộ hiện trạng của Lâm Đồng
và các tỉnh lân cận cùng với các quan điểm về thu hút đầu tư của đòa phương.
Trên cơ sở dữ liệu này, cùng với cơ sở lý luận về tiếp thò đòa phương, luận văn
sẽ thiết kế và thực hiện nghiên cứu đònh tính tiếp theo để xác đònh sơ bộ
những yếu tố có khả năng đem lại sự thỏa mãn của các nhà đầu tư tại Lâm
Đồng.
1.3.4 Nghiên cứu khám phá thông qua nghiên cứu đònh tính
Nghiên cứu đònh tính thường được dùng tìm hiểu sâu về thái độ và hành
vi của các khách hàng đầu tư. Vì vậy, nghiên cứu này được sử dụng bước
nghiên cứu đònh tính thông qua thảo luận với các cơ quan quản lý nhà nước về
đầu tư của Lâm Đồng và một số doanh nghiệp đang đầu tư, kinh doanh tại
tỉnh. Mục đích của luận văn này là khám phá thái độ quan điểm về các hoạt
động đầu tư, kinh doanh của các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, của
chính các nhà đầu tư, kinh doanh, cùng với các yếu tố về môi trường đầu tư tại
Lâm Đồng tạo nên sự thỏa mãn của họ. Nghiên cứu này là cơ sở để thiết lập

Xem chi tiết: 246043


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét