Thảo luận Tài chính Quốc tế
giá hối đoái. Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF) xếp Việt Nam vào nhóm nước "đô la
hóa" không chính thức.
Đô la hoá không chính thức có thể bao gồm các loại sau:
• Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài.
• Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài.
• Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước.
• Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi.
- Đô la hoá bán chính thức là những nước có hệ thống lưu hành chính
thức hai đồng tiền. Ở những nước này, đồng ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợp
pháp, và thậm chí có thể chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng,
nhưng đóng vai trò thứ cấp trong việc trả lương, thuế và những chi tiêu hàng
ngày. Các nước này vẫn duy trì một ngân hàng trung ương để thực hiện chính
sách tiền tệ của họ. Khác với các nước " đô la hóa" chính thức, ngân hàng trung
ương những nước đó phát hành đồng nội tệ và điều hành chính sách tiền tệ của
đất nước. Trên thế giới, có khoảng 12 nước như Bahamas, Haiti, Liberia… áp
dụng " đô la hóa" bán chính thức.
Cách thứ hai: Đô la hoá toàn phần, đô la hóa từng phần:
Đô la hoá toàn phần bao gồm đô la hoá chính thức
Đô la hoá từng phần bao gồm đô la hoá không chính thức và đô la hoá
bán chính thức.
3.Tác động của Đô la hoá tới nền kinh tế:
Tình trạng "đô la hoá" nền kinh tế có tác động tích cực và tác động tiêu
cực.
a. Những tác động tích cực:
- Tạo một cái van giảm áp lực đối với nền kinh tế trong những thời kỳ lạm
phát cao, bị mất cân đối và các điều kiện kinh tế vĩ mô không ổn định. Do có
một lượng lớn đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng, sẽ là một công cụ tự bảo vệ
Nhóm 3_Lớp CH 17G
5
Thảo luận Tài chính Quốc tế
chống lại lạm phát và là phương tiện để mua hàng hoá ở thị trường phi chính
thức.
Ở các nước đô la hoá chính thức, bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ, họ sẽ
duy trì được tỷ lệ lạm phát gần với mức lạm phát thấp làm tăng sự an toàn đối
với tài sản tư nhân, khuyến khích tiết kiệm và cho vay dài hạn. Hơn nữa, ở
những nước này ngân hàng trung ương sẽ không còn khả năng phát hành nhiều
tiền và gây ra lạm phát, đồng thời ngân sách nhà nước sẽ không thể trông chờ
vào nguồn phát hành này để trang trải thâm hụt ngân sách, kỷ luật về tiền tệ và
ngân sách được thắt chặt. Do vậy, các chương trình ngân sách sẽ mang tính tích
cực hơn.
- Tăng cường khả năng cho vay của ngân hàng và khả năng hội nhập quốc
tế. Với một lượng lớn ngoại tệ thu được từ tiền gửi tại ngân hàng, các ngân
hàng sẽ có điều kiện cho vay nền kinh tế bằng ngoại tệ, qua đó hạn chế việc
phải vay nợ nước ngoài, và tăng cường khả năng kiểm soát của ngân hàng
trung ương đối với luồng ngoại tệ. Đồng thời, các ngân hàng sẽ có điều kiện
mở rộng các hoạt động đối ngoại, thúc đẩy quá trình hội nhập của thị trường
trong nước với thị trường quốc tế.
- Hạ thấp chi phí giao dịch. Ở những nước đô la hoá chính thức, các chi
phí như chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này sang
đồng tiền khác được xoá bỏ. Các chi phí dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng không
cần thiết, các ngân hàng có thể hạ thấp lượng dự trữ, vì thế giảm được chi phí
kinh doanh.
- Thúc đẩy thương mại và đầu tư. Các nước thực hiện đô la hoá chính thức
có thể loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát mua ngoại tệ,
khuyến khích tự do thương mại và đầu tư quốc tế. Các nền kinh tế đô la hoá có
thể được, chênh lệch lãi suất đối với vay nợ nước ngoài thấp hơn, chi ngân sách
tiảm xuống và thúc đẩy tăng trưởng và đầu tư.
- Thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và phí chính
thức. Tỷ giá chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo ra động cơ
Nhóm 3_Lớp CH 17G
6
Thảo luận Tài chính Quốc tế
để chuyển các hoạt động từ thị trường phi chính thức (bất hợp pháp) sang thị
trường chính thức (thị trường hợp pháp).
b. Những tác động tiêu cực:
- Ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô. Trong một
nền kinh tế có tỷ trọng ngoại tệ lớn, việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ
mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ sẽ bị mất tính độc lập mà chịu nhiều ảnh
hưởng bởi diễn biến kinh tế quốc tế, nhất là khi xẩy ra các cuộc khủng hoảng
kinh tế.
- Làm giảm hiệu quả điều hành của chính sách tiền tệ :
• Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện thanh toán,
do đó dẫn đến việc đưa ra các quyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiền
trong lưu thông kém chính xác và kịp thời.
• Làm cho đồng nội tệ nhậy cảm hơn đối với các thay đổi từ bên ngoài, do
đó những cố gắng của chính sách tiền tệ nhằm tác động đến tổng cầu nền kinh
tế thông qua việc điều chỉnh lãi suất cho vay trở nên kém hiệu quả.
• Tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá. Đô la hoá có
thể thực thi chính sách tỷ giá. Đô la hoá có thể làm cho cầu tiền trong nước
không ổn định, do người dân có xu hướng chuyển từ đồng nội tệ sang đô la
Mỹ, làm cho cầu của đồng đô la Mỹ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá.
Khi các đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới thực hiện phá giá đồng
tiền, thì quốc gia bị đô la hoá sẽ không còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh
của khu vực xuất khẩu thông qua việc điều chỉnh lại tỷ giá hối đoái.
• Ở trong các nước đô la hoá không chính thức, nhu cầu về nội tệ không
ổn định. Trong trường hợp có biến động, mọi người bất ngờ chuyển sang ngoại
tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát. Khi
người dân giữ một khối lượng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi
suất trong nước hay nước ngoài có thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền
này sang đồng tiền khác (hoạt động đầu cơ tỷ giá). Những thay đổi này sẽ gây
Nhóm 3_Lớp CH 17G
7
Thảo luận Tài chính Quốc tế
khó khăn cho ngân hàng trung ương trong việc đặt mục tiêu cung tiền trong
nước và có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngân hàng.
Trường hợp tiền gửi của dân cư bằng ngoại tệ cao, nếu khi có biến động
làm cho người dân đổ xô đi rút ngoại tệ, trong khi số ngoại tệ này đã được ngân
hàng cho vay, đặc biệt là cho vay dài hạn, khi đó ngân hàng nhà nước của nước
bị đô la hoá cũng không thể hỗ trợ được vì không có chức năng phát hành đô la
Mỹ.
- Chính sách tiền tệ bị phụ thuộc nặng nề vào nước Mỹ. Trong trường hợp
đô la hoá chính thức, chính sách tiền tệ và chính sách lãi suất của đồng tiền khi
đó sẽ do nước Mỹ quyết định. Trong khi các nước đang phát triển và một nước
phát triển như Mỹ không có chu kỳ tăng trưởng kinh tế giống nhau, sự khác
biệt về chu kỳ tăng trưởng kinh tế tại hai khu vực kinh tế khác nhau đòi hỏi
phải có những chính sách tiền tệ khác nhau.
- Đô la hoá chính thức sẽ làm mất đi chức năng của ngân hàng trung ương
là người cho vay cuối cùng của các ngân hàng. Trong các nước đang phát triển
chưa bị đô la hoá hoàn toàn, mặc dù các ngân hàng có vốn tự có thấp, song
công chúng vẫn tin tưởng vào sự an toàn đối với các khoản tiền gửi của họ tại
các ngân hàng. Nguyên nhân là do có sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước đối với
các khoản tiền này. Điều này chỉ có thể làm được đối với đồng tiền nội tệ, chứ
không thể áp dụng được đối với đô la Mỹ. Đối với vác nước đô la hoá hoàn
toàn, khu vực ngân hàng sẽ trở nên bất ổn hơn trong trường hợp ngân hàng
thương mại bị phá sản và sẽ phải đóng cửa khi chức năng người cho vay cuối
cùng của ngân hàng trung ương đã bị mất.
4. Nguyên nhân dẫn tới đô la hoá nền kinh tế:
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đô la hoá nền kinh tế song có 3 nguyên
nhân chính sau:
Thứ nhất, do nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, sức mua của đồng bản tệ
giảm sút người dân phải tìm các công cụ dự trữ giá trị khác, trong đó có các
Nhóm 3_Lớp CH 17G
8
Thảo luận Tài chính Quốc tế
đồng ngoại tệ có uy tín. Song song với chức năng làm phương tiện cất giữ giá
trị, dần dần đồng ngoại tệ sẽ cạnh tranh với đồng nội tệ trong chức năng làm
phương tiện thanh toán hay làm thước đo giá trị.
Tình trạng đô la hoá bao gồm cả ba chức năng thuộc tính của tiền tệ, đó là:
• Chức năng làm phương tiện thước đo giá trị.
• Chức năng làm phương tiện cất giữ.
• Chức năng làm phương tiện thanh toán.
Thứ hai, trong điều kiện của thế giới ngày nay, hầu hết các nước đều thực
thi cơ chế kinh tế thị trường mở cửa; quá trình quốc tế hoá giao lưu thương
mại, đầu tư và hợp tác kinh tế ngày càng tác động trực tiếp vào nền kinh tế và
tiền tệ của mỗi nước, nên trong từng nước xuất hiện nhu cầu khách quan sử
dụng đơn vị tiền tệ thế giới để thực hiện một số chức năng của tiền tệ. Đô la
hoá ở đây có khi là nhu cầu, trở thành thói quen thông lệ ở các nước.
Thứ ba, Mức tiết kiệm thấp và thời hạn tương đối ngắn của tiền gửi, trái
phiếu, v.v (kỳ hạn trung bình chưa tới một năm) đã buộc các nước đi vay bên
ngoài bằng đồng ngoại tệ, gây đô-la hoá các khoản nợ. Các chuyên gia kinh tế
đã mô tả hiện tượng này là ''sai lầm đầu tiên'', khiến quốc gia vay tiền phơi
nhiễm với các cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế.
5. Những nước đã tiến hành Đô La hoá:
5.1. Panama
Nước đầu tiên tiến hành đô la hoá toàn phần là Panama. Từ năm 1904, sau
khi tách ra khỏi Colombia, Panama đã dùng đồng xanh. Việc này đã có ảnh
hưởng rất tốt đến nền kinh tế của Panama. Ví dụ trong suốt những năm 1990
lạm phát hầu như không vượt quá 1% một năm. Nhưng đồng thời đô la hoá vẫn
không giúp Panama được hoàn toàn độc lập với trợ giúp của các tổ chức bên
ngoài. Từ năm 1973 Panama tiếp nhận hơn 15 chương trình của Quỹ Tiền tệ
Nhóm 3_Lớp CH 17G
9
Thảo luận Tài chính Quốc tế
quốc tế, và đô la hoá cũng không ngăn được việc Panama mất khả năng trả nợ
nước ngoài vào giữa những năm 1980.
5.2. Ecuador
Ecuador bắt đầu thực hiện chuyển đổi vào đầu năm 2000. Đô la hoá là
phương cách cuối cùng của Ecuador khi nước này cố vượt qua một cuộc khủng
hoảng kinh tế trầm trọng, với một hệ thống ngân hàng suy sụp, đồng nội tệ
(đồng sucre) mất giá, và sự chống đối của người dân bản xứ. Khi Tổng thống
Jamil Mahuad thông cáo ý định đô la hoá vào tháng 1 năm 2000, quá trình này
đã bắt đầu được tiến hành, đất nước đã đang trong quá trình đô la hoá một
cách mạnh mẽ. Tuy nhiên thông cáo của tổng thống đã dẫn đến một cuộc đảo
chính, và tổng thống đã phải từ chức. Chính quyền dân sự được tái lập vào
tháng 2, nghị viện Ecuador thông qua luật cho phép được đô la hoá toàn phần.
Trước khi đổi hệ thống tiền sang đô la, Ecuador đã thử tiến hành nhiều
biện pháp hối đoái khác nhau như tỉ giá cố định, chính sách ghìm tỉ giá. Tất cả
các biện pháp này đều không có hiệu quả và đến nay quyết định đô la hoá vẫn
được coi là hợp lý đối với Ecuador.
5.3. El Salvador
Cuối tháng 11 năm 2000 nghị viện El Salvador thông qua luật thực hiện đô la
hoá toàn phần trong cả nước. Bắt đầu từ ngày mùng 1 tháng 1 năm 2001 các máy đếm
tiền tự động đều được nạp chương trình để phát ra đồng đô la và tất cả các tài khoản
ngân hàng đều chuyển sang đô la. Sự thay đổi này không hẳn do nguyên nhân khủng
hoảng kinh tế trầm trọng như trường hợp của Ecuador. Trên thực tế, lạm phát ở
Salvador thấp, chỉ khoảng 1.3% trong vòng 1 thập kỷ trước. Đô la hoá thật ra la để
thu hút đầu tư nước ngoài vào El Salvador.
Cũng như người dân Ecuador, người Salvador không ngạc nhiên mấy khi nghe
quyết định đô la hoá vì tỉ giá giữa đồng nội tệ colon và đô la đã được cố định trong
Nhóm 3_Lớp CH 17G
10
Thảo luận Tài chính Quốc tế
suốt 8 năm. Ngân hàng trung ương Salvador ước tính gần 70% số tiền đang được sử
dụng tại thời điểm đó là đô la. Cũng như trường hợp trên, lợi ích của đô la hoá còn
cần được xem xét thêm. Tuy nhiên cũng đã có những dấu hiệu tốt: ngày El Salvador
tiến hành chuyển đổi sang đồng tiền mới lãi suất tiêu dùng và vay mua nhà giảm từ
17% xuống 11%.
5.4. Các trường hợp khác
Vài năm trước đây, Mỹ thông báo là đô la sẽ được coi là đồng tiền chính
thức của Đông Timor, nước vừa tuyên bố độc lập khỏi Indonesia. Tháng 12 năm
2000, Guatemala thông qua luật cho phép được sử dụng đô la rộng rãi, tuy
không tuyên bố hẳn là sẽ dô la hoá toàn phần. Một loạt các nước khác cũng đã
cân nhắc về quyết định đô la hoá ví dụ như Costa Rica, Honduras, Nicaragua.
Vài người đã đề nghị đô la hoá Afganistan, như một biện pháp tạm thời cho đến
khi chính phủ được đặt trong một chế độ chính trị ổn định. Trong khi nhiều
nước vẫn sử dụng đồng đô la là chính, không có nước nào thay đổi chính sách
đô la hoá toàn phần, và đây thường được coi là một chính sách cố định.
Nhóm 3_Lớp CH 17G
11
Thảo luận Tài chính Quốc tế
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG ĐÔ LA HOÁ Ở VIỆT NAM
1. Thực trạng đôla hoá ở Việt Nam:
Như đã đề cập ở chương I, ở nước ta, "đô la hóa" được nhận thức là việc
sử dụng USD trong giao dịch thương mại và dịch vụ song song với VND do ở
Việt Nam USD là loại ngoại tệ được sử dụng phổ thông và nhiều nhất so với
các ngoại tệ khác, trong khi trên thế giới, "đô la hóa" có khái niệm rộng hơn:
khi dân cư một nước sử dụng rộng rãi ngoại tệ song song với đồng nội tệ hoặc
thay thế đồng nội tệ. Do vậy, trong phạm vi bài nghiên cứu này, chúng ta sẽ đi
sâu hơn về các số liệu liên qua tới đồng USD.
Ở Việt Nam, theo thống kê, tỷ lệ đô la hóa luôn ở mức trên 20% trong khi
tỷ lệ này ở các nước trong khu vực thấp hơn rất nhiều, như: Indonesia, Thái
Lan, Malaysia chỉ khoảng 7-10%. Mục tiêu của Ngân hàng nhà nước Việt
Nam tới năm 2010 sẽ giảm tỷ lệ này xuống còn 15%.
Những năm qua, lượng tiền gửi tuyệt đối bằng USD tại các ngân hàng đã
không ngừng tăng lên, đặc biệt là ở hệ thống ngân hàng tại 2 thành phố lớn là
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Với nguồn vốn ngoại tệ đồ sộ đó, các ngân
hàng thường có 2 cách lựa chọn: một là đem gửi ở ngân hàng nước
ngoài_những nước có lãi suất tiết kiệm bằng đồng USD cao hơn trong nước để
kiếm lời bằng chênh lệch lãi suất hoặc thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ
trên thị trường ngoại tệ quốc tế; hai là đầu tư và cho các doanh nghiệp trong
nước vay. Cách thứ nhất buộc các ngân hàng phải có một lượng USD tương đối
lớn, song, hiệu quả kinh tế không cao, lại luôn tiềm tàng nhiều rủi ro do giá
USD trên thị trường thế giới luôn biến đổi thất thường. Điển hình là việc Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã từng có giai đoạn bị thua lỗ hàng
chục triệu USD do kinh doanh ngoại tệ. Chính vì vậy mà các ngân hàng thường
thực hiện theo cách thứ 2: đầu tư cho vay trong nước, và chính điều này đã làm
Nhóm 3_Lớp CH 17G
12
Thảo luận Tài chính Quốc tế
gia tăng các giao dịch, thanh toán bằng USD trên nhiều loại thị trường. Điều
này không những đẩy nhanh quá trình đô la hóa mà còn mang lại nhiều rủi ro
cho doanh nghiệp vay vốn bằng USD: họ kinh doanh bằng VNĐ nhưng phải trả
nợ ngân hàng bằng USD và nghiễm nhiên sẽ phải gánh chịu rủi ro về tỷ giá.
Một lĩnh vực đô la hóa tương đối mạnh đó là bán hàng qua mạng, kinh
doanh các sản phẩm nhập khẩu, nhất là đồ điện tử. Ta có thể thấy bằng trực
giác việc niêm yết giá bằng cả VNĐ lẫn USD ở hầu như 100% các trang web
bán đồ điện tử như: máy vi tính, các thiết bị gia dụng nhập ngoại v.v Mặc dù
hai loại giá được đặt song song nhưng việc thanh toán thực tế thì luôn được
thực hiện bằng USD, nếu khách hàng thanh toán bằng VNĐ thì giá của hàng
hóa sẽ dựa trên tỷ giá hối đoái giữa VN và USD ngày hôm thực hiện giao dịch.
Những hàng hóa này thường là những hàng hóa mà doanh nghiệp Việt Nam
phải nhập khẩu toàn bộ hoặc nhập khẩu từng liên kiện, nên giá của chúng phụ
thuộc hoàn toàn vào USD, do vậy, các doanh nghiệp, để tránh rủi ro tỷ giá cho
mình, buộc phải niêm yết giá bằng USD. Ngoài ra, doanh nghiệp niêm yết giá
bằng USD còn để tăng tính "hiện đại", "thương mại điện tử". Điều này rất đáng
lo ngại vì kinh doanh qua mạng sẽ trở thành loại hình kinh doanh chủ yếu trong
tương lai.
Từ khi nước ta chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập với thế giới,
chính sách tiền tệ trở nên rất quan trọng. Tín dụng, lãi suất và tỷ giá là các công
cụ chủ yếu điều tiết hoạt động kinh tế của đất nước. Ngân hàng Nhà nước trở
thành cơ quan có chức năng và quyền lực chi phối hoạt động kinh tế cả ở tầm
vi mô và vĩ mô.
Ở Mỹ, Cục dự trữ liên bang (FED) đóng vai trò ngân hàng trung ương, là
cơ quan độc lập với Tổng thống và Quốc hội, quyết định lãi suất và tỷ giá để
kích thích hoặc kìm hãm tín dụng đầu tư, kinh doanh, xử lý các tình huống kinh
tế bằng tăng hoặc giảm lãi suất. Chủ tịch FED, ông Ben Bernanke được tạp chí
Time bình chọn là Nhân vật của năm 2009 do đã "bình tĩnh và khôn ngoan…
Nhóm 3_Lớp CH 17G
13
Thảo luận Tài chính Quốc tế
đặt các phanh hãm sự tuột dốc của nền kinh tế Mỹ" như đánh giá của Tổng
thống Barak Obama.
Việc biến động tỷ giá hối đoái trong những tháng gần đây có nhiều
nguyên nhân gắn với tình trạng "đô la hóa" không chính thức ở nước ta. Mặc
dù Chính phủ theo đuổi chính sách quản lý ngoại hối theo định hướng nhất
quán "trên thị trường Việt Nam chỉ giao dịch bằng đồng Việt Nam", nhưng
thực tế, ngoại tệ và vàng được sử dụng khá phổ biến như các phương tiện thanh
toán trong giao dịch mua bán bất động sản, hàng hóa đắt tiền, vay, trả nợ, cất
trữ. Mỗi khi có biến động về tỷ giá thì các ngoại tệ, nhất là USD gia tăng vai
trò trên thị trường.
Tuy vậy, nguyên nhân chính của thực trạng đó là tình trạng lạm phát cao
trong mấy năm liền đã làm cho giá trị thực của VND giảm sút, kéo theo độ tín
nhiệm của người dân với VND giảm. Giá cả trên thị trường thế giới biến động,
một số hàng hóa như xăng dầu, sắt thép… tăng cao đã tác động đến giá cả trong
nước, làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng. Đó là nhân tố khách quan từ bên
ngoài. Nhân tố chủ yếu là quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và lưu thông
tiền tệ. Trong 2 năm 2005 và 2006, GDP của Việt Nam tăng 17%, tiền lưu
thông trên thị trường và tiền gửi ngân hàng - M2 tăng 73%. Cũng trong hai năm
đó, GDP của Trung Quốc tăng 22%, thì M2 chỉ tăng 36%. Quan hệ giữa tăng
M2 và tăng GDP của nước ta là 4,3 lần, thì của Trung Quốc chỉ là 1,6 lần, điều
đó giải thích vì sao CPI của Việt Nam cao gấp đôi Trung Quốc.
Do vậy, mặc dù kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng cao, nhưng
cũng xuất hiện mối lo ngại của các doanh nghiệp và người dân về tình trạng
lạm phát cao, VND sụt giá và không ổn định.
CPI liên tục tăng, năm 2004 là 7,71%, năm 2005 là 8,29%, năm 2006 là
7,48%, năm 2007 là 8,30%, năm 2008 là 22,97% và năm 2009 là 6,88%. Thực
trạng đó có liên quan đến mức chi tiêu danh nghĩa trong nước đã tăng nhanh
khi các khoản viện trợ chính thức (ODA), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và
đầu tư gián tiếp (FPI), kiều hối đổ vào nước ta ngày càng nhiều. Nếu như năm
Nhóm 3_Lớp CH 17G
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét