Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Thị trường tài chính Mỹ và bài học kinh nghiệm cho việc phát triển thị trường tài chính Việt Nam

Mai Thị Thanh Thuỷ

Khoá luận tốt nghiệp 2003
thu hồi về được. Doanh nghiệp có thể bị đe dọa phá sản! Trong tình huống này,
một khoản vốn nóng rót từ bên ngoài vào là tối cần thiết. Khoản tiền đó có thể
lấy từ Thị trường tài chính.
Cơ chế huy động vốn thông qua thị trường tài chính được hiểu như sau:
một số tác nhân kinh tế có nhu cầu đầu tư nhiều hơn phần mình tiết kiệm được
- và do đó cần đến vốn từ bên ngoài (số này đa số là các doanh nhiệp thuộc khu
vực sản xuất và Nhà nước). Trong khi đó, một số tác nhân kinh tế khác có
khoản tiết kiệm nhiều hơn khoản đầu tư - và do vậy có khả năng cấp vốn (số
này thông thường là các hộ gia đình). Một trong số các “công cụ” thực hiện
việc lưu chuyển vốn từ nơi này đến nơi khác chính là thị trường tài chính. Việc
lưu chuyển này có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, hoặc là các doanh
nghiệp trực tiếp mua khoản tiết kiệm này của các hộ gia đình trên thị trường tài
chính (thông thường tại thị trường chứng khoán), hoặc là các doanh nghiệp
mua lại khoản vốn đó gián tiếp tại các tổ chức tài chính trung gian. Thị trường
chứng khoán chỉ là một trong những công cụ cấp vốn, nhưng là một trong
những công cụ cấp vốn hợp lý và hiệu quả nhất.
2. Chức năng thị trường tài chính
2.1. Huy động và dẫn vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn
Thị trường tài chính có chức năng cơ bản là dẫn vốn từ những người dư
thừa vốn sang những người cần vốn. Với những người dư thừa vốn, thu nhập
lớn hơn chi tiêu, những người này có thể là Chính phủ, các tổ chức hoặc cá
nhân. Trong khi đó, do chi tiêu lớn hơn thu nhập, các đơn vị khác lại cần vốn.
Sự chuyển dịch vốn này được thực hiện theo sơ đồ sau:
5
Mai Thị Thanh Thuỷ

Khoá luận tốt nghiệp 2003
Hình 1: Sơ đồ dịch chuyển vốn
Qua sơ đồ trên ta thấy, sự chuyển dịch vốn được thực hiện qua hai con
đường tài trợ trực tiếp và tài trợ gián tiếp. Trong tài trợ trực tiếp, những người
cần vốn huy động trực tiếp từ những người có vốn bằng cách bán các chứng
khoán cho họ. Các chứng khoán này là các công cụ tài chính, nó cung cấp
quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản và các quyền khác cho chủ sở hữu đối với
người phát hành. Các chứng khoán được mua bán rộng rãi trên thị trường cấp
một và thị trường cấp hai. Cách thức thứ hai để dẫn vốn là tài trợ gián tiếp
thông qua các trung gian tài chính. Các trung gian tài chính như các ngân hàng,
các tổ chức tín dụng, các tổ chức bảo hiểm và các trung gian khác có vai trò
cực kỳ quan trọng trong việc tích tụ, tập trung và phân phối vốn trong nền kinh
tế, đồng thời các tổ chức này cũng có vai trò quan trọng trong việc cấp vốn và
hỗ trợ cho dòng tài chính trực tiếp như thông qua các hoạt động đại lý, bảo
lãnh, thanh toán
Như vậy, thông qua việc dẫn chuyển vốn, thị trường tài chính có vai trò
quan trọng trong việc tích tụ, tập trung và phân phối trong nền kinh tế, trên cơ
sở đó làm tăng năng suất và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Thị trường tài
chính trực tiếp cải thiện mức sống cho cả những người có vốn và những người
cần vốn.
TÀI TRỢ GIÁN TIẾP
TÀI TRỢ TRỰC TIẾP
6
Thị
trường
tài chính
Người cho vay vốn
1. Hộ gia đình
2. Doanh nghiệp
3. Chính phủ
Người đi vay vốn
1. Hộ gia đình
2. Doanh nghiệp
3. Chính phủ
Vốn Vốn
Vốn
Vốn
Trung
gian tài
chính
Mai Thị Thanh Thuỷ

Khoá luận tốt nghiệp 2003
2.2. Xác định giá cả của các tài sản tài chính
Thông qua quan hệ giữa người mua và người bán (quan hệ cung cầu trên
thị trường) giá cả của các tài sản tài chính được xác định, hay nói cách khác,
lợi tức yêu cầu của tài sản tài chính được xác định. Vì vậy, thị trường tài chính
là nơi hình thành nên giá cả của các tài sản tài chính - các "hàng hoá" trên thị
trường.
2.3. Tạo tính thanh khoản cho tài sản tài chính
Thị trường tài chính cung cấp một cơ chế để các nhà đầu tư có thể trao
đổi, mua bán các tài sản tài chính của mình trên thị trường thứ cấp, như vậy thị
trường tài chính tạo ra tính thanh khoản cho các tài sản tài chính. Nếu thiếu
tính thanh khoản, người đầu tư sẽ buộc phải nắm giữ các công cụ nợ cho tới
khi đáo hạn, hoặc nắm giữ các công cụ vốn cho tới khi công ty phá sản hoặc
giải thể phải thanh lý tài sản. Mức độ thành khoản của các thị trường tài chính
là khác nhau, nó phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường.
2.4. Giảm thiểu chi phí cho các chủ thể tham gia trên thị trường
Để cho các giao dịch có thể diễn ra, những người mua và những người bán
cần phải bỏ ra các chi phí như chi phí tìm kiếm đối tác và tìm kiếm thông tin
trong quá trình trước, trong và sau khi ra các quyết định đầu tư. Nhờ tính tập
trung, các thông tin phục vụ quá trình đầu tư được cung cấp đầy đủ, chính xác
và nhanh chóng trên thị trường tài chính, từ đó cho phép giảm thiểu những chi
phí đối với các bên tham gia giao dịch và góp phần tăng hiệu quả đối với các
chủ thể trên thị trường cũng như đối với toàn bộ nền kinh tế.
2.5. Khuyến khích cạnh tranh và phát triển hiệu quả kinh doanh
Thị trường tài chính là thị trường định giá các công cụ tài chính. Vì vậy,
sẽ khuyến khích quá trình phân phối vốn một cách có hiệu quả, góp phần tăng
tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và từ đó đặt ra cho các doanh nghiệp
phải tăng hiệu quả kinh doanh để có thể tồn tại và phát triển.
7
Mai Thị Thanh Thuỷ

Khoá luận tốt nghiệp 2003
2.6. Ổn định và điều hoà lưu thông tiền tệ
Thị trường tài chính có một chức năng quan trọng là ổn định và điều hoà
lưu thông tiền tệ, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế. Chức năng
này được thể hiện thông qua việc mua bán các trái phiếu, tín phiếu và các giấy
tờ có giá khác của Ngân hàng Trung Ương trên thị trường tài chính là thị
trường tiền tệ. Thông qua đó, Chính phủ có thể huy động được nguồn vốn lớn
để bù đắp thâm hụt ngân sách và kiểm soát lạm phát. Ngoài ra, Ngân hàng
Trung Ương cũng có thể mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối để điều
chỉnh lượng cung và cầu ngoại tệ nhằm giúp Chính phủ ổn định tỷ giá hối đoái.
Như vậy, thị trường tài chính có chức năng hết sức quan trọng không
những đối với nền kinh tế mà cả đối với từng các nhân, tổ chức kinh tế. Thị
trường tài chính tạo điều kiện cho phép vốn được chuyển từ người có tiền nhàn
rỗi và không có cơ hội đầu tư hiệu quả sang cho người có cơ hội đầu tư, có khả
năng sản xuất, giúp nâng cao năng suất và hiệu quả toàn bộ nền kinh tế. Ngoài
ra, thị trường tài chính cũng trực tiếp cải thiện mức sống của người tiêu dùng
bằng cách giúp họ chọn thời điểm cho việc mua sắm tốt hơn. Thị trường tài
chính hoạt động hiệu quả sẽ trực tiếp cải thiện đời sống kinh tế xã hội.
II. CÁC THÀNH VIÊN THỊ TRƯỜNG
1. Các trung gian tài chính
Các trung gian tài chính hoạt động như là những người trung gian chuyển
vốn từ những người cho vay cuối cùng tới những người đi vay cuối cùng. Điểm
chung của tất cả các trung gian tài chính là huy động vốn bằng cách phát hành
các phiếu nợ của chính mình cho công chúng (tiền gửi tiết kiệm, tiền tiết kiệm
và các cổ phiếu) rồi sau đó sử dụng tiền (vay được) để mua các chứng khoán
như cổ phiếu, trái phiếu, cầm cố - mortage cho chính mình.
Các cơ quan tài chính có vị trí tốt hơn so với các cá nhân trong việc gánh
chịu và phân chia các rủi ro của sở hữu chứng khoán. Nhờ có quy mô lớn nên
8
Mai Thị Thanh Thuỷ

Khoá luận tốt nghiệp 2003
các trung gian có thể đa dạng hoá các loại chứng khoán và giảm tới mức tổi
thiểu các rủi ro trong việc giữ các loại chứng khoán. Họ là các chuyên gia trong
việc đánh giá các thuộc tính của tín dụng vay. Họ thuê những vị quản lý chứng
khoán thành thạo và có thể chiếm được lợi thế của các nền kinh tế hành chính
trong việc mua và bán có quy mô lớn.
Vì những lý do này, họ có thể chịu đựng được việc nhận những khoản lãi
suất thấp hơn cho các tài sản của mình và họ sẽ chấp nhận các mức lãi suất
thấp hơn nếu tình thế bắt buộc. Sự cạnh tranh giữa các trung gian tài chính ép
các mức lãi suất xuống mức thấp nhất tương đương với sự đánh giá của họ về
những rủi ro trong việc sở hữu chứng khoán. Những mức lãi suất này thấp hơn
so với khi các chứng khoán khởi thuỷ ở trong tay các nhà đầu tư cá thể là
những người không thể tối thiểu hoá một cách có hiệu quả các rủi ro của mình.
Cần thấy rằng lãi suất thấp đã tạo ra nhiều thuận lợi cho mức tăng trưởng
kinh tế. Mức lãi suất mà những người đi vay cuối cùng phải trả càng thấp thì
khoản chi phí cho đầu tư thực càng thấp. Dưới giác độ gánh chịu mạo hiểm ta
cũng thấy được tác động thuận lợi của các trung gian tài chính tới tăng trưởng
kinh tế. Các trung gian có nhiều khả năng hơn so với các cá thể để gánh chịu
các rủi ro trong việc cho vay vốn. Đó là nhờ vào khả năng đa dạng hoá, các nền
kinh tế có quy mô và sự thành thạo trong việc tính toán tới việc cho vay của
các cơ quan tài chính hơn hẳn so với các cá thể. Do các trung gian tài chính
ngày càng nắm một phần lớn hơn của các chứng khoán lưu thông chưa được
thanh toán nên những rủi ro do nền kinh tế gây ra bị giảm xuống, các mức lãi
suất được hạ thấp và các đầu tư thực được thực hiện nhiều hơn. Các vốn được
chuyển từ những người cho vay cuối cùng, thông qua các trung gian tới những
người đi vay cuối cùng một cách hiệu quả hơn so với khi không có các trung
gian.
9
Mai Thị Thanh Thuỷ

Khoá luận tốt nghiệp 2003
Các trung gian tài chính không phải ai khác mà chính là các cơ quan tài
chính - các ngân hàng thương mại, quỹ tiết kiệm, các hiệp hội tích luỹ và cho
vay, các liên đoàn tín dụng, các quỹ hưu trí, các công ty bảo hiểm…
2. Những người sử dụng cuối cùng trong hệ thống tài chính
Trong hệ thống tài chính có hai loại "người sử dụng cuối cùng" đó là
những người cho vay cuối cùng và những người đi vay cuối cùng.
Người cho vay cuối cùng thường là các cá nhân, hộ gia đình. Mục đích
cuối cùng của họ có thể nói là làm sao nâng tới mức tối đa lợi ích tiêu dùng
trong đời sống hàng ngày. Nếu như ở thời điểm hiện tại họ không chi tiêu hết
toàn bộ thu nhập vào tiêu dùng thì chắc chắn họ sẽ tìm một chỗ cất giữ nhất
thời và chỉ huy động để chừng nào cần tài trợ cho việc chi tiêu tiếp theo. Điều
này dẫn đến hoạt động mua tậu các tài sản tài chính. Mặc dù đôi khi các hãng
kinh doanh và các cơ quan chính phủ (của liên bang, bang và của địa phương)
cũng cho vay những khoản đáng kể.
Những người đi vay cuối cùng chủ yếu là các hãng kinh doanh và các cơ
quan chính phủ, mặc dù các hộ gia đình cũng là một bộ phận quan trọng – là
những người đi vay tín dụng tiêu dùng và những người đi vay cầm cố. Thị
trường tài chính mà tại đó các hoạt động được diễn ra nói chung mang tên do
những người đi vay đặt ra - chủ yếu mang tên của loại chứng khoán khởi thủy
được kinh doanh: thị trường chứng khoán chính phủ, thị trường chứng khoán
thành phố (Municipal Bond Market), thị trường chứng khoán công ty
(Corporate Bond Market), thị trường cầm cố gia đình (Home Mortage Market)
… Song đôi khi những người cho vay cũng đặt tên cho thị trường, ví dụ như,
thị trường đối với các khoản cho vay của các ngân hàng (Market For Bank
Loans).
3. Các nhà môi giới
10
Mai Thị Thanh Thuỷ

Khoá luận tốt nghiệp 2003
Hoạt động môi giới là loại hoạt động trung gian thuần tuý. Các nhà môi
giới chứng khoán hoạt động như các đại lý cho các nhà đầu tư trong việc mua,
bán chứng khoán. Chức năng của họ là hoà hợp yêu cầu của người mua và bán
chứng khoán, qua đó, họ nhận được các khoản hoa hồng môi giới. Cơ chế tiền
hoa hồng môi giới được chia làm 2 loại:
- Cơ chế tiền hoa hồng định sẵn hay cơ chế tiền hoa hồng tối thiểu.
Trong trường hợp này, chi phí môi giới do từng Sở giao dịch chứng
khoán quy định.
- Cơ chế tiền hoa hồng thoả thuận. Chi phí môi giới được hình thành dựa
trên sự thoả thuận giữa nhà môi giới và khách hàng trong từng giao
dịch.
Đặc trưng của các nhà môi giới chứng khoán là họ không nắm giữ chứng
khoán trong khi tiến hành các hoạt động dịch vụ nên không bị đặt trước bất kỳ
một rủi ro nào có liên quan đến chứng khoán.
Căn cứ vào đặc điểm hoạt động trên thị trường chứng khoán, hoạt động
môi giới được chia ra làm các loại sau:
Các nhà môi giới của hãng dịch vụ hoa hồng: Các nhà môi giới của hãng
dịch vụ hoa hồng hầu hết là các thành viên của Sở giao dịch chứng khoán. Họ
là cổ đông có quyền bỏ phiếu và là các uỷ viên quản trị (hoặc các bên góp vốn)
của một công ty môi giới. Hoạt động của họ là thực hiện các lệnh cho khách
hàng của công ty trong phòng giao dịch trên Sở nên họ được gọi là nhà môi
giới của hàng dịch vụ hoa hồng hay nhà môi giới trong phòng giao dịch.
Nhà môi giới độc lập (hay nhà môi giới hai đô la): Nhà môi giới độc lập là
một thành viên của Sở giao dịch chứng khoán. Anh ta không thuộc một công ty
môi giới nào mà tự thuê hoặc sở hữu chỗ để hoạt động trên Sở. Anh ta thực
hiện các lệnh giao dịch do bất kỳ một công ty môi giới nào thuê anh ta với mức
định phí trước đây là 2 đô la/100 cổ phiếu (trong cả hai trường hợp mua và
11
Mai Thị Thanh Thuỷ

Khoá luận tốt nghiệp 2003
bán). Hiện nay, mức định phí mà các nhà môi giới độc lập được trả thường lớn
hơn 2 đô la/100 cổ phiếu.
Nhà giao dịch chứng khoán có đăng ký: Một số người mua chỗ trên Sở
giao dịch chứng khoán chỉ nhằm mục đích mua và bán chứng khoán cho chính
họ. Những người đó được gọi là nhà giao dịch chứng khoán có đăng ký. Hiện
nay, do sự gia tăng các nguyên tắc, các quy định nên đặc quyền này bị hạn chế
nghiêm ngặt. Các nhà giao dịch chứng khoán có đăng ký chỉ được hoạt động
với tư cách là người tạo thị trường hoặc là một nhà môi giới hai đô la.
Nhà môi giới chuyên môn: Mỗi chứng khoán niêm yết tại Sở chỉ được
buôn bán trên một vị trí nhất định trong phòng giao dịch. Vị trí này được gọi là
khu. Trong mỗi khu có một số nhà môi giới được gọi là những nhà môi giới
chuyên môn. Mỗi nhà môi giới chuyên môn trong số này được Hội đồng quản
trị của Sở chứng khoán phân công vào một khu nhất định. Anh ta mua và bán
các chứng khoán đã được Hội đồng quản trị phân công.
III. PHÂN LOẠI THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
1. Căn cứ vào thời hạn luân chuyển của vốn
Căn cứ vào thời hạn luân chuyển của vốn thì thị trường tài chính có thể
phân chia thành thị trường tiền tệ và thị trường vốn.
Thị trường tiền tệ là thị trường tài chính trong đó các công cụ ngắn hạn
(có kỳ hạn dưới một năm) được mua bán, còn thị trường vốn là thị trường giao
dịch, mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn (gồm các công cụ vay nợ
dài hạn và cổ phiếu). Vốn ngắn hạn chủ yếu do các ngân hàng cung cấp, còn
thị trường chứng khoán là đặc trưng cơ bản của thị trường vốn.
Các hàng hoá trên thị trường tiền tệ có đặc điểm là thời gian đáo hạn ngắn
hạn nên có tính lỏng cao, độ rủi ro thấp và ổn định. Thị trường tiền tệ bao gồm:
thị trường liên ngân hàng, thị trường tín dụng và thị trường ngoại hối.
12
Mai Thị Thanh Thuỷ

Khoá luận tốt nghiệp 2003
2. Căn cứ vào tính chất của việc phát hành các công cụ tài
chính
Căn cứ vào tính chất của việc phát hành các công cụ tài chính thì thị
trường tài chính được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
Thị trường sơ cấp hay còn gọi là thị trường phát hành, là thị trường trong
đó các công cụ tài chính được mua bán lần đầu tiên. Do là thị trường phát hành
lần đầu nên thị trường này còn được gọi là thị trường cấp một.
Thị trường sơ cấp ít quen thuộc với công chúng đầu tư vì việc bán chứng
khoán tới những người mua đầu tiên được tiến hành theo những phương thức
và đặc thù riêng, thông thường chỉ giới hạn ở một số thành viên nhất định.
Thị trường thứ cấp là thị trường giao dịch các công cụ tài chính sau khi
chúng đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp còn được
gọi là thị trường cấp hai.
Hoạt động trên thị trường thứ cấp diễn ra trong phạm vi rộng hơn với tổng
mức lưu chuyển vốn lớn hơn nhiều so với thị trường sơ cấp. Tuy nhiên, việc
mua bán chứng khoán trên thị trường này không làm thay đổi nguồn vốn của tổ
chức phát hành mà thực chất chỉ là quá trình chuyển vốn từ chủ thể này sang
chủ thể khác hay nói cách khác trên thị trường thứ cấp diễn ra việc trao đổi,
mua bán các "quyền sở hữu công cụ tài chính".
Thị trường thứ cấp làm cho các công cụ tài chính có tính lỏng và tính sinh
lợi cao hơn và do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành trên thị trường
sơ cấp. Vì vậy, có thể nói là thị trường thứ cấp là động lực thúc đẩy sự phát
triển của thị trường sơ cấp.
Mối quan hệ giữa thị trường sơ cấp và thứ cấp là mối quan hệ nội tại, hữu
cơ và biện chứng. Thị trường sơ cấp đóng vai trò là động lực, thúc đẩy thị
trường sơ cấp phát triển.
13
Mai Thị Thanh Thuỷ

Khoá luận tốt nghiệp 2003
3. Căn cứ theo cách thức tổ chức thị trường
Căn cứ theo cách thức tổ chức thị trường thì thị trường tài chính được
phân thành thị trường sàn giao dịch (thị trường tập trung) và thị trường OTC
(thị trường vi tính hoá, thị trường phi tập trung).
Thị trường sàn giao dịch (exchange market) là một thị trường được tổ
chức tập trung có địa điểm giao dịch cố định như một toà nhà vì vậy thường
hay gọi là thị trường tập trung.
Thị trường OTC là một thị trường chứng khoán phi tổ chức. Các công ty
chứng khoán giao dịch mua bán chứng khoán trực tiếp tại quầy giao dịch của
các ngân hàng hoặc qua điện thoại, mạng lưới internet chứ không phải trực
tiếp gặp nhau trên sàn giao dịch hoặc thông qua trung gian, nếu họ là người bán
và người mua chứng khoán. Việc mua bán chứng khoán trên thị trường OTC
được tiến hành trên nhiều địa điểm khác nhau và danh mục chứng khoán cũng
rất đa dạng. Vì chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC không phải đăng
ký, do đó, các chứng khoán đã được đăng ký tại Sở giao dịch chứng khoán
cũng có thể được mua bán tại đây. Ở Mỹ vào năm 1939, một Hiệp hội các nhà
kinh doanh chứng khoán (National Association of Securities Dealer - NASD)
được thành lập và là tổ chức điều chỉnh hoạt động thị trường OTC.
4. Căn cứ vào phương thức huy động vốn của tổ chức phát
hành
Căn cứ vào phương thức huy động vốn của tổ chức phát hành, thị trường
tài chính được phân thành thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần.
Thị trường nợ là thị trường mà hàng hoá được mua bán tại đó là các công
cụ nợ. Thực chất của việc phát hành các công cụ nợ này là nhà phát hành đứng
ra đi vay theo phương thức có hoàn trả cả gốc và lãi. Người cho vay không
chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả hoạt động sử dụng vốn của người vay
và trong mọi trường hợp, nhà phát hành phải có trách nhiệm hoàn trả theo các
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét