hoà bình. Trong tình hình đó các nớc ASEAN đã bắt đầu phát triển quan hệ
song phơng với Việt Nam và hoan nghênh việc Việt Nam tham gia vào hợp
tác khu vực . Tuy nhiên, có những chính khách ASEAN hoài nghi về vai
trò của Việt Nam ở khu vực bao gồm trên nhiều mặt nh: đổi mới kinh tế, về
chính trị, đối nội và đối ngoại, cộng với những điều kiện khác biệt về văn
hoá, lịch sử, xã hội, đặc biệt là sự khác nhau về t tởng, cho nên ASEAN cha
kết nạp một hội viên mới nào có bản chất chính trị - xã hội khác ASEAN.
Bên cạnh đó quan điểm của các nớc ASEAN rất khác nhau về việc Việt
Nam gia nhập ASEAN. Malaixia và Inđônêxia ủng hộ việc Việt Nam gia
nhập ASEAN còn Xingapo và Thái Lan thì không nhất trí.
Những thiện chí, mong muốn tham gia ASEAN của Việt Nam ngày
càng thể hiện rõ nét. Tháng 1/ 1989, tại Hội Nghị các nhà báo Châu á -
Thái Bình Dơng ở Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch
tuyên bố: Việt Nam sẵn sàng gia nhập Hiệp hội các Đông Nam á (
1
)
Giai đoạn từ 1990 - 1995:
Là thời kỳ tiếp cận và bình thờng hoá quan hệ hai bên. Tại Đại hội
Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VII (1991) đã khẳng định chủ chơng
thực hiện đờng lối đối ngoại rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá, trong đó
nhấn mạnh việc phát triển quan hệ hữu nghị với các nớc Đông Nam á và
Châu á- Thái Bình Dơng, phấn đấu vì một Đông Nam á hoà bình, hữu
nghị và hợp tác. Đờng lối đó đã đợc cụ thể hoá trong Nghị quyết Hội Nghị
Trung Ương lần thứ III, khoá VII (tháng 6/1992) trong đó nói rõ: Việt
Nam tham gia Hiệp ớc Bali, tham gia các diễn đàn đối thoại với ASEAN,
tích cực nghiên cứu mở rộng quan hệ với ASEAN trong tơnglai . Sau khi
Việt Nam tuyên bố muốn tham gia Hiệp ớc Bali (tháng 2/1989), các nớc
ASEAN đều lên tiếng ủng hộ và ngày 28/1/1992, Hội Nghị cấp cao
1
. Phạm Đức Thành. Việt Nam ASEAN. NXB KHXH, 1996, tr 37.
5
ASEAN lần thứ IV tại Xingapo (1992) đã tuyên bố rõ điều đó. Vì vậy, tới
ngày 22/7/1992 tại Hôi Nghị lần thứ 25 Bộ trởng Ngoại Giao các nớc
ASEAN, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp ớc Bali và trở thành quan sát
viên của ASEAN. Việc Việt Nam trở thành quan sát viên của ASEAN đã
thể hiện sự cố gắng không mệt mỏi, với tinh thần khép lại quá khứ, hớng
tới tơng lai của các bên, nhằm xây dựng một Đông Nam á hoà bình, hữu
nghị, hợp tác để phát triển. Vào thời điểm này, nhận thức của các nớc
ASEAN về việc Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN cũng
biểu hiện ở những khía cạnh khác nhau, tuỳ theo lợi ích của mỗi quốc gia.
Inđônêxia, Malaixia cho rằng Việt Nam nói riêng và các nớc Đông Dơng
nói chung, tham gia ASEAN sẽ có tác dụng chủ yếu trong lĩnh vực hoà
bình, an ninh khu vực. Theo các nớc này, Việt Nam là một nớc lớn thứ hai
ở khu vực, là nớc láng giềng của Trung Quốc, có tiềm lực quốc phòng
mạnh đã từng chiến thắng nhiều nớc đến xâm lợc nếu trở thành thành
viên của ASEAN sẽ có lợi về an ninh khu vực và Việt Nam sẽ là nớc đệm
giữa các nớc trong khu vực và các nớc ngoài khu vực. Trong khi đó, Thái
Lan và Xingapo xem Việt Nam là cơ hội tốt để buôn bán và kinh doanh,
đầu t Đặc biệt ban lãnh đạo Thái Lan đã thay đổi đờng lối đối ngoại với
Việt Nam, chuyển từ đối đầu sang đối thoại. ở Đông Nam á từ sau chiến
tranh thế giới thứ II đến nay đã làm xuất hiện và tồn tại trên lãnh thổ Đông
Nam á hai quan điểm khác nhau về t tởng - chính trị, kinh tế - xã hội. Việc
buôn bán giữa các quốc gia trong khu vực sẽ giúp khắc phục tình trạng
trên. Nghĩa là qua buôn bán, hai nhóm nớc ASEAN và Đông Dơng sẽ hội
nhập vào nhau để chỉ còn một Đông Nam á thống nhất. Quan hệ song ph-
ơng giữa từng nớc ASEAN với Việt Nam không giống nhau, dẫn đến cách
nhìn Việt Nam cũng khác nhau. Trong khi đó, ASEAN cha phải là tổ chức
siêu quốc gia chỉ đạo các hội viên, mà chỉ là cơ quan phối hợp các hoạt
6
động của hội viên dung hoà quyền lợi dân tộc giữa các nớc hội viên với
nhau và quyền lợi dân tộc của từng nớc với quyền lợi tập thể của 6 nớc, bàn
bạc và quyết định công việc theo phơng pháp nhất trí.
Hiện nay, do tình hình an ninh, kinh tế khu vực Đông Nam á và thế
giới đã biến đổi, ASEAN đang phải đối phó với các vấn đề khác ở tầm vĩ
mô quan trọng hơn. Đó là tham gia xây dựng cơ cấu an ninh toàn khu vực
Châu á- Thái Bình Dơng thông qua phát triển, với mục đích đề cao vai trò
và uy tín của ASEAN. Ngoài ra, các nớc ASEAN mong muốn củng cố chỗ
đứng của mình ở APEC, tìm biện pháp để chống bảo hộ mậu dịch, chuẩn
bị xây dựng vành đai kinh tế và an ninh.
Thời gian qua, các nớc ASEAN cũng quan tâm ở đờng lối đối ngoại
của Việt Nam với các nớc lớn. Theo họ nếu Việt Nam cha có cách xử lý
thích hợp liên quan với các nớc lớn trong chính sách đối ngoại, tức là Việt
nam và ASEAN cha có cách nhìn nhận, cũng nh các biện pháp cụ thể
giống nhau đối với các nớc lớn, do vậy sự gia nhập ASEAN của Việt Nam
cha đợc chín muồi. Đối với các nớc lớn, các nớc ASEAN đặc biệt quan tâm
đến thái độ của Trung Quốc về việc Việt Nam gia nhập ASEAN.
Việc Việt Nam tham gia vào Hiệp ớc Bali thể hiện cam kết của Việt
Nam với những nguyên tắc đợc Việt Nam nêu ra trớc đó trong chính sách 4
điểm của mình năm 1976. Điều đó cũng làm tăng sự tin cậy của các nớc
ASEAN và các nớc ngoài khu vực đối với Việt Nam. Trong giai đoạn này,
quan hệ Việt Nam - ASEAN phát triển mạnh mẽ cả trong lĩnh vực song ph-
ơng và đa phơng. Thơng mạiViệt Nam- ASEAN tăng từ 989 triệu USD năm
1990 lên 2.441 triệu USD năm 1994.
Ngày 11/7.1993, ông Gô- Chốc- Tông, Thủ tớng nớc Cộng Hoà
Xingapo đã trả lời phỏng vấn ASEAN không và sẽ không trở thành một
khối quân sự. Thế nhng, những tham khảo giữa các quan chức quốc phòng
7
và quân sự sẽ tạo ra một môi trờng tin cậy lẫn nhau. Một điều tế nhị là
ASEAN không muốn trở thành một số nớc chống Trung Quốc. Do vậy,
ASEAN buộc phải thận trọng khi Việt Nam muốn gia nhập ASEAN.
Những ý kiến trên đây cho đến trớc Hội Nghị Ngoại trởng thờng kỳ
lần thứ 27 của ASEAN đợc xem là những quan điểm của các nớc ASEAN
cha nhất trí để Việt Nam gia nhập ASEAN.
Từ năm 1993, ASEAN lập cơ chế họp hiệp thơng giữa ASEAN và
Việt Nam nhân dịp Hội Nghị Ngoại trởng ASEAN. Tại Hội Nghị Ngoại tr-
ởng ASEAN lần thứ 26 tại Xingapo năm 1993, Việt Nam đã đợc mời tham
dự diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF: ASEAN Regional Forum) để
bàn về các vấn đè trính trị và an ninh khu vực châu á - Thái Bình Dơng.
Việt Nam đợc coi là trong những nớc sáng lập diễn đàn này. Ngoài ra,
ASEAN cũng còn mời Việt Nam tham gia các chơng trình và dự án hợp tác
ASEAN trên 5 lĩnh vực khoa học- công nghệ, môi trờng, y tế, văn hoá,
thông tin và du lịch.
Để tạo môi trờng thuận lợi hơn nữa cho sự tham gia của Việt Nam
vào quá trình hợp tác khu vực, nhất là vào ASEAN, từ tháng 2/1993, các vị
lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nớc Việt Nam đã tuyên bố Việt Nam
sẵn sàng tham gia ASEAN vào thời điểm thích hợp . Tuyên bố này đã đ-
ợc ASEAN, d luận khu vực và quốc tế đánh giá cao. Đáp lại các nớc
ASEAN tuyên bố muốn thấy Việt Nam sớm gia nhập ASEAN
Với những bớc phát triển ngày càng tích cực và thuận lợi trong quan
hệ song phơng và đa phơng giữa Việt Nam và ASEAN, tháng 4/1994 Chủ
Tịch nớc Lê Đức Anh trong chuyến thăm chính thức Inđônêxia đã tuyên
bố: cùng với sự hỗ trợ tích cực của ASEAN, Việt Nam đang xúc tiến các
công việc chuẩn bị thiết thực để sớm trở thành thành viên đầy đủ của
8
ASEAN (
1
). Điều này cho thấy thái độ tích cực và chân thành của Việt
Nam trong việc gia nhập ASEAN.
Trong thời gian này, các nớc thành viên ASEAN đều tuyên bố ủng
hộ hoàn toàn việc Việt Nam gia nhập ASEAN. Các nớc ASEAN đều khẳng
định sự khác nhau về chế độ chính trị không phải là trở ngại đối với Việt
Nam gia nhập ASEAN mà ngợc lại còn góp phần phát triển hơn nữa sự hợp
tác bên trong ASEAN.
Tại Hội nghị Bộ trởng Ngoại Giao ASEAN lần thứ 27 tại Băng Cốc
(từ ngày 22-23/7/1994), các nớc ASEAN nhất trí tuyên bố sẵn sàng công
nhận Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN.
Trải qua bao nhiêu giai đoạn phát triển trong quan hệ Việt Nam-
ASEAN, đến tháng 7/1994 việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã đạt đợc sự
nhất trí từ hai phía. Sau khi Hội Nghị AMM lần thứ 27, Việt Nam đã đợc
mời tham dự cuộc họp đầu tiên của diễn đàn ARF (ASEAN Regional
Forum: Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN) diễn ra ngay sau đó tại Băng
Cốc.
Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN chỉ còn
là thời gian và thủ tục, chứ không phải là vấn đề nguyên tắc và chính sách.
Thủ tớng Xingapo Gô - Chốc - Tông cho rằng có đợc ASEAN với toàn thể
10 nớc thành viên khu vực Đông Nam á là hãnh diện , ASEAN phải vơn
tới đội hình lớn để giành lấy sự kính trọng của thế giới (
1
). Trong buổi
gặp gỡ giữa Ngoại trởng Việt Nam với Ngoại trởng các nớc ASEAN ngày
23/7/1994, Ngoại trởng Xingapo là G. Gêyacuma phát biểu: việc Việt
Nam gia nhập ASEAN sẽ là một đóng góp quan trọng vào việc xây dựng
Đông Nam á hoà bình, hợp tác và phồn vinh (2).
1
. Phạm Đức Thành. Việt Nam - ASEAN. NXB KHXH, 1996, trang 38.
1
(1) , (2). Quan hệ kinh tế thơng mại Việt Nam - ASEAN. NXB Thống Kê 1997, trang 36, 37.
9
Năm 1994, quan hệ Việt Nam - ASEAN phát triển toàn diện. Trung
bình mỗi tháng có 2 cuộc viếng thăm cấp cao giữa hai bên. Cho đến nay có
khoảng 40 Hiệp định hợp tác song phơng và đa phơng đã đợc ký kết. Buôn
bán hai chiều 6 tháng đầu năm 1994 đạt trên 1 tỷ USD, trong đó cân bằng
xuất và nhập. Đầu t của ASEAN vào Việt Nam đến hết quý II năm 1994 là
1,433 tỷ USD. Tháng 9/1994 Thủ tớng Võ Văn Kiệt đã ký quyết định Vụ
ASEAN thuộc Bộ Ngoại Giao để phối hợp hoạt động giữa Việt Nam và
ASEAN. Ngày 25/4/1994, lần đầu tiên Việt Nam tham dự Hội Nghị Bộ tr-
ởng kinh tế ASEAN lần thứ 26 ở Chiềng - Mai (Thái Lan). Tại Hội Nghị
này, những vấn đề chuẩn bị cho Việt Nam gia nhập ASEAN đã đợc đề cập
một cách rộng rãi. Đồng chí Nguyễn Mạnh Cầm Uỷ viên Bộ Chính Trị
Đảng Cộng Sản Việt Nam, Bộ Trởng Bộ Ngoại Giao cho biết: chúng ta cần
phải tiếp tục tìm hiểu sâu hơn và làm quen hơn nữa với toàn bộ cơ cấu tổ
chức, các quy định, thủ tục và cơ chế hoạt động của ASEAN. Điều khá
quan trọng là chuẩn bị một đội ngũ đông đảo cấp cao, các ngành có năng
lực và có trình độ tiếng Anh đủ để tham gia công việc của các Uỷ ban, thực
hiện các dự án và hàng trăm cuộc họp mỗi năm của ASEAN.
Ngày 17/10/1994 Bộ trởng Ngoại Giao Nguyễn Mạnh Cầm gửi th
cho Ngoại trởng Brunây, Chủ tịch đơng nhiệm Uỷ Ban thờng trực ASEAN
(ASC) chính thức đặt vấn đề Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của
ASEAN. Các nớc ASEAN rất hoan nghênh quyết định của Việt Nam và
cùng Việt Nam gấp rút chuẩn bị các thủ tục cần thiết cho việc Việt Nam
gia nhập ASEAN.
Ngày 12/1/1995, Bộ trởng Ngoại Giao Brunây gửi th chính thức
thông báo lễ kết nạp Việt Nam vào ASEAN sẽ đợc tổ chức nhân dịp Hội
Nghị Bộ trởng Ngoại giao ASEAN lần 28 ở Brunây vào tháng 7/1995. Tại
Hội Nghị Bộ trởng Ngoại giao lần thứ 28, Việt Nam chính thức trở thành
thành viên thứ 7 của ASEAN.
10
Nh vậy, với việc Việt Nam gia nhập ASEAN, quan hệ Việt Nam-
ASEAN giờ đây đã bớc sang một chơng mới: quan hệ giữa các nớc thành
viên của một tổ chức khu vực ASEAN. Tuy nhiên, để nhanh chóng hoà
nhập thực sự vào khu vực, Việt Nam cần phải tham gia tích cực vào các
hoạt động của ASEAN cũng nh nâng cao sự hiểu biết của mình về khu vực
để việc hợp tác đem lại hiệu quả hơn.
II. ý nghĩa của việc Việt Nam gia nhập ASEAN:
Thực hiện đờng lối đối ngoại rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá,
chủ động tích cực hội nhập khu vực và quốc tế, tháng 7/1995 Việt Nam
chính thức gia nhập ASEAN, đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử
Đông Nam á. Với sự chủ động trong công tác hội nhập khu vực, ta đã phát
huy các lợi thế trong hợp tác với ASEAN, góp phần nâng cao vị thế của ta
trên trờng quốc tế. Hơn nữa, gia nhập ASEAN, đó chính là yếu tố thúc đầy
quá trình hoà nhập của Việt Nam vào thị trờng khu vực và thế giới. Nó có ý
nghĩa kinh tế - xã hội to lớn không chỉ đối với Việt Nam mà cả khu vực.
Việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã góp phần vào việc củng cố xu
thế hoà bình và hợp tác khu vực, tạo ra môi trờng quốc tế thuận lợi cho
công cuộc đổi mới, xây dựng kinh tế và bảo vệ đất nớc. Tham gia ASEAN
đã bổ trợ cho các mối quan hệ song phơng của ta với các nớc láng giềng
trong khu vực, tăng cờng hiểu biết và thông cảm lẫn nhau, góp phần cải
thiện cơ bản và thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hữu nghị hợp tác của nớc ta với
các nớc này. Mặt khác, trở thành thành viên của ASEAN, Việt Nam có cơ
hội thúc đẩy và tăng cờng hơn nữa mối quan hệ tay đôi với các nớc ngoài
ASEAN, các tổ chức quan trọng và khu vực khác, trên các lĩnh vực chính
trị - an ninh, kinh tế - xã hội; tham gia các Hiệp định hợp tác của ASEAN
với các bên đối thoại nh: EU, Canađa, ôtxtrâylia, cũng nh hàng trăm các
dự án hợp tác cụ thể đợc các bên đối thoại tài trợ.
11
Thông qua các hình thức hợp tác kinh tế, Việt Nam có thể tiếp cận
đợc những biện pháp quản lý trong một số lĩnh vực vốn là thế mạnh của
một số nớc ASEAN. Ngoài ra, Việt Nam có thể học đợc những kinh
nghiệm của từng nớc nh kinh nghiệm của Thái Lan, Philippin về nông
nghiệp và công nghiệp chế biến, nông sản; kinh nghiệm của Malaixia và
Xingapo về du lịch, dịch vụ, kinh nghiệm của Xingapo về tổ chức thị trờng
vốn, kinh nghiệm của Malaixia về chế biến và xuất khẩu khoáng sản
Nh vậy, việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã thể hiện một sự cam kết
mạnh mẽ đối với các mục đích và mục tiêu của ASEAN. Sự cam kết này đã
góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy hoà bình và ổn định ở Đông Nam
á.
Chơng II
Thực trạng quan hệ kinh tế Việt Nam - ASEAN
từ 1990 đến nay
I. Quan hệ thơng mại Việt Nam - ASEAN từ 1990 đến nay:
1.Ngoại thơng Việt Nam với ASEAN:
Sau khi tình hình thế giới có những biến chuyển lớn (sự sụp đổ của
Liên Xô và các nớc Đông Âu), với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà n-
ớc ta, thị trờng ngoại thơng Việt Nam đã có sự chuyển hớng cơ bản: từ thị
trờng truyền thống là Liên Xô và Đông Âu chuyển sang thị trờng Châu á -
Thái Bình Dơng và một số khu vực, quốc gia khác.
Tháng 7/1995 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của
ASEAN. Kể từ đó, các quan hệ hợp tác giữa nớc ta với các nớc thành viên
trong khu vực phát triển nhanh chóng.
Về phơng diện mậu dịch tính chung từ 1990 đến nay, buôn bán
giữa Việt Nam và các nớc ASEAN tăng với tốc độ trung bình là 26,8% và
12
hiện nay chiếm tới 32,4% (tức gần 1/3) toàn bộ kim ngạch ngoại thơng của
Việt Nam. Nếu so với năm 1994, trớc khi Việt Nam trở thành thành viên
của ASEAN, kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và ASEAN đã tăng gấp
2,54 lần về quy mô tốc độ giá trị, đạt tốc độ tăng trởng trung bình hàng
năm rất cao, gần 7,7%. Mức tăng trởng bình quân thời kỳ 1992 - 1995 là
26%, chiếm hơn 25% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Đến năm 1995 tổng giá trị buôn bán giữa Việt Nam và ASEAN
là 3,490 tỷ USD, chiếm 23,9% tổng kim ngạch buôn bán của Việt Nam với
thế giới, trong đó kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam với
ASEAN với ASEAN lần lợt là 1,12 và 2,378 tỷ USD (Bảng 1).
Bảng 1: Kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và ASEAN
Năm
Xuất
khẩu
(tỷ USD)
Nhập
khẩu
(tỷ USD)
Tổng kim
ngạch
buôn bán
(tỷUSD)
Tỷ lệ % so với tổng
kim ngạch của Việt
Nam với thế giới (%)
1995 1,112 2,378 3,490 23,9
1996 1,364 2,788 4,152 33,4
1997 1,911 3,166 5,077 25,5
1998 2,372 3,749 6,122 29,7
1999 2,463 3,288 5,751
Nguồn: Hội thảo 5 năm Việt Nam tham gia ASEAN, Học Viện Quan hệ Quốc tế
Hà Nội, 20/6/2000.
Đến cuối năm 1996, chỉ hơn một năm sau khi Việt Nam trở thành
thành viên chính thức của ASEAN thì tổng kim ngạch buôn bán giữa Việt
Nam và ASEAN đã tăng lên đến 4,152 tỷ USD tơng đơng với 33,4 % tổng
kim ngạch buôn bán của Việt Nam với thế giới, tăng gấp 1,2 lần về số tơng
đối và tăng xấp xỉ 0,7 tỷ USD về số tuyệt đối so với năm 1995. Riêng về
13
danh mục hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam vào thị trờng ASEAN hàng
năm cũng gia tăng nhanh chóng. Từ con số 0 đến nay chúng ta đã có tới
200 mặt hàng đợc đánh giá là có khả năng tạo đợc chỗ đứng trên thị trờng
quốc tế. Các mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất sang các nớc ASEAN nh
sau:
- Với Xingapo: Việt Nam thờng xuất các mặt hàng nh: thiếc, dầu thô, cao
su, hạt tiêu, tôm đông lạnh, cà phê, chè. Ngợc lại, Xingapo bán cho Việt
Nam: xăng, dầu, thép, phân bón hoá học, xăm lốp ô tô.
- Với Thái Lan: Việt Nam xuất khẩu: than, thiếc và mua của Thái Lan
các mặt hàng: phân bón hoá học, xe gắn máy, tân dợc.
- Với Malaixia: Việt Nam xuất khẩu: gạo, cao su, than và mua các mặt hàng của
Malaixia: phân bón hoá học, xăng dầu các loại.
- Với Philippin: Việt Nam có rất ít các hàng xuất khẩu, chủ yếu là gạo và
nhập khẩu: phân bón hoá học.
Nhìn chung các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam với các nớc
ASEAN chỉ có Xingapo là thị trờng tơng đối phong phú. Các thị trờng còn
lại rất đơn điệu về chủng loại mặt hàng.
1.1 Quan hệ thơng mại giữa Việt Nam với
từng nớc ASEAN.
a. Quan hệ thơng mại Việt Nam - Xingapo:
Xingapo là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam trong khối ASEAN.
Hai nớc đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức vào tháng 8/1973, sau
đó đã ký với nhau nhiều hiệp định thơng mại và kinh tế. Quan hệ buôn bán
giữa hai bên tăng nhanh từ năm 1990 đến nay. Giá trị xuất nhập khẩu giữa
hai nớc tăng từ 112 triệu USD năm 1989 lên tới 691 triệu USD năm 1990
và đạt cao nhất tới 3,517 triệu USD năm 1998, gấp 31,4 lần năm 1989
(Bảng 2).
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét