Mặc dù ra đời đã rất lâu nhưng đối tượng của BHXH còn có nhiều quan
điểm chưa thống nhất dẫn đến sự nhầm lẫn giữa đối tượng của BHXH với đối
tượng tham gia BHXH.
Như đã phân tích ở trên, Bảo hiểm xã hội là việc lập ra một nguồn ngân
quỹ nhằm đảm bảo bù đắp cho khoản thu nhập bị giảm hoặc mất đi của người
lao động do họ bị mất hoặc giảm khả năng lao động, bị mất việc làm, do ốm
đau bệnh tật, tai nạn, tuổi già vì vậy đối tượng của BHXH chính là phần thu
nhập bị mất đi hay giảm đi do sự rủi ro mà họ gặp phải trong cuộc sống làm
giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.
Đối tượng tham gia BHXH đó là người lao động và người sử dụng lao
động, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế của từng thời kỳ mà đối tượng
tham gia có thể là tất cả hoặc một bộ phận người lao động nhưng nhìn chung
thì khi kinh tế càng phát triển thì đối tượng tham gia càng được mở rộng
nhiều bộ phận người lao động khác.
b. Chức năng của BHXH.
- Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ
khi người lao động gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập.
Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất
và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người
tham gia BHXH. Những người tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH để
bù đắp cho những người lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá
trình này đã tiến hành phân phối lại thu nhập giữa người giàu - người nghèo,
người khoẻ mạnh - người ốm đau, người trẻ - người già Thực hiện chức
năng này BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội.
- Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng
cao năng suất lao động do cuộc sống cuả họ đã được đảm bảo, họ không còn
phải lo lắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ
đó khiến họ tập trung vào việc lao động sản xuất. Chức năng này biểu hiện
như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao
động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.
5
- Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa
người lao động với nhà nước góp phần đảm bảo an toàn cho xã hội. Do giữa
người lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền
lương, thời gian lao động, an toàn lao động BHXH ra đời góp phần điều hoà
mâu thuẫn giữa họ. Nhà nước thông qua việc chi BHXH ổn định đời sống cho
mọi người lao động, ổn định xã hội.
c. Tính chất của BHXH.
- Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. Như đã phân tích ở
trên rủi ro xây đến với cuộc sống của người lao động không hoàn toàn do
người lao động gánh chịu mà nó ảnh hưởng tới người sử dụng lao động, tới
toàn xã hội, nó gây ra mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao
động làm giảm năng suất lao động, mất ổn định xã hội. Buộc nhà nước phải
can thiệp thông qua BHXH vì vậy BHXH ra đời mang tính tất yếu khách
quan.
- BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh không đều theo không gian và và
thời gian. Điều này này thể hiện rõ trong nội dung cơ bản của BHXH, từ thời
điểm triển khai BHXH, người tham gia BHXH, mức đóng góp. Từ việc rủi ro
phát sinh theo không gian, thời gian đến mức trợ cấp cho từng chế độ, từng
đối tượng.
- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội đồng thời có tính dịch
vụ, tính kinh tế được thể hiện qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH sao
cho hợp lý, có hiệu quả nhất. Tính xã hội được thể hiện BHXH được sử dụng
nhằm bảo đảm ổn định cho những người lao động và gia đình họ. BHXH thể
hiện tính dịch vụ của nó thông qua hoạt động dịch vụ tài chính. (Thông qua
nguồn vốn nhàn rỗi).
3. Những quan điểm cơ bản về BHXH.
Hiện nay có 5 quan điểm về BHXH như sau:
- BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi
quốc gia, nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả
năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia.
6
- Mọi người lao động trong xã hội đều có quyền bình đẳng trước
BHXH không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.
- Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH đối
với người mà họ sử dụng.
+ Họ phải đóng góp vào quỹ BHXH 1 khoản tiền nhất định so với tổng
quỹ lương.
+ Họ phải thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với những người lao
động mà mình sử dụng.
- Các mức hưởng BHXH phụ thuộc vào 5 yếu tố sau:
+ Tình trạng sức khoẻ, thương tật thông qua giám định y khoa.
+ Ngành nghề công tác của người lao động
+ Thời gian công tác và tiền lương của người lao động
+ Mức đóng góp BHXH và thời gian đóng góp
+ Tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia.
+ Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước qua từng thời kỳ.
- Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp BHXH từ việc ban hành các
chính sách và tổ chức bộ máy thực hiện các chính sách BHXH.
II. QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI, NGUỒN HÌNH THÀNH VÀ SỬ DỤNG QUỸ
BHXH.
1. Nguồn hình thành quỹ BHXH.
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách
nhà nước.
Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:
- Người lao động đóng góp
- Người sử dụng đóng góp
- Nhà nước bù thiếu
- Các nguồn thu khác (từ các cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi
đầu tư vốn nhàn rỗi).
7
Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ
các nguồn nêu trên, sở dĩ như vậy bởi các lý do:
- Người lao động đóng góp một phần vào quỹ BHXH biểu hiện sự gánh
chịu trực tiếp rủi ro của chính mình mặt khác nó có ý nghĩa ràng buộc nghĩa
vụ và quyền lợi của họ một cách chặt chẽ.
- Người sử dụng lao động đóng góp một phần quỹ BHXH cho người
lao động một mặt sẽ tránh được những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất,
đào tạo lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mặt khác nó
giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầy những mâu
thuẫn, tranh chấp giữa chủ và thợ.
- Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cương vị
của người quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định
xã hội. Do mối quan hệ giữa chủ - thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên
không thể tự giải quyết được. Nhà nước buộc phải tham gia nhằm điều hoà
mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật.
Không chỉ có như vậy nhà nước còn hỗ trợ thêm vào quỹ BHXH giúp cho
hoạt động BHXH được ổn định.
Phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng
lao động hiện nay vẫn còn tồn tại hai quan điểm.
Quan điểm thứ nhất: là phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ
lương của cơ quan, doanh nghiệp.
Quan điểm thứ hai: Phải căn cứ vào thu nhập cơ bản của người lao
động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế để xác định mức đóng góp
BHXH.
Mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động
phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y
tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại do cả người lao động và người sử
dụng lao động đóng góp mỗi bên một phần như nhau.
Một số nước khác lại quy định, chính phủ bù thiếu, cho quỹ BHXH
hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH
2. Mục đích sử dụng quỹ BHXH.
8
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau:
- Chi trả vào trợ cấp cho các chế độ BHXH.
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp các ngành.
Trong công ước quốc tế Giơ nevơ số 102 tháng 6 năm 1952 BHXH bao
gồm một hệ thống 9 chế độ sau:
1. Chăm sóc y tế (thực chất là BHYT)
2. Trợ cấp ốm đau
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
5. Trợ cấp tuổi già
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp sinh đẻ
8. Trợ cấp khi tàn phế.
9. Trợ cấp cho người còn sống.
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu vào việc trợ cấp cho các chế độ trên.
Tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội mà các nước tham gia công ước
quốc tế Giơnevơ có tham gia đầy đủ các chế độ nêu trên hay không. Theo số
liệu thống kê năm 1996. Trên thế giới có 34 nước thực hiện đủ 9 chế độ, 34
nước còn thiếu chế độ 3, 62 nước chưa thực hiện chế độ 3 và 6. Tuy nhiên
trong đó có một số chế độ quan trọng mà khi xây dựng các chính sách BHXH
các quốc gia đều phải đề cập tới đó là: trợ cấp thai sản, trợ cấp ốm đau, trợ
cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp cho người
còn sống.
Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
+ Các chế độ được xây dựng theo luật pháp của mỗi nước.
+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia xẻ rủi ro, chia xẻ tài chính.
+ Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của
các bên tham gia BHXH.
+ Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.
9
+ Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyểt toán.
+ Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.
+ Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu
tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
+ Các chế độ BHXH cần phải được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết
sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội.
Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH quỹ BHXH còn được
chi cho quản lý như: tiền lương cho cán bộ công nhân viên làm việc trong hệ
thống BHXH. Khấu hao TSCĐ, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác.
Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lời nhằm bảo toàn và tăng
trưởng nguồn quỹ. Quá trình đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc an toàn, có lợi
nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế xã hội.
PHẦN II. QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.
1. Bảo hiểm xã hội Việt Nam trước NĐ 43CP - 1993.
Nhìn lại lịch sử BHXH Việt Nam, ở nước ta BHXH đã có từ trước cách
mạng tháng 8 - 1945. Khi đó để củng cố địa vị của mình thực dân Pháp đã
thực hiện một số chế độ BHXH cho những người Việt Nam làm việc trong bộ
máy cai trị của họ.
Sau cách mạng tháng 8, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời,
nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật về BHXH có thể nêu một
số văn bản sau:
Sắc lệnh 54/SL ngày 1/11/1945 quy định một số điều kiện cho công chức
nghỉ hưu.
Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 quy định việc cấp hưu bổng cho công
chức. Hai sắc lệnh này chỉ rõ để được hưởng hưu bổng, công chức nhà nước
phải đóng vào quỹ hưu đồng thời Nhà nước cũng phải có trách nhiệm đóng
thêm cho công chức trong quỹ hưu bổng.
10
Sắc lệnh 76/8L ngày 20/5/1950 Ngoài chế độ trợ cấp hưu trí đã quy định
cụ thể hơn chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động và chế độ tử tuất
đối với công chức. Có thể nói đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa nhất về
BHXH ở nước ta sau ngày độc lập và là cơ sở để ban hành điều lệ BHXH sau
này.
Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 quy
định các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, hưu trí, tử tuất đối với công nhân.
Tuy nhiên do hoàn cảnh chiến tranh, các sắc lệnh trên không được thực hiện
đầy đủ, nhưng có thể nói qua các văn bản này đã thể hiện sự quan tâm của
Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đối với người lao động. Về mặt văn bản pháp luật
thì đây là những văn bản đầu tiên về BHXH ở nước ta.
Sau giải phóng miền Bắc, trên cơ sở hiến pháp 1959 cùng với các chính
sách khác, Nhà nước đã ban hành điều lệ BHXH cho công nhân viên chức
kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961. Theo điều lệ này, trong hệ
thống BHXH ở nước ta có 6 chế độ đó là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất. Đây là văn bản
pháp luật hoàn chỉnh nhất ở nước ta về BHXH lúc bấy giờ. Hệ thống BHXH
có những đặc điểm sau đây:
+ Đối tượng được hưởng BHXH và CNVC Nhà nước và lực lượng vũ
trang.
+ Đối tượng hưởng BHXH không phải đóng phí BHXH. Chi BHXH chủ
yếu do ngân sách Nhà nước đảm bảo một số phần do sự nộp nghĩa vụ của các
doanh nghiệp. Vì vậy không tồn tại quỹ BHXH nằm ngoài ngân sách nhà
nước.
+ Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với
các chính sách xã hội khác.
+ Nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ Lao
động, công đoàn, Bộ Tài chính ).
Chính sách BHXH thực hiện trong thời kỳ đã phù hợp với cơ chế tập
trung bao cấp trong điều kiện đất nước có chiến tranh lúc bấy giờ và đã phát
huy được tác dụng. Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống quân
11
xâm lược, chính sách BHXH đã góp phần ổn định đời sống cho công nhân
viên chức, quân nhân và gia đình họ góp phần động viên sức người, sức của
cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược vào thống nhất
đất nước.
Chúng ta đã xét trợ cấp cho hàng triệu lượt người được hưởng các chính
sách BHXH dưới nhiều hình thức khác nhau và tất cả các chế độ BHXH khác
nhau. Từ đó giúp họ yên tâm lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động,
gắn bó những người lao động với cơ quan doanh nghiệp, với nhà nước .
BHXH Việt Nam còn góp phần giải phóng lực lượng lao động nữ giúp
chị em ổn định việc làm, nuôi dạy con cái, phát huy sáng tạo trong sản xuất
và kinh doanh.
Chính sách BHXH của Việt Nam thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội
góp phần thực hiện một loạt những công ước quốc tế đối với người lao động.
Tuy vậy trong thơi gian này BHXH Việt Nam còn một số điểm tồn tại
rất lớn đó là:
- Nhận thức về BHXH có những lúc những nơi là thiếu đúng đắn chưa
thấy hết được vai trò của nó.
- Chính sách này được tổ chức quản lý và thực hiện ở các cấp các ngành
thiếu sự phối hợp, chồng chéo, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát đã dẫn đến nhiều
hiện tượng tiêu cực.
- Nội dung các chế độ còn nhiều vấn đề bất cập không phù hợp với thực
tế.
- Quỹ BHXH trên thực tế là không có vì vậy BHXH là gánh nặng cho
ngân sách nhà nước.
Khi nước ta tiến hành cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng XHCN thì chính sách BHXH theo cơ chế này không còn phù
hợp đòi hỏi phải có sự đổi mới BHXH Việt Nam cho phù hợp với tình hình
mới.
2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam sau Nghị định 43/CP/1993.
12
Hiến pháp 1992 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ”Nhà
nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công
ăn lương, khuyến khích phát triển các loại hình BHXH khác đối với người lao
động”.
Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII chỉ rõ cần
đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh
tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất
tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách nhà nước Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ
VIII nêu lên “mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành
phần kinh tế”.
Trên cơ sở của các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước, chúng ta đã
tiến hành đổi mới chính sách BHXH cho phù hợp với cơ chế thị trường, được
đánh dấu bằng một văn bản quan trọng đó là Nghị định 43/CP ra đời ngày
22/6/1993. Nghị định 43/CP quy định tạm thời về chế độ BHXH mà theo đó,
đối tượng tham gia BHXH là mọi người lao động thuộc các thành phần kinh
tế. Người tham gia BHXH phải đóng phí bảo hiểm, người sử dụng lao động
cũng phải đóng phí BHXH cho người lao động mfa mình sử dụng, thuê
mướn.
Trên cơ sở những kinh nghiệm thực hiện BHXH theo Nghị định 43/CP
và cụ thể hoá Bộ luật lao động được quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 có
hiệu lực từ ngày 1/1/1995, chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH kèm theo
Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995. Điều lệ BHXH mới được coi là một cuộc
cách mạng về BHXH ở nước ta, đã làm thay đổi toàn diện chất lượng trong
BHXH.
Sự thay đổi được thể hiện ở một số điểm sau đây:
- Đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng hơn so với trước đây. Đối
tượng tham gia BHXH không chỉ bao gồm công nhân viên chức nhà nước.
Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước, các tổ chức kinh
doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn
thể,lực lượng vũ trang. Những người giữ chức vụ dân cử, dân bầu làm việc
trong các cơ quan hành chính sự nghiệp: mà còn mở rộng cho người lao
13
động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao động
trở lên.
- Các chế độ Bảo hiểm xã hội cũng có sự thay đổi theo Điều 2 của Điều
lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ
cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. So với trước đây chế độ trợ cấp
mất sức lao động đã bị loại bỏ do không phù hợp, khó quản lý và dễ bị lợi
dụng.
- Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập nằm ngoài ngân sách nhà
nước. Được hình thành trên cơ sở đóng góp của người lao động, người sử
dụng sự hỗ trợ của nhà nước và từ các nguồn khác. Như vậy các quan hệ tài
chính trong BHXH được thể hiện rõ ràng. Các nguồn thu và các khoản chi
BHXH phải được cân đối một cách tổng thể trong BHXH, sự đóng góp
BHXH của các bên còn thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của họ
trong BHXH.
- Về mặt tổ chức quản lý chính sách: Đã giảm dần sự đan xen các chính
sách BHXH với các chính sách xã hội khác góp phần tạo ra sự bình đẳng giữa
các nhóm lao động, bình đẳng giữa làm và hưởng.
- Các chức năng quản lý Nhà nước về BHXH đã tách khỏi các chức năng
hoạt động sự nghiệp BHXH. Bộ Lao động thương binh và xã hội được chính
sách giao trách nhiệm quản lý Nhà nước BHXH. Hoạt động sự nghiệp
BHXH là do cơ quan BHXH Việt Nam đảm nhận sự phân định chức năng và
thống nhất quản lý này đã làm giảm bớt sự quản lý chồng chéo trước đây
nâng cao hiệu quả hoạt động của BHXH.
Với việc thực hiện theo cơ chế mới BHXH Việt Nam đã góp phần tích
cực vào việc lành mạnh hoá thị trường lao động ở nước ta; góp phần thực
hiện bình đẳng xã hôi và ổn định xã hội.
Tuy nhiên do BHXH ở nước ta không phải là xây dựng mới hoàn toàn
mà có sự kế thừa nên còn nhiều vấn đề tồn tại, cần phải điều chỉnh và hoàn
thiện cho phù hợp với tình hình mới.
II. THỰC TRẠNG QUỸ BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét