Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Lạm phát và các biện pháp khắc phục nhằm giảm lạm phát trong thời kỳ kinh tế mở và phát triển một cách đồng bộ ở Việt Nam

kỳ Sự tăng lên của giá do có nhiều nguyên nhân hoặc do các yếu tố chủ
quan của các cấp quản lý kinh tế hoặc do những đIều kiện chính trị,xã
hội,thiên tai gây ra.Có thể giảI thích quy về những cách đây:
1.Theo thuyết tiền tệ lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa mức cung
tiền .
2.Theo trờng pháI Keynes lạm phát có thể xảy ra là do d cầu về hàng hoá
trong nền kinh tế.
3.Theo thuyết chi phí đẩy lạm phát xảy ra do tăng chi phí sản xuất.Tuy
nhiên đây cũng chỉ là những luận đIểm lý thuyết mang tính tơng đối còn trong
thực tế lạm phát xảy ra thờng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố ở những
khía cạnh khác nhau của nền kinh tế.
III.Cách đo tính tỉ lệ lạm phát
Nh đã nói ở trên,tỉ lệ lạm ơhát chính là thớc đo mức tăng trởng và phát triển
kinh tế của một quốc gia.Từ việc đánh giá tỉ lệ lạm phát mà ngời ta có thể thấy
đợc tình trạng thất nghiệp và sự biến động của hệ thống tiền tệ để từ đó đặt ra
những phơng hớng tàI chính thích hợp nhất.Hơn nữa chính nó còn là chỉ tiêu
đánh giá trình độ phát triển văn hoá xã hội,cơ sở hạ tầng.Nh vậy thì ta hiểu tỉ
lệ lạm phát là gì.Thực chất quy mô và sự biến động của nó phảI phản ánh quy
mô và xu hớng của lạm phát.
Ta có công thức tính tỉ lệ lạm phát nh sau:

GP = [ IP ] .100
IP-1
Trong đó : GP = Tỉ lệ lạm phát (%)
IP = Chỉ số giá cả của thời kỳ nghiên cứu
5
IP-1 = Chỉ số giá cả thời kỳ trớc đó .
Tuỳ theo mức độ của tỉ lệ lạm phát mà ngời ta chia lạm phát ra ba loạI:
- Lạm phát vừa phảI,còn gọi là lạm phát 1 con số có tỉ lệ lạm phát dới
10%một năm.Lạm phát ở mức độ này không gây ra những tác động đáng
kể đối với nền kinh tế.
- Lạm phát phi mã khi mức tăng trởng tơng đối nhanh với tỉ lệ 2hoặc 3 con
số một năm(dới 20%).LoạI này khi phát triển chín mùi sẽ gây ra những
biến dạng kinh tế nghiêm trọng.
- Siêu lạm phát khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao,vợt xa lạm
phát phi mã(>20%).Siêu lạm phát thờng xảy ra những thiệt hạI nghiêm
trọng và sâu sắc.Tuy nhiên chúng cũng ít khi xảy ra.
PHầN II: Một số phơng pháp nhằm ổn định giá cả
hay tiền tệ Kiềm chế lạm phát
6
I.Diễn biến và ảnh hởng của lạm phát trong nền kinh tế thị trờng.
Lạm phát ngày nay đã trở thành một căn bệnh kinh niên,môt hiện tợng phổ
biến đối với nền kinh tế thị trờng,tuỳ từng mức lạm phát mà có sự tác động tới
sự tăng trởng kinh tế của mỗi quốc gia.Tuy nhiên không phảI lúc nào nó cũng
là một mối tai hoạ đối với xã hội,ở mức độ thích hợp,nó kích thích việc đầu t-
,mở rộng sản xuất.Lạm phát tạo niềm lạc quan và khuyến khích các khoản đầu
t lớn do làm tăng lợi nhuận và nh thế lúc này kéo theo sự tăng trởng của năng
lực sản xuất.ởđây lạm phát không phảI là cáI giá của s tăng trởng mà là động
lực thúc đẩy sự phát triển đó.Tuy nhiên cũng phảI thừa nhận rằng nhìn chung
lạm phát thờng gây nhiều tác hạI đối với nền kinh tế.Chẳng hạn nh ở Đức
những năm 1919-1923 lạm phát đã làm giá cả tăng lên hàng triệu lần đảy mức
sống của ngời dân giảm sút nghiêm trọng cha từng thấy.Đây là bằng chứng
đIển hình nói lên hậu quả của lạm phát tới xã hội.Lạm phát kéo dàI trở thành
nguy hiểm đối với nền kinh tế,phá họi sự tăng trởng và phát triển của các quốc
gia,viêc khắc phục hậu quả của nó đòi hỏi tốn nhiều nguồn lực.Chẳng hạn nh
nớc Mỹ,một cờng quốc của thế giới để giảm lạm phát đI 1% ngân sách liên
bang đã phảI tiêu tốn tới hàng trăm tỷ USD.Với một cơ cấu giá gia tăng không
đều giữa các mặt hàng và sự bất đồng giữa tăng giá và tăng lơng(thờng giá cả
hàng hoá bao giờ cũng tăng nhanh hơn lơng)đIều đó tạo ra sự bất hợp lý trong
cơ cấu giá trênthị trờng.Chính sự mất cân đối trên là tiền đề trự tiếp cho những
xáo trộn mang tính toàn diện trong nền kinh tế.Hệ quả trực tiếp của lạm phát là
đánh vào cuộc sống của ngời dân bởi việc phân bố thu nhạp bị rối loạn.Tring
cin kạm ohát xảy ra tình trạng lẻ giàu càng giàu còn kẻ nghèo càng
nghèothêm.Lạm phátlúc này ngẫu nhiên trở thành lực lợng có uy thế trong việc
phân bố lạI của cảI tàI sản quốc gia giữa các tầng lớp ngời trong xã hội.Những
chủ nhân của những món thu nhập nh tiền,vàng,trợ cấp lãI cổ phần hoặc tiền
cho thuê nhận thấy rõ ràng cuộc sống của họ đang suy giảm dần vì với một
7
mặt hàng nhất định giờ đây họ phảI trả một lợng tiền nhiều hơn do chỉ số giá
cảtăng trong đIều kiện khả năng thu nhập danh nghĩa của họ thờng chậm hơn
giá cả.Sự xuống dốc của cuộc sống càng trở nên nghiêm trọng đối với những
ngời làm công ăn lơng.Lạm phát làm cho sức mua của đồng tiền nói chung
trong đó có tiền lơng có khuynh hớng ngày giảm mặc dù chúng có đợc đIều
chỉnh.Nhu cầu tăng lơng để bảo đảm cuộc sống trở nên cấp bách,ngời thuê lao
động-nhà t bản lúc này buộc phảI tăng lơng và để chi phí ổn định với những
biến đổi họ cần phảI giảm bớt nhu cầu thuê lao động khiến cho một số ngời
gia nhập đội quânthất nghiệp ngày càng đông.Trong tình trạng này do tác động
của lạm phát ,giá cả tăng và lãI suất sẽ không thay đổi sẽ làm tiêu tan khoản
lợi tức của những ngời có tiền gửi.Nh vậy đối tợng vay nợ thờng là các doanh
nhân và lợi nhuận của họ thu đợc ngẫu nhiên đã tăng lên trên sự thiệt hạI của
các nhà t bản tàI chính.Lạm phát làm cho mặt bằng giá cả luôn có sức ép liên
tục.ĐIều này khuyến khích nạn đầu cơ hàng hoá,vàng,ngoạI tệ tăng lên đẩy thị
trờng vào tình trạng khan hiếm giả tạo và làm giá cả càng có nguy cơ tăng vọt
tạo thành vòng xoáy giá cả và cung cầu kéo dài.Đây là hệ quả trực tiếp thứ hai
của lạm phát.Việc đầu t trở nên hấp dẫn những triển vọng lợi nhuận do giá cả
tăng cao mở ra.Tuy nhiên thông thờng do tình hình biến đổi thất thờng của
đồng tiền việc đầu t vào đó ít đợc hớng vào các dự án lâu dàI mà thờng nhằm
mục tiêu vào các mặt hàng thu lợi nhanh ở các mặt hàng ddang lên giá rất
cao,nơI mà viẹc đầu cơ thờng trở nên nguy hiểm.Nh vậy lạm phát đã làm sai
lệch những lợi ích kinh tế của những dự án phát triển nhất là đối với dàI
hạn,khoản đầu t lúc này có xu hớng thiên về tự tàI trợ hơn là hớng về đầu t cho
các dự án phát triển.Lạm phát nuôI dỡng sự đầu cơ rồi nó phá hoạI mặt bằng
cung cầu hàng hoá dịch vụ,nhu cầu thì nhiều mà hàng hoá thì khan hiếm.Sự
mất cân đối kinh tế ngày càng trở nên trầm trọng và nó kéo theo những vấn đề
nghiênm trọng về tiền tệ.ở đây có tính hiệu quả và cơ cấu của hệ thóng lu
thông tiền tệ-tín dụng-ngân hàng thờng bị suy giảm mạnh,nhiều khi trở nên
8
hỗn loạn làm cính sách kinh tế vĩ mô gặp nhiều khó khăn,trở ngạI.Có thể nói
lạm phát và tiền tệ thờng đI đôI với nhau,lạm phát lúc này nh một thứ
thuếđánh vào thu nhập và các khoản vốn nhàn rỗi chia cho những kẻ đục n-
ớc béo cò lợi dụng viêc tăng giá để đầu cơ làm ngành sản xuất thiếu vốn,gặp
trở ngạI trong hoạt động.Tiền trong lạm phát thờng mất giá khiến cho niềm tin
ở giá trị của nó bị mất đI,lúc này các hộ gia đình và các tổ chức kinh doanh có
nhu cầu giữ vàng và ngoạI tệ,họ ra sức chuyển tiền mặt thành các tàI sản vì
chúng thờng ổn định hơn ở thị trờng nội địa.ĐIều đó xảy ra làm cán cân thơng
mạI bị hẫng hụt,vàng và ngoạI tệ có xu hớng ngày càng trở nên thiếu và giá
tăng cao so với thời lỳ tiền lạm phát.Tiền mặt thì bị thả nổi trên thị trờng.Các
cuộc săn tìm này làm chotốc độ lu thông tiền tệ tăng nhanh kéo theo sự biến
đổi của mức cung tiền danh nghĩa.ĐIều này có nghĩa là lạm phát gây ra những
khó khăn phiền toáI cho cơ chế quản lý kinh tế của nhà nớc cũng nh hệ thống
ngân hàng.Trong nhiều trờng hợp thậm cí hệ thống ngân hàng không có đủ sức
mạnh để đIều tiết cung cầu tiền danh nghĩa,do đó chỉ số giá cả vẫn cứ tăng mà
không có biện pháp nào để kiểm soát.Vì vậy,khi các biện pháp của các chính
sách kinh tế kém hiệu quả thì giá cả càng có sức ép tăng lên,lạm phát trở nên
nghiêm trọng hơn.Cũng nh mọi yếu tố làm lung lay và đặt vấn đề công bằng
trong thu nhập ,bên cạnh những tác động tới nền kinh tế còn mang tầm vóc
chính trị.Thông thờng khi lạm phát nổ ra,thu nhập của ngời dân nói chung có
xu hớng giảm đI,chỉ có một bộ phận trở nên giàu có hơn trong lạm phát.Trớc
tình hình cuộc sống bị xuống cấp,bất công, giữa những ngời khác nhau trong
xã hội bùng lên trở thành cuộc đấu tranh để duy trì hoặc tăng thêm thu nhập
thực tế của mình.Đó là cuộc đấu tranh giữa những ngời nghèo và ngời
giàu,giữa những ngời làm công ăn lơng với ngời chủ,giữa t bản tàI chính và t
bản công nghiệp.Các quan hệ xã hội thờng bị đầu độc bởi nạn lạm phát,mâu
thuẫn trở nên gay gắt thành xung đột và trong bầu không khí bất ổn tất yếu sẽ
nảy sinh những căng thẳng chính trị.Từ chỗ mất lòng tin với cơ chế kinh tế họ
9
đòi hỏi phảI cảI thiện tình hình đó bằng cính sách mới đủ để hoà giảI những
bất đồng.Do vậy có sự tác động tơng hỗ giữa lạm phát với các vấn đề chính trị-
xã hội.Cần thấy rằng mâu thuẫn trong xã hội nào cũng có nhng trong khủng
hoảng lạm phát chúng đợc nhân đến mức tồi tệ hơn là ảnh hởng gián tiếp tới sự
ổn định chính trị-xã hội.Chính vì vậy trớc nguy cơ do lạm phát gây r ađối với
nền kinh tế quốc gia cần có những chính sách chống lạm phát từ xa có van an
toàn khắc phục trạng tháI căng thẳng tpoàn diện xã hội.Nếu không đảm
bảo thực hiện đợc đIều này thì cơ chế quản lý chung cũng nh cơ chế quản lý
của các ngân hàng đối với vấn đề tàI chính-tiền tệ không thể có hiệu quả đợc
dẫn đến nền kinh tế bị đẩy đến bờ vực của sự khủng hoảng.
II. Một số phơng pháp nhằm ổn định giá cả hay tiền tệ.
Trớc những tác hạI của lạm phát và yêu cầu chống lạm phát cao ở nhiều n-
ớc,các nhà kinh tế lao vào nghiên cứu , phân tích vấn đề này với mục đích lý
giảI đợc những nguyên nhân gây ra và duy trì lạm phát , dựa vào tiền đề lý
luận này các quóc gia có cáI nhìn đúng đắn ,kháI quát về lạm phát giúp cho
việc hoạch định các biện pháp phòng chống đúng hớng hơn.Việc đẩy lùi lạm
phát ở mức độ có thể duy trì đòi hỏi các quốc gia , các tổ chức chính phủ phảI
sử dụng các biện pháp hữu hiệu , ngắn hạn hay dàI hạn nh:Chính sách tàI khoá
, chính sách tiền tệ chính sách giá cả và chính sách thu nhập .Tuỳ theo phơng
pháp nghiên cứu của các nhà kinh tế đa ra theo nhiều cách lý giảI khác nhau ,
chủ yếu là về bốn lý luận cơ bản nh: lạm phát theo thuyết tiền tệ , lạm phát
theo nhu cầu , lạm phát do chi phí đẩy , lạm phát dự kiến.Tuy nhiên đây cũng
là những luận đIểm lý thuyết mang tính tơng đối có phần sai lệch so với lạm
phát xảy ra trong thực tế , vì vậy khi tìm hiểu đòi hỏi mỗi quốc gia cần đặt
những vấn đề này trong đIều kiện hoàn cảnh của riêng mình từ đó có những
biện pháp sát với thực tế nhằm kiểm soát có hiệu quả lạm phát.
Việc sử dụng chính sách tàI khóa chính là việc sử dụng thuế khoá và chỉ tiêu
công cộng để đIều tiết mức giá chung của nền kinh tế.Khi nền kinh tế đang
10
trong giai đoạn phát đạt quá mức tức là nền kinh tế ở quá xa bên phảI mức sản
lợng tiềm năng và lạm phát tăng lên , chính phủ đIều tiết bằng cách có thể
giảm chi tiêu và tăng thuế , nhờ đó mức chi tiêu chung giảm đI , sản lợng tăng
theo và lạm phát sẽ chững lạI.Theo KEYNES ,chính sách tàI khoá có thể coi la
fphơng thuốc hữu hiệu để ổn định nền kinh tees.Tuy nhiên trong thực tếchính
sách tàI khoá không đủ sức mạnh đến nh vậy , đặc biệt trong nền kinh tế hiện
đạI , chả thế mà trong các nền kinh tế thị trờng luôn không ổn định , chu kì
kinh doanh cha đợc khắc phục hoàn toàn.Việc áp dụng chính sách tàI khoá
trong thực tiễn đòi hỏi cần thiết phảI có một cơ chế đặc biệt ,đó là cơ chế ổn
định tự động.
Ngày nay trong mô hình kinh tế hiện đạI vấn đề tiền tệ đang là một trong
những vấn đề nổi cộm.Tiền vừa là động lực vừa là mục tiêu của các chủ thể
kinh tế , tiền trở nên không thể thiếu đợc trong lu thông , tiền là thứ dầu để bôI
trơn các bộ phận làm cho vòng luân chuyển kinh tế vĩ mô diễn ra một cách
hoàn hảo theo đúng qui luật thị trờng.Nh vậy vấn đề tiền nói chung có ảnh h-
ởng lớn đối với trạng tháI hoạt động của nền kinh tế.Lịch sử cũng đã cho thấy
mối quan hệ chặt chẽ giữa lạm phát và tiền tệ.Lạm phát đợc coi là một hiện t-
ợng tiền tệ , biểu hiện của nó là sự gia tăng của mức giá trung bình và bất cứ
một biến cố tiêu cực nào của hệ thống tiền tệ cũng có thể khuyếch trơng tỉ lệ
lạm phát.Vấn đề mức cung tiềnvà vai trò của ngân hàng cũng đợc chú trọng
đặc biệt khi nghiên cứu lạm phát thực tế cho thấy bất kỳ một cuộc khủng
hoảng lạm phát nào xảy ra đều gắn liền với sự gia tăng khối lợng tiền tệ và
việc giảm mức cung tiền sẽ làm giảm tỷ lệ lạm phát.Mức cung tiền tăng có thể
đợc tiến hành bằng nhiều cách nh:tăng lợng tiền cơ sở ,Ngân hàng TW phát
hành thêm tiền hoặc hạ lãI xuất chiết khấu, hay các ngân hàng thơng mạI tăng
khối lợng tín dụng ,đây là phơng pháp phổ biến mà nhiều nớc thờng áp dụng
trong chính sách tiền tệ.Một mặt tăng tiền tạo ra lợng tiền nhiều hơn so với chỉ
tiêu và đầu t kích thích việc mở rộng sản xuất tăng sản lợng.ĐIều này đặc biệt
11
có ý nghĩa ngắn hạn trong tình hình thâm hụt ngân sách và sản lợng còn cha
đạt sản lợng tiềm năng.Việc tăng mứ cung tiền vợt quá mức cầu tiền sẽ khiến
cho lạm phát gia tăng .Với lợng tiền danh nghĩa trong tay nhiều hơn lợng tiền
mà ngời tiêu dùng sẵn sàng trả một số tièen lớn hơn trớc cho việc chi tiêu mua
sắm các hàng hoá tạo nên sức ép về giá cả.Lúc này lạm phát xuất hiện trên thị
trờng và việc mức cung tiền tăng là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy lạm phát
leo thang vợt quá chỉ giới an toàn cho phép đối với nền kinh tế , đặc biệt là lạm
phát tăng lên khi in thêm tiền để trang trảI hoặc chi tiêu. Ví dụ năm 1967-1968
chính phủ Mỹ đã tăng tiền để trang trảI cho những chi phí leo thang chiến tanh
ở Việt Nam và hậu quả lạm phát tăng từ 3%năm 1967 lên 6% năm 1970.Nh ở
Việt Nam năm 1990-1991 do hậu quả của việc phát hành tiền đã làm cho tỷ lệ
lạm phát gia tăng , cụ thể là giá cả hàng hoá tăng lên 4,8%/tháng gây nê xáo
trộn trong đời sống xã hội.Nh vậy mức cung tiền tăng dới bất kỳ hình thức nào
cũng tạo ra sự gia tăng lạm phát.Tuy nhiên mức cung tiền không phảI là
nguyên nhân gây nên lạm phát.Việc lạm phát xảy ra còn bởi do sự tăng giá của
yếu tố đầu vào của sản xuất tạm gọi làlạm phát do chi phí đẩyhoặc do cơn sốt
cầu về hàng hoá , dịch vụ vuợt quá khả năng cung ứng của xã hội gọi là lạm
phát nhu cầu.Các nguyên nhân trên ở khía cạnh này hay khía cạnh khác tuỳ
từng thời đIểm diễn biến của thị trờng mà tác động của lạm phát có nguy cơ
gia tăng vợt quá khỏi tầm kiểm soát của nhà nớc.Hiện tợng lạm phát do cầu có
mối quan hệ mật thiết tới sự gia tăng khối lợng tín dụng và tiền mặt lu
hàn.Những khoản tiền tăng thêm này sẽ kích thích ngời giữ tiền sử dụng những
số d thừa vào việc mua tàI sản hiện thực nh hàng hoá , bất động sản làm cho
giá trị của chúng bị đẩy lên.Tình trạng này làm tiền mất giá và thực sự làm cho
những ngời có tiền cảm thấy không yên tâm khi cầm tiền mặt họ dùng tiền để
mua hàng hoá vật phẩm và nh thế tổng cầu bị sốt mạnh.Nạn đầu cơ và tiền mất
giá đẩy thị trờng trở nên khan hiếm , nhu cầu vợt quá khả năng đáp có giới hạn
của mức cung hàng hoá.Vì vậy cơ chế đIều chỉnh của thị trờng là cần phảI
12
tăng giá để giảm sức ép lên mức cung hàng hoá .Từ đó lý thuyết này gợi mở ra
rằng để chống lạm phát cần phảI tác động vào các chính sách nh thuế , chỉ tiêu
của chính phủ , lãI xuất , tiền lơng để đa tổng cầu về vị trí ban đầu.
Đối với lạm phát chi phí đẩy , hình thức lạm phát này phát sinh từ phía cung
chứ không phảI từ phía cầu .Chi phí sản xuất ở đây đột ngột tăng cao hơn dẫn
đến giá thành sản phẩm cao hơn khi đợc chuyển tơí tay ngời tiêu dùng.Một
trong những nhân tố làm tăng chi phí sản xuất là tiền lơng.Tiền lơng luôn có
xu hớng tăng do nhu cầu của ngời lao động trong đời sống hàng ngày.Nếu vì
một lý do nào đó trong nền sản xuất nh : áp lực đấu tranh , do tình trạng thấp
kém của nền sản xuất mà năng xuất lao động tăng chậm hơn so với mức tăng
của tiền công dẫn đến tình trạng chi phí sẽ tăng , buộc ngời chủ phảI chuyển
khoản chi phí này tới ngời tiêu dùng , giảm bớt mức sản xuất.Lúc này giá cả ở
mức cao hơn trớc , lam phát xuất hiện.Và khi giá tăng ngời lao động lạI có nhu
cầu tăng tiền lơng danh nghĩa để bảo đảm táI sản xuất trong đIều kiện trợt giá ,
đIều đó tạo thành vòng xoáy lơng giá , đẩy lạm phát tới mức độ nguy hiểm đối
với nền kinh tế của một nớc.Hiện tợng lạm phát này xảy ra ngay cả khi sản l-
ợng cha đạt mức tiềm năng , vừa có lạm phát vừa làm suy giảm sản lợng , gia
tăng đội quân thất nghiệp , dẫn tới tình trạng đình trệ , phá hoạI cơ cấu kinh
tế.Bởi vậy lạm phát có thể ảnh hởng gần nh tức thời tới nền kinh tế và có chiều
hớng ra tăng rất nhanh trong một thời gian ngắn. Vấn đề này xảy ra với cả
những nớc phát triển.Để giảI quyết hiện tợng lạm phát này nhà nớc cần có
khoản chi từ ngân sách để thực hiện việc chỉ đạo giá đối với các vật t thiết yếu
cho sản xuất và thực hiện khống chế cầu qua kênh ngân hàng nhà nớc .
Hiện tợng lạm phát nói chung xảy ra thờng bất ngờ và biến động rất lớn
.Tuy nhiên trên thị trờng luôn có tỷ lệ lạm phát vừa phảI và có xu hớng duy trì
ổn định trong một thời gian dàI , đó là lạm phát dự kiến.Lạm phát dự kiến có
nguyên nhân sâu xa là do chính sách chủ quan của các đơn vị quản lý kinh tế
để duy trì sản lợng ở mức tiềm năng của xã hội .Nh vậy sự đIều chỉnh lãI xuất
13
danh nghĩa, tiền lơng danh nghĩa , chỉ tiêu ngân sách ,thuế cho phù hợp với
tốc độ lạm phát đã làm cho vẫn với một sản lợng nh cũ nhng cả tổng cung và
tổng cầu di chuyển lên trên cùng một tốc độ và mặt bằng giá cả đã tăng lên so
với thời kỳ trớc đây.Lạm ơhát dự kiến nằm trong tầm kiểm soát của nhà nớc và
hậu quả của nó thờng không nghiêm trọng đối với xã hội.
Những nguyên nhân dẫn đến lạm phát ở những khía cạnh khác nhau nh-
:thiên tai , bão lụt , cán cân xuất nhập khẩu , tình hình kinh tế-chính trị các
nguyên nhân thờng đan xen nhau tác động tới nền kinh tế.Lạm phát nảy sinh
từ nhiều nguồn , ở các mức độ khác nhau nh ; lạm phát vừa phảI(<10%), lạm
phát phi mã(<100%) ,siêu lạm phát(>100%) tác dộng tới nền kinh tế ở các
mức độ khác nhau.Vì vậy trớc những hậu quả của lạm phát và dựa vào hệ
thống lý thuyết của các nhà kinh tế về nguyên nhân gây nên lạm phát cần dựa
trên mối quan hệ tơng hỗ đa dạng của lạm phát với các vấn đề nh: tiền tệ , yếu
tố sản xuất , ngân sách từ đó mới có thể đa ra một chính sách có hiệu quả
nhằm đa lạm phát về mức không nguy hạI đối với nền kinh tế.
III.Diễn biến của lạm phát gây ra lạm phát siêu tốc .
Lạm phát là một hiện tợng phức tạp , ngày nay nó trở thành một căn bệnh
không dễ khắc phục đối với nhiều quốc gia.Lạm ơhát xảy ra do nhiều nguyên
nhân phức tạp và hậu quả là sự rối loạn hệ thống tiền tệ , cán cân thơng mạI và
hoạt động sản xuất của xã hội ảnh hởng tiêu cực tới sự phát triển kinh tế và đời
sống nhân dân.Khi lạm phát phi mã trở nên nghiêm trọng , hệ thống ngân hàng
bị ảnh hởng trầm trọng , mất giá liên tục , sức mua giảm liên tục qua các năm ,
còn giá cả bị đẩy lên từng ngày, kéo theo nó là nạn đầu cơ hàng hoá , vàng và
đôla, hình thành cơn sốt các tàI sản thực này.Hàng hoá nớc ngoàI có u thế hơn
nên ồ ạt tràn vào thị trờng trong nớc dới nhiều hình thức kể cả nhập lậu gây
nên tình trạng thua lỗ , đình đốn sản xuất trong cả nớc , ngân sách nhà nớc
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét