THPT Long Xun. Do bản thân là sinh viên năm thứ hai, chưa có điều kiện kiến
tập, thực tập ở trường phổ thơng nên q trình khảo sát chỉ chủ yếu xoay quanh
việc phát phiếu điều tra ở ba lớp 10 (10A2, 10A11, 10A12) và hai lớp 12 (12A13,
12A14), khơng thể mở rộng nghiên cứu, khảo sát cách sử dụng từ Hán Việt của
học sinh trong tiết học để quan sát đầy đủ hơn về thực trạng hiểu và sử d
ụng từ
Hán Việt của học sinh THPT.
Sở dĩ đề tài chỉ chọn khối 10 và khối 12 vì đây là khối lớp đầu cấp và cuối
cấp, dễ dàng có sự đánh giá trình độ. Việc chọn lựa hai khối lớp này cũng nhằm
có sự so sánh, đánh giá nhất định về phương pháp dạy và học từ Hán Việt trong
nhà trường THPT để có những cứ liệu xác thực nhằm đề ra nh
ững biện pháp
phù hợp với thực tế hơn.
5. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Khả năng hiểu và sử dụng từ Hán
Việt của học sinh khối 10 và khối 12.
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài có sử dụng các phương pháp:
- Thu thập tài liệu có liên quan đến đề tài, chọn lọc, ghi chép lại nội dung
cần yếu và tìm cơ sở dữ liệu của đề tài.
- Phương pháp khảo sát thực tế: Do khơng có điều kiện để dự giờ từng
tiết dạy cụ thể, quan sát quan sát khả năng sử dụng từ Hán Việt của học sinh
trong khi trả lời giáo viên; vì vậy, đề tài chỉ thơng qua m
ột hình thức chủ yếu là
phát phiếu điều tra ở 5 lớp cùng với phỏng vấn ngẫu nhiên 2 học sinh khối 10 về
hứng thú học cũng như khả năng hiểu từ Hán Việt của học sinh.
Do tiến hành điều tra đồng thời ở năm lớp trong tiết sinh hoạt chủ nhiệm
đầu tuần nên chúng tơi khơng thể theo dõi q trình trả lời của tất cả các em ở
nă
m lớp mà nhờ vào sự hỗ trợ của các giáo viên chủ nhiệm của năm lớp hướng
dẫn các em hiểu rõ về nội dung u cầu câu hỏi và định hướng trả lời, đồng thời
các giáo viên chủ nhiệm cũng đảm bảo cho tính khách quan của việc điều tra.
- Phương pháp thống kê và xử lý tư liệu: Khi đã thu thập đầy đủ những
phiếu điều tra, chúng tơi đã tiến hành th
ống kê để xác định về lượng, từ đó tổng
hợp hố và phân loại. Cụ thể là ở mỗi câu, chúng tơi sẽ phân số lượng những
câu trả lời, số câu trả lời đúng, số câu trả lời sai và chia chúng theo tỉ lệ phần
trăm; sau đó, chúng tơi sẽ tổng hợp những câu trả lời sai để làm ví dụ, dẫn
chứng cụ thể trong nội dung phần khảo sát thực trạ
ng. Trong số những câu trả
lời sai này, chúng tơi sẽ phân loại lỗi sai để làm minh hoạ cho từng nội dung cụ
thể được nêu ra.
5
7
.
Bố cục đề tài
Đề tài ngồi phần mở đầu, kết luận, phụ lục, mục lục, tài liệu tham khảo
ra, gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận chung
Chương 2: Khảo sát thực trạng hiểu và sử dụng từ Hán Việt của học sinh
khối 10 và 12 trường THPT Long Xun
Chương 3: Những giải pháp khắc phục
6
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.
Q trình hình thành và phát triển của từ Hán Việt
Theo quan điểm của nhiều người, từ Hán Việt lâu nay vẫn ln bị xem là
một thứ từ ngoại lai. Việc hạn chế hoặc giả là khơng dùng từ Hán Việt được xem
như biện pháp để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Hiểu như vậy e rằng
khơng thấu đáo.
Do vị trí địa lí và hồn cảnh lịch sử, trong tiếng Việt có một lớp từ ngữ gốc
Hán rấ
t phong phú về số lượng, có giá trị nhiều mặt, thường được gọi dưới cái
tên chung là từ Hán Việt. Lớp từ này thực chất từ lâu đã góp phần tích cực vào
tiến trình phát triển của hệ thống từ ngữ tiếng Việt, làm cho tiếng Việt ta ngày
7
thêm giàu có, tinh tế, uyển chuyển hơn, đủ khả năng đáp ứng tốt nhất mọi u
cầu do cuộc sống văn hố - xã hội.
Khơng thể phủ nhận từ Hán Việt vốn dĩ ban đầu là thứ từ vay mượn
nhưng đồng thời là sự sáng tạo rất độc đáo của bao thế hệ người Việt và từ lâu
đã hồ nhập vào dòng chảy ngơn ngữ Việt, trở
nên gần gũi với chúng ta. Trong
lời ăn tiếng nói hằng ngày, chúng ta sử dụng khơng ít từ Hán Việt vào trong phát
ngơn của mình dù dưới sự chỉ đạo của ý thức hay vơ thức.
Thực tế, trong chúng ta khơng ít người còn khá mơ hồ về cái được gọi là
từ Hán Việt nên mới có những cách hiểu lệch lạc. Khi nói đến những từ như: phi
cơ, giáo sư, giang sơn, quốc gia… ta biết ngay là từ Hán Việt. Nhưng khi nói:
đầ
u, học, dân…thì ta cứ ngỡ đó là từ thuần Việt. Vì sao vậy ? Đó là do từ Hán
Việt là kết quả của cả một q trình tiếp xúc ngơn ngữ Việt - Hán kéo dài ít nhất
là hai thiên niên kỷ, trong những hồn cảnh lịch sử đặc biệt và những phương
thức đặc biệt với sự tài trí của bao thế hệ người Việt Nam nhằm bảo tồn và phát
triển ngơn ngữ dân tộc. Như vậy, đố
i với việc đưa ra ý kiến khơng dùng từ Hán
Việt như là một biện pháp để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là khơng cần
thiết vì như thế sẽ làm hạn chế đi vốn từ phong phú của tiếng Việt. Ta có thể
thay “phi cơ” bằng “máy bay”, nhưng đối với những từ như: tinh thần, viện kiểm
sát, phong kiến…khơng thể có một từ nào khác tương đương để thay th
ế. Cần
chấp nhận vai trò của từ Hán Việt như một bộ phận đã, đang tồn tại và sẽ tiếp
tục phát triển góp phần vào sự phát triển chung của tiếng Việt. Điều đó đòi hỏi
mỗi người Việt phải có một cách hiểu đúng đắn hơn về lớp từ Hán Việt, tìm hiểu
q trình hình thành và phát triển từ Hán Việt, đi sâu tìm hiể
u thực tế những
thành quả ngơn ngữ văn hố của cha ơng đã để lại cho tiếng Việt. Trên cơ sở
đó, chúng ta sẽ tìm cách để phát triển từ Hán Việt theo hướng đúng đắn, góp
phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Theo tác giả Đặng Đức Siêu trong quyển “Dạy và học từ Hán Việt ở
trường phổ thơng” thì từ Hán Việt là một thực thể vừa quen lại v
ừa lạ.
Trước hết, quen là bởi vì cái vỏ ngữ âm đã được Việt hố khơng còn xa
lạ với ngữ cảm, cảm quan thính giác của người Việt. Tác giả cũng đã trích dẫn
bản “Tun ngơn độc lập” của Hồ Chủ Tịch để làm rõ cho điều này:
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hố đã cho họ
những quyền khơng ai có thể xâm phạm được; trong nh
ững quyền ấy có quyền
được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
Từ đó tác giả chỉ ra rằng: những từ sinh, quyền, bình đẳng, tạo hố, xâm
phạm, địch, mưu cầu, hạnh phúc mà ta thấy rõ ràng là quen thuộc và có chiều
sâu ý nghĩa hơn nhiều so với các từ mitting, bit-tết, ten-nít…và còn một số từ
khác xét về cội nguồn cũng là từ gốc Hán nhưng vì chúng đ
ã vào Việt Nam khá
sớm và đã hồ nhập vào tiếng Việt nên khó nhận ra lai lịch như: cờ, xe, cơ, cậu,
buồng, vạn, triệu…những từ này còn gọi là từ Hán Việt Việt hố còn một số từ
khác dù có nghĩa sâu rộng như: qn vương, qn tử, tiểu nhân, thiên hạ…
8
nhưng gắn bó với lịch sử văn hố xã hội Việt Nam ta từ xa xưa nên cũng quen
thuộc trong tâm thức người Việt.
Tiếp đến, cái lạ, theo tác giả chủ yếu do kết cấu ngữ nghĩa của từ Hán
Việt. Những từ cứu cánh, bình sinh, toả chiếu… tuy cũng xuất hiện trong lời nói,
văn bản nhưng có mấy ai hiểu hết được ý nghĩa củ
a chúng.
Vì vậy mới xảy ra hiện tượng hiểu sai nghĩa của từ Hán Việt hoặc là hiểu
khơng thấu đáo nghĩa của nó, …
Ngun nhân chủ yếu đưa đến nhưng hiện tượng trên là do từ Hán vào
Việt Nam rất sớm nhưng do nó qua nhiều giai đoạn khác nhau và bị chi phối bởi
nhưng hồn cảnh lịch sử xã hội khác nhau nên có sai biệt khơng đồng đều về số
lượng, chất lượng, m
ức độ Việt hố, …
Những điều lý giải trên đây nhằm đưa đến kết luận rằng: để có thể hiểu
và sử dụng từ Hán Việt một cách chuẩn xác thì nhất thiết phải xem nó là một bộ
phận quan trọng gắn bó chặt chẽ trong suốt q trình lịch sử với bản ngữ.
Theo ý kiến của các nhà ngơn ngữ học, từ Hán Việt được giải thích là từ
Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự
chi phối của các qui luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi
là từ Việt gốc Hán.
Có sự trùng khớp giữa khái niệm từ Hán Việt và từ Việt gốc Hán; tuy
nhiên, cần khẳng định rằng, từ Hán Việt chỉ là một bộ phận c
ủa từ Việt gốc Hán
tồn tại bên cạnh từ Tiền Hán Việt, Hán Việt Việt hố v.v Xem xét q trình tiếp
xúc ngơn ngữ văn hố Hán - Việt ở nước ta có thể lí giải điều này.
Do đặc điểm địa lý, lịch sử mà hai nước Việt Nam và Trung Hoa có quan
hệ với nhau từ rất sớm. Trong mối quan hệ đó có mối quan hệ về ngơn ngữ -
văn hố. Một thực tế mà ai cũng phải th
ừa nhận là giữa tiếng Việt và tiếng Hán
có sự tiếp xúc từ rất sớm, vào khoảng 2000 năm về trước. Sự tiếp xúc này để
lại nhiều dấu vết trong tiếng Việt hiện đại. Một số lượng khá lớn từ ngữ Hán
thuộc nhiều nguồn khác nhau (Hán, Tạng, Miến, Ấn) đã du nhập vào tiếng Việt
qua nhiều giai đoạn và với nhiều phương thứ
c khác nhau. Mặc dù, tiếng Hán và
tiếng Việt khơng cùng một nguồn gốc. Tiếng Hán thuộc họ Hán - Tạng, tiếng Việt
nằm trong nhánh Việt - Mường thuộc họ Nam Á. Thế nhưng chúng lại có ưu thế
là cùng loại hình. Đây chính là một điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc và vay
mượn giữa hai ngơn ngữ. Sự du nhập của tiếng Hán vào Việt Nam có lúc diễn
ra chậm chạp nhưng có lúc lại diễn ra hế
t sức ồ ạt. Cũng có khi nó đã vào tiếng
Việt rồi lại được biến đổi đi theo các sự biến đổi ngữ âm của tiếng Việt.
Ngay từ đầu cơng ngun, từ khi có sự đơ hộ của phong kiến phương
Bắc, tiếng Hán được truyền vào Giao Châu bằng nhiều con đường, chủ yếu là
nhằm đồng hố tiếng nói của dân tộc ta. Chúng đã thi hành hàng loạt những
biện pháp từ
trắng trợn đến tinh vi nhằm xố bỏ ngơn ngữ, phong tục, tập qn,
9
truyền thống dân tộc ta, ép dân ta hồ đồng vào khối Đại Hán. Song, với tinh
thần u nước, dân tộc ta đẩy lùi được sự đồng hố của chúng. Và vì thế, tiếng
Việt đã có cơ sở vững vàng từ trước vẫn tiếp tục tồn tại. Dù vậy, người Việt vẫn
mượn một số từ ngữ Hán để lấp vào những chỗ trống thiếu hụt trong tiếng Việt
nh
ư buồng, muộn, đúc,… làm phong phú thêm nhưng khơng làm mất được bản
sắc ngơn ngữ của mình.
Có thể chia q trình này làm hai giai đoạn: trước thế kỷ X và sau thế kỷ
X.
Các từ Hán du nhập vào tiếng Việt vào thời kì trước được phát âm theo
hệ thống ngữ âm Hán thượng cổ. Các từ này đã Việt hố hồn tồn, như: búa,
buồm, đuổi, muỗi, đục, đũa, vua,… Tiếng Hán lúc này tồn tại vớ
i tư cách là một
sinh ngữ.
Vào khoảng thời nhà Đường người Hán đã mở nhiều trường học ở Giao
Châu, các thư tịch Hán thuộc các loại kinh, sử, tử, tập được truyền bá rộng rãi.
Giai đoạn này có thể nói là việc du nhập và phổ biến ngơn ngữ văn tự Hán đã
được triển khai thuận lợi hơn nhưng khơng có nghĩa là do người Việt nơ nức
kéo nhau đến các trường học do chính quyề
n đơ hộ đời Đường mở mà do
ngun nhân khác. Ta biết rằng, trước đó thì một số thiền sư người Ấn Độ và
người Hán cũng sang truyền giáo ở xứ Giao Châu, một số kinh phật cũng được
truyền vào Giao Châu cùng với sự phổ biến các trước tác của Nho gia và Thiền
gia. Lớp từ đơng đảo này đã dần dà làm cho tiếng Việt tách khỏi tiếng Mường
tạo thành hệ thố
ng ngữ âm riêng.
Sang thời tự chủ, thế kỷ X, khi âm Hán Việt đã hình thành thì lớp từ trên
càng có điều kiện chuyển sang tiếng Việt nhiều hơn. Với nền độc lập tự chủ của
mình, tiếng Hán và chữ Hán vẫn được các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp tục
sử dụng trong cơ quan hành chánh, trường học, khoa cử cũng như sáng tác văn
chương nhưng lúc này tiếng Hán đ
ã mất đi tính cách là một sinh ngữ. Người
Việt đọc chữ Hán theo cơ chế ngữ âm tiếng Việt đương thời nhưng vì đọc chữ
Hán một cách có hệ thống nên âm đọc là âm phản chiếu của âm Hán đời
Đường và khá sát với âm này. Q trình này khơi màu từ thế kỉ X nhưng chắc
chắn phải kéo dài hàng thế kỉ mới hồn thiện hệ thống âm đọc Hán Việt. Trong
lúc hệ thống Hán Việt ở Vi
ệt Nam vẫn giữ cách phát âm của thời kì nhà Đường
thì ngay ở chính Trung Quốc diện mạo ngữ âm đã thay đổi dần để trở thành âm
Hán hiện đại ngày nay.
Trong số những từ Hán Việt du nhập vào từ đời Đường, một số đã bị Việt
hố về cả ngữ âm và ngữ nghĩa như:
Âm Việt Âm Hán Việt Âm Việt Âm Hán Việt
xe xa giấy chỉ
vng phươ
ng ván bản
10
thơ thi sức lực
Các từ Hán đã Việt hố là những từ đã mang những đặc điểm ngữ pháp
như đặc điểm ngữ pháp của các từ gốc Việt cùng loại và đã biến đổi ngữ nghĩa
theo hệ thống ngữ nghĩa của tiếng Việt.
Các từ Hán thâm nhập vào tiếng Việt thời kì sau được Việt hố thì hoặc
có biến đổi ng
ữ âm theo quy luật hoặc là được giữ ngun dạng ngữ âm Hán
như phòng, phật, vụ…
Một số từ gốc Hán được Việt hố thời kì đầu cùng với những từ gốc Hán
Việt hố sang kì thứ hai lại trở thành những từ đồng nghĩa khác nhau về sắc thái
như: búa (phủ), bay (phi). Những từ trong thời kì thứ hai, ngồi những từ đã
được Việt hố, đại bộ phận còn l
ại vẫn giữ ngun âm, ý nghĩa cũ (tuy vẫn có
một số từ bị thu hẹp về nghĩa) nhưng do chưa được Việt hố nên còn mang
đậm màu sắc ngoại lai. Những yếu tố này mới thực sự là những yếu tố Hán
Việt.
Vào những thế kỉ cuối cùng, các nước châu Á bắt đầu chịu ảnh hưởng
của tư tưởng tư sản châu Âu qua cửa ngõ Nhật Bản. ngườ
i Nhật đã dùng chữ
Hán trong văn tự của họ để phiên dịch các khái niệm của châu Âu, sau đó người
Hán lại đọc các từ này theo âm Hán Việt, ví dụ như các từ: cộng hồ, giai cấp,
Từ đầu thế kỉ XX và đặc biệt là sau cách mạng tháng 8 năm 1945, những từ này
đã ồ ạt vào tiếng Việt cùng với những từ Hán hiện đại như: địa chủ, cố nơng, cải
cách,.
theo với đà phát triển của khoa học tự nhiên và xã hội, người Việt còn
dùng các yếu tố Hán Việt để tạo ra những từ riêng của mình như: đại đội, trung
đồn, Những từ này có thể gọi là từ Hán Việt mới.
2.
Đặc điểm từ Hán Việt
Cho đến bây giờ, cách nhận dạng từ Hán Việt vẫn chỉ là tương đối. Bởi
từ Hán Việt phong phú, đa dạng bao nhiêu thì trong đó lại chứa đựng sự phức
tạp bấy nhiêu.
Về vấn đề này, xin lấy ý kiến của tác giả Nguyễn Văn Khang trong quyển
“Tiếng Việt trong trường học, NXB KHXH, Hà Nội, 1995”.
Theo ơng, sự phức tạp của từ Hán Việt thể hiện ở ba m
ặt: ngữ âm, nội
dung và cấu tạo từ.
Về mặt ngữ âm: các từ Hán thâm nhập vào Tiếng Việt khơng phải từ nào
cũng tn thủ theo phương thức đồng hố, tức là một vỏ ngữ âm Hán được
thay bằng một vỏ ngữ âm Hán Việt.
- Sự phân biệt giữa từ Hán Việt và từ Tiền Hán Việt khơng phải lúc nào
cũng rạch ròi như từ: nghĩa, địa, bạ…
11
- Cùng tồn tại với từ Hán Việt cũng có những đơn vị từ vựng có quan hệ
tương ứng âm nghĩa với từ Hán Việt, như “lâu - lầu”, “vân - vần”. “lầu, vần” là
Hán Việt Việt hố nhưng kết quả của sự Việt hố từ Hán Việt chẳng phải là Hán
Việt Việt hố đó sao? Cái khơng đơn giản chính là nằm ngay ở khái niệm Hán
Việt Việt hố.
- Lại có trườ
ng hợp từ Hán Việt lại bị phương ngữ hố về mặt ngữ âm
nên lại hình thành cặp đồng nghĩa giữa từ Hán Việt và biến thể của chúng: “sinh
- sanh”, “chính - chánh”, “trường - tràng”…
- Mặt khác, do những ngun nhân xã hội khác như cách đọc kiêng, thói
quen đọc sai làm cho từ Hán Việt có cách đọc chệch âm Hán Việt nhưng một số
những cách đọc sai đó lại trở nên thơng dụng như: bù - phù, chá - trá…Do vậy,
khơng thể xem đó là sai được.
Tác giả đã chỉ ra ba đặc điểm nội dung từ Hán Việt như sau:
Thứ nhất: Sự vận hành của hệ thống từ vựng của ngơn ngữ theo thời
gian, những tác động của tiến trình xã hội - lịch sử đã ảnh hưởng làm thay đổi
nghĩa của các từ Hán Việt.
Ví dụ: những từ “truy, điện” trong tiếng Việt hiện đại khác xa so với nghĩa
gốc đến mức hầu như chỉ còn vỏ ngữ âm Hán Việt mà thơi.
Thứ hai: Có nhiều từ Hán Việt mang nội dung ngữ nghĩa dường như
chẳng còn quan hệ gì với nghĩa vốn có trong tiếng Hán.
Ví dụ: Từ “đáo để” với nghĩa vốn có là đến đáy, đến cùng lại trở thành
nghĩa q quắt, khơng ở thế kém bất cứ ai.
Thứ ba: Đa số từ Hán việt là đa nghĩa nhưng khơng phải là lấy tất cả các
nghĩa của từ Hán mà những nghĩa được nhập ngay vào bản thân một từ Hán
Việt khơng được đồng hố như nhau.
Ví dụ: khinh “nhẹ” (yếu tố cấu tạo từ) và khinh “coi thường” (động từ).
Thứ tư: Từ Hán Việt gợi hình ảnh thế giới im lìm bất động.
Thư năm: Từ Hán Việt nghe kêu, vang dội hơn từ thuần Việt.
Về mặt cấu tạo từ: Theo ơng, các từ đa tiết Hán Việt được hình thành từ
hai nguồn: loại mượn ngun khối từ Tiếng Hán và loại được người Vi
ệt tạo ra
từ chất liệu Hán .
+ Loại mượn ngun khối bao gồm:
Thứ nhất: mượn ngun cả mơ hình cấu tạo lẫn yếu tố cấu tạo từ như
hồ bình, độc lập.
12
Thứ hai: vẫn giữ ngun yếu tố cấu tạo từ nhưng trật tự các yếu tố khơng
thay đổi (phóng thích, náo nhiệt).
Thứ ba: giữ ngun mơ hình cấu tạo từ trật tự các yếu tố nhưng một
trong hai yếu tố được thay thế (có lý - hữu lý).
Thứ tư là thay đổi trật tự yếu tố và một trong hai yếu tố (lơng hồng - hồng
mao).
+ Loại được tạo ra t
ừ chất liệu Hán (yếu tố cấu tạo từ Hán Việt) và mơ
hình cấu tạo từ Hán bao gồm:
Thứ nhất: mượn mơ hình cấu tạo Hán với 2 yếu tố đều là Hán Việt (trung
đồn) hoặc 1 trong 2 là yếu tố Hán kết hợp theo mơ hình cấu tạo từ Hán (học
trò).
Thứ hai là các yếu tố Hán kết hợp theo mơ hình cấu tạo từ Tiếng Việt
(viện phó, trường học).
Ngồi ra còn 1 loại khác từ
những từ đa tiết Hán Việt mượn ngun khối
từ tiếng Hán và đơn tiết hố chúng: văn, địa, lạc…
Chính những tính đa dạng về sự tồn tại của các từ Hán Việt trong tiếng
Việt hiện đại như đã trình bày ở trên gây khó khăn cho người tiếp nhận và sử
dụng khiến họ dễ có sự hiểu sai.
Vì vậy, trước nay đã có khơng ít những họ
c giả đã đưa ra một số cách
để nhận dạng từ Hán Việt. Đến nay có thể khái qt có năm cách nhìn nhận
sau:
a. Một số học giả đã triệt để theo quan điểm lịch sử chỉ chấp nhận từ Hán
Việt có âm đọc đúng với phiên thiết. Quan điểm này như vậy là đã làm hạn chế
vốn từ Hán Việt phong phú.
b. Ở một số tác giả
khác thì cơng nhận những từ đọc đúng với phiên thiết
và cả những trường hợp quen dùng được xã hội thừa nhận. Tuy nhiên hướng
giải quyết này vẫn còn chưa được rõ ràng đầy đủ vì số lượng những trường hợp
từ quen dùng sai có rất nhiều. “Chỉ có những người biên soạn Tự điển Hán Việt
đã thể hiện tương đối rõ quan điểm của mình thơng qua bảng từ
biên soạn, như
Hán Việt tự điển của Đào Duy Anh; Hán Việt thành ngữ của Bửu Cân và đáng
chú ý là cuốn Từ Điển yếu tố Hán Việt thơng dụng (1991) đã chú ý xử lý từng
trường hợp cụ thể (chủ - chúa, chính - chánh, bản - bổn…)”
1
1
Nguyễn Văn Khang: Một số vấn đề dạy và học từ Hán Việt trong trường phổ thông, trong quyển
“Tiếng Việt trong trường học”, NXB KHXH, Hà Nội, 1995
13
c. Theo hướng đồng đại, một số tác giả nhận diện từ Hán Việt thơng qua
tiêu chí đồng hố, tức là chấp nhận những từ Hán Việt có khả năng hoạt động
như từ thuần Việt (tức là chú trọng mức độ Việt hố của từ Hán Việt).
d. “Dùng cảm thức ngơn ngữ để nhận dạng từ Hán Việt. Về phương diện
này, quyển “Mẹo Giải Ngh
ĩa Từ Hán Việt và Chữa lỗi Chính Tả, NXB Thanh
Niên, Hà Nội, 2000” của tác giả Phan Ngọc là đáng chú ý nhất. Trong quyển
này, tác giả đã dựa vào cảm thức của người nói, viết xem từ này là thuần Việt,
từ kia là Hán Việt, từ này dễ hiểu, từ kia khó hiểu, từ này có vẻ sang trọng, từ
kia q mộc mạc, từ này nghe kêu, từ kia nghe ít âm hưởng, nghe khơng kêu,
từ này nghe buồn, từ kia nghe vui v.v…Những ấn tượng ấy mơ h
ồ nhưng có
thật. Từ suy nghĩ đó, tác giả cho rằng phải quy được các ấn tượng thành cơng
thức và tạo ra mẹo. Sau khi phân tích, tác giả đã đưa ra 2 loại âm tiết A và B
(trong số 4 loại âm tiết) dành cho từ Hán Việt: “âm tiết A tự do là bá chủ, nó quy
định mọi âm tiết Hán Việt”.
2
Đối với các từ đa tiết Hán Việt sẽ được coi là dể
hiểu hay khó hiểu là nhờ vào vị trí của âm tiết Hán Việt đứng trước là A hay B và
trật tự ngược hay xi (tức là mơ hình cấu tạo của từ tiếng Hán và mơ hình cấu
tạo của từ tiếng Việt)”.
3
e. Cũng dựa trên tiêu chí ngữ âm để nhận diện từ Hán Việt, tác giả
Nguyễn Ngọc San trong quyển “Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử, NXB ĐHSP” đã chỉ
ra các cách nhận diện sau:
- Các tiếng có âm đầu tắc họng, nếu là từ Hán Việt bao giờ cũng có các
thanh bổng (ngang, sắc, hỏi), ví dụ: ẩm, ấm, ơn,…Ngược lại, nếu mang thanh
trầm thì đều là từ thuần Việt.
- Các từ Hán Việt có thanh
đầu /gi/ mang các thanh điệu bổng như: gia,
giáng, giảng,… Nếu có thanh điệu trầm là từ thuần Việt.
- Các từ Hán Việt có âm đầu /ch/ ln mang thanh điệu bổng: chu,
chướng, chí, chúc,…
- Các từ Hán Việt có âm đầu /kh/ ln mang thanh điệu bổng: khai, khái,
khải, khủng,…
- Các từ Hán Việt có phụ âm vang /m/, /n/, /nh/, /ng/, /l/ đều có thanh điệu
ngang, ngã, nặng.
f. Quyển “Tiếng Việt, Văn Việt, Người Việt, Cao Xn Hạo - NXB Trẻ
2001”, tác giả cho rằng ng
ười ta thường dựa vào sự phân biệt với từ thuần Việt
khi xem xét đặc điểm từ Hán Việt. Nói như tác giả, người ta đã dựng lên sự
2
Phan Ngọc: Mẹo giải nghóa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2000.
3
Nguyễn Văn Khang: Một số vấn đề dạy và học từ Hán Việt trong trường phổ thông, trong quyển
“Tiếng Việt trong trường học”, NXB KHXH, Hà Nội, 1995
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét