Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi nền kinh tế thị trường hình thành và dần thay thế các hình thái
xã hội trước kia, cạnh tranh đã là một quy luật phổ biến với những hình thức
ngày càng phong phú hơn. Trong môi trường cạnh tranh như vậy, để tồn tại
và phát triển các doanh nghiệp phải biết kinh doanh và hơn thế nữa phải biết
kinh doanh có hiệu quả. Để đạt được hiệu quả cao nhất, các doanh nghiệp
phải biết được chính xác tình hình tài chính và tiềm năng của doanh nghiệp
mình. Từ đó giúp cho người đưa ra quyết định lựa chọn được phương án kinh
doanh tối ưu. Bởi vậy, việc phân tích báo cáo tài chính có ý nghĩa quan trọng
đối với nhiều phía, cả chủ doanh nghiệp và bên ngoài. Do vậy, phân tích tình
hình tài chính là một đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp có thể thực hiện
được mục tiêu của mình.
Công ty Hàng hải Đông Đô – một doanh nghiệp nhà nước hoạt động
trong lĩnh vực vận tải biển và khai thác cảng như là một cầu nối trong tiến
trình hội nhập nền kinh tế Việt Nam với các nước trên thế giới – cũng dần
khẳng định vị thế của mình trên thị trường và đang tìm giải pháp để đưa tình
hình tài chính của Công ty vào thế cân bằng và ổn định. Nhận thức được tầm
quan trọng của vấn đề này, qua thời gian thực tập ở Công ty Hàng hải Đông
Đô, em xin chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính với việc
phân tích tình hình tài chính tại Công ty Hàng hải Đông Đô” để làm luận
văn cuối khóa của mình
Luận văn có kết cấu làm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về hệ thống báo cáo tài chính và phân tích
tình hình tài chính doanh nghiệp.
Chương II: Thực trạng hệ thống báo cáo tài chính với việc phân tích
tình hình tài chính tại Công ty Hàng hải Đông Đô.
Vũ Hồng Nga Lớp kế toán 44A
5
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Chương III: Một số ý kiến hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính với
việc phân tích tình hình tài chính tại Công ty Hàng hải Đông Đô.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Trần Thị Nam Thanh và các bác,
các cô, chú, các anh, chị ở phòng Tài chính – Kế toán Công ty Hàng hải Đông
Đô đã giúp đỡ em trong thời gian qua để em hoàn thành luận văn này.
Hà Nội ngày 29 tháng 05 năm 2006
Sinh viên: Vũ Hồng Nga
Vũ Hồng Nga Lớp kế toán 44A
6
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG
BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI
CHÍNH DOANH NGHIỆP
I: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH:
1.1: Khái niệm, phân loại và nguyên tắc lập, trách nhiệm lập và
gửi Báo cáo tài chính doanh nghiệp:
1.1.1: Khái niệm và phân loại:
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản,
vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh
trong kỳ của doanh nghiệp. Nói cách khác, báo cáo tài chính là phương tiện
cung cấp thông tin kinh tế về khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của
doanh nghiệp cho những nguời quan tâm (chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà
cho vay, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng…) trong việc đánh giá, phân
tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Thông tin được phản ánh trên các báo cáo tài chính là những thông tin
tóm tắt, khái quát tình hình chung của doanh nghiệp. Số lượng và nội dung
của báo cáo tài chính doanh nghiệp không được định đoạt mà phải theo chế
độ Nhà nước ban hành.
Hệ thống báo cáo tài chính theo “Chế độ báo cáo tài chính doanh
nghiệp” ban hành theo Quyết định số 167/2000/QĐ- BTC ngày 25/10/2000
của Bộ trưởng Bộ tài chính áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi
lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước, bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo:
- Bảng cân đối kế toán, mẫu số B01- DN
- Kết quả hoạt động kinh doanh, mẫu số B02- DN
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, mẫu số B03- DN
Vũ Hồng Nga Lớp kế toán 44A
7
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
- Thuyết minh báo cáo tài chính, mẫu số B09- DN
Ngoài ra, để phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế - tài chính, yêu cầu chỉ
đạo điều hành, các ngành, các Tổng công ty, các tập đoàn sản xuất liên hiệp
các xí nghiệp, các công ty liên doanh,…có thể quy định thêm các báo cáo chi
tiết khác có tính chất hướng dẫn như:
- Báo cáo giá thành, sản phẩm, dịch vụ.
- Báo cáo chi tiết kết quả kinh doanh.
- Báo cáo chi tiết chi phí sản xuất.
- Báo cáo chi tiết chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
- Báo cáo chi tiết công nợ.
Ngoài cách phân loại theo nội dung, theo tiêu thức phân theo tính bắt
buộc (báo cáo bắt buộc và báo cáo hướng dẫn), báo cáo tài chính còn phân
theo thời gian lập và nộp (báo cáo quý, báo cáo năm), phân theo cơ quan nhận
báo cáo (tài chính, thuế, thống kê, chủ quản,…). Mỗi một cách phân loại sẽ có
tác dụng trong quản lý và điều hành khác nhau do nguồn thông tin thu được
khác nhau.
1.1.2: Nguyên tắc lập, trách nhiệm lập và gửi báo cáo tài chính
doanh nghiệp:
Xuất phát từ vai trò quan trọng của báo cáo tài chính, là phương tiện
cung cấp thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu liên quan tới quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính phải được trình bày khách
quan, không thiên vị, tuân thủ nguyên tắc thận trọng và trình bày đầy đủ trên
mọi khía cạnh trọng yếu. Do vậy, khi lập báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải
tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc “Hoạt động liên tục”: Ngyên tắc này đòi hỏi, khi lập và
trình bày báo cáo tài chính, doanh nghiệp đang hoạt động liên tục, hoạt động
kinh doanh bình thường trong tương lai gần (trong vòng 12 tháng tới kể từ
Vũ Hồng Nga Lớp kế toán 44A
8
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
ngày kết thúc niên độ kế toán), trừ khi doanh nghiệp có ý định hoặc buộc phải
ngừng hoạt động, buộc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình.
- Nguyên tắc “Cơ sở kế toán dồn tích”: Nguyên tắc này có nghĩa là các
giao dịch và các sự kiện phải được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không
căn cứ vào thời điểm thực thu, thực chi tiền và được ghi nhận vào sổ kế toán
và báo cáo tài chính của các kỳ kế toán liên quan.
- Nguyên tắc “Nhất quán”: Nguyên tắc này đảm bảo, việc trình bày và
phân loại các khoản mục trong báo cáo tài chính phải nhất quán từ niên độ
này sang niên độ khác, trừ khi có sự thay đổi đáng kể trong bản chất của hoạt
động kinh doanh, hoặc thấy cần phải thay đổi các khoản mục trong báo cáo
tài chính để trình bày một cách hợp lý hơn hoặc một chuẩn mực kế toán khác
yêu cầu phải thay đổi các khoản mục này.
- Nguyên tắc “Trọng yếu”: Nguyên tắc trọng yếu đòi hỏi từng khoản
mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt trong báo cáo tài chính. Các
khoản mục không trọng yếu không cần trình bày thành khoản mục riêng biệt
mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng
trong báo cáo tài chính hoặc được trình bày trong phần thuyết minh báo cáo
tài chính.
- Nguyên tắc “Bù trừ”: Nguyên tắc này cho biết kế toán không được
bù trừ các khoản mục tài sản và nợ phải trả trình bày trên báo cáo tài chính,
trừ khi một chuẩn mực kế toán khác quy định hoặc cho phép bù trừ các khoản
mục đó.
- Nguyên tắc “So sánh”: Nguyên tắc này chỉ rõ, các thông tin trên báo
cáo tài chính kỳ này phải so sánh được với thông tin phản ánh trên báo cáo tài
chính kỳ liền trước nó. Khi phân loại các khoản mục trong báo cáo tài chính
phải phân loại các khoản mục so sánh (trừ khi việc này không thực hiện được)
nhằm đảm bảo khả năng so sánh kỳ quá khứ với kỳ hiện tại.
Vũ Hồng Nga Lớp kế toán 44A
9
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Tất cả các doanh nghiệp độc lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ phải tiến
hành lập và gửi báo cáo tài chính. Tại Điều số 30 Luật số 03/2003/QH11 ngày
17 tháng 06 năm 2003 quy định người lập, kế toán trưởng và người đại diện
cho pháp luật của đơn vị ký và chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, trung thực
của báo cáo tài chính doanh nghiệp. Các báo cáo tài chính được lập và gửi
vào cuối mỗi quý để phản ánh tình hình tài chính của niên độ kế toán đó cho
các cơ quan quản lý Nhà nước và các doanh nghiệp cấp trên theo quy định.
Trường hợp doanh nghiệp có Công ty con thì phải gửi kèm theo bản sao báo
cáo tài chính của các Công ty con cùng quý, cùng năm.
Đối với các doanh nghiệp hạch toán độc lập và hạch toán phụ thuộc
Tổng công ty và các doanh nghiệp hạch toán độc lập không nằm trong Tổng
công ty, báo cáo tài chính được gửi chậm nhất là 20 ngày đối với báo cáo quý
kể từ ngày kết thúc quý và chậm nhất là 30 ngày đối với các báo cáo năm kể
từ ngày kết thúc năm tài chính. Đối với các Tổng công ty, thời hạn gửi báo
cáo tài chính chậm nhất là 45 ngày đối với báo cáo quý kể từ ngày kết thúc
quý và chậm nhất là 90 ngày đối với báo cáo năm kể từ ngày kết thúc năm tài
chính.
Tuy các doanh nghiệp có thời hạn lập và nộp khác nhau nhưng nơi gửi
chủ yếu của các báo cáo tài chính là cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan
thống kê, cơ quan đăng ký kinh doanh. Có thể khái quát thời hạn lập và nơi
nhận các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp như sau:
Vũ Hồng Nga Lớp kế toán 44A
10
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
BẢNG 01: THỜI HẠN LẬP VÀ NƠI NHẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Loại hình doanh
nghiệp
Thời
hạn lập
báo cáo
Nơi nhận báo cáo
Cơ quan
tài chính
Cục thuế
Cơ quan
thống kê
Doanh
nghiệp
cấp trên
Cơ quan
đăng ký
kinh
doanh
1.DN Nhà nước
Quý,
năm
x x x x x
2.DN có vốn đầu
tư nước ngoài
Năm x x x x x
3.Các loại hình
DN khác
Năm - x x x x
1.2: Hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam hiện
hành:
Sau Thông tư số 89/2002/TT- BTC ngày 09/10/2002, Thông tư số
105/2003/TT- BTC ngày 04/11/2003, và Thông tư số 23/2005/TT- BTC ngày
30/03/2005, Bộ Tài chính đã ban hành hệ thống Báo cáo tài chính theo QĐ số
15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC nhằm điều chỉnh hệ
thống báo cáo tài chính theo nhu cầu giai đoạn mới. Hệ thống báo cáo tài
chính đã có sự thay đổi chung đó là có thêm cột thuyết minh để đánh dấu các
chỉ tiêu dẫn tới thuyết minh trên Thuyết minh báo cáo tài chính. Hệ thống báo
cáo tài chính hiện hành như sau:
1.2.1: Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01- DN, phụ lục 1)
1.2.1.1: Khái niệm và nguồn lập Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng
quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hình
thành tài sản tại một thời điểm nhất định (cuối quý, cuối năm).
Để lập Bảng cân đối kế toán, kế toán cần phải sử dụng khá nhiều nguồn
số liệu. Trong đó có các nguồn số liệu chủ yếu như: Bảng cân đối kế toán
ngày cuối niên độ kế toán trước, số dư các tài khoản trên các sổ kế toán tổng
hợp và sổ kế toán chi tiết của kỳ lập Bảng cân đối kế toán, số dư của các tài
Vũ Hồng Nga Lớp kế toán 44A
11
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
khoản ngoài Bảng cân đối kế toán. Song để đảm bảo tính kịp thời và chính
xác của các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán, kế toán cần tiến hành kiểm tra,
đối chiếu, kết chuyển các khoản liên quan giữa các khoản phù hợp với quy
định, kiểm kê tài sản, khóa sổ các tài khoản tổng hợp, chi tiết để xác định số
dư cuối kỳ.
1.2.1.2: Nội dung của Bảng cân đối kế toán:
Nội dung của Bảng cân đối kế toán thể hiện qua hệ thống các chỉ tiêu
phản ánh tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản. Các chỉ tiêu được phân
loại, xắp xếp thành từng loại, mục và được phản ánh theo số đầu năm và số
cuối năm.
Bảng cân đối kế toán được kết cấu dưới dạng bảng cân đối số dư các tài
khoản kế toán và được xắp xếp các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý. Bảng cân
đối kế toán được chia làm 2 phần là phần “Tài sản” và phần “Nguồn vốn”, 2
phần này có thể kết cấu theo kiểu một bên. Trong đó:
• Phần “Tài sản” phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh
nghiệp đến cuối kỳ kế toán đang tồn tại dưới các hình thái và trong tất cả các
giai đoạn, các khâu của quá trình kinh doanh. Các chỉ tiêu trong phần tài sản
được xắp xếp theo nội dung kinh tế của các loại tài sản trong quá trình tái sản
xuất. Số liệu các chỉ tiêu phản ánh trong phần “Tài sản” xét về mặt “kinh tế”
thể hiện giá trị tài sản theo kết cấu hiện có tại doanh nghiệp đến thời điểm lập
báo cáo như tài sản cố định, vật liệu, hàng hóa, tiền tệ (tiền mặt tại quỹ, tiền
gửi Ngân hàng…), các khoản đầu tư tài chính hoặc dưới hình thức nợ phải thu
ở tất cả các khâu, các giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh (từ khâu
thu mua, sản xuất tới khâu tiêu thụ). Còn xét về mặt “pháp lý” thì số liệu các
chỉ tiêu trong phần “Tài sản” phản ánh toàn bộ số tài sản hiện có đang thuộc
quyền quản lý, quyền sử dụng của doanh nghiệp.
Vũ Hồng Nga Lớp kế toán 44A
12
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Nội dung của phần “Tài sản” được chia làm 2 loại: Loại A “Tài sản ngắn
hạn” và loại B “Tài sản dài hạn”.
A- Tài sản ngắn hạn: Phản ánh tổng giá trị thuần của toàn bộ tài sản
ngắn hạn hiện có của doanh nghiệp. Một tài sản được coi là ngắn hạn khi mà
tài sản đó được dự tính để bán hoặc hoặc sử dụng trong một chu kỳ kinh
doanh bình thường của doanh nghiệp, hoặc được nắm giữ chủ yếu cho mục
đích thương mại, hoặc cho mục đích ngắn hạn như dự kiến thu hồi hay thanh
toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc niên độ. Hoặc tiền và các khoản
tương đương tiền mà việc sử dụng không gặp một hạn chế nào. Tài sản ngắn
hạn bao gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính
ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn
khác.
B- Tài sản dài hạn: Là chỉ tiêu phản ánh giá trị thuần của toàn bộ tài
sản có thời gian thu hồi trên 1 năm hay ngoài 1 chu kỳ kinh doanh hiện có tại
doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo và có giá trị lớn mà theo quy định mới thì
nó phải có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên. Tài sản dài hạn bao gồm: Các khoản
phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài
chính dài hạn và tài sản dài hạn khác.
Tổng cộng tài sản: Phản ánh tổng trị giá tài sản ngắn hạn và dài hạn
hiện có thuộc quyền quản lý, sử dụng và sở hữu của doanh nghiệp.
• Phần “Nguồn vốn”: Phần nguồn vốn phản ánh nguồn hình thành
các loại tài sản hiện có của doanh nghiệp. Nguồn vốn của doanh nghiệp bao
gồm nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu. Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của
doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp
phải thanh toán từ các nguồn lực của mình, còn vốn chủ sở hữu là giá trị vốn
của doanh nghiệp và được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị tài sản của
doanh nghiệp và số nợ mà doanh nghiệp phải trả.
Vũ Hồng Nga Lớp kế toán 44A
13
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Phần “Nguồn vốn” của Bảng cân đối kế toán cũng được chia thành 2
loại với nội dung cụ thể như sau:
A- Nợ phải trả: Nợ phải trả là chỉ tiêu phản ánh trách nhiệm của doanh
nghiệp đối với các chủ nợ về các khoản phải nộp, phải trả hay các khoản mà
doanh nghiệp chiếm dụng khác. Nói cách khác, nợ phải trả xác định nghĩa vụ
của doanh nghiệp khi nhận về một tài sản, tham gia một cam kết hoặc phát
sinh một nghĩa vụ pháp lý khác. Nợ phải trả bao gồm: Nợ ngắn hạn và nợ dài
hạn.
B- Vốn chủ sở hữu: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ số vốn của
các chủ sở hữu, các nhà đầu tư góp vốn ban đầu và bổ sung thêm trong quá
trình hoạt động kinh doanh. Số vốn chủ sở hữu doanh nghiệp không phải cam
kết thanh toán, vì vậy vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ.
Vốn chủ sở hữu được phản ánh trong Bảng cân đối kế toán bao gồm:
Vốn chủ sở hữu, nguồn kinh phí và quỹ khác.
Tổng cộng nguồn vốn: Phản ánh tổng số nguồn hình thành tài sản của
doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo.
1.2.2: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02- DN,
phụ lục 2)
1.2.2.1: Khái niệm và nguồn lập báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính phản ánh
tóm lược doanh thu, chi phí và kết quả các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp cho một thời kỳ nhất định, bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh
(hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính) và hoạt động
khác.
Để lập Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, kế toán phải dựa vào
nguồn số liệu chủ yếu sau: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh quý trước,
Vũ Hồng Nga Lớp kế toán 44A
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét