Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại Agribank Hà Tây

Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
Thời hạn cho vay trên giấy nhận nợ có thể không phù hợp với thời hạn hiệu lực
của hạn mức tín dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng là hình thức cho vay thuận tiện cho
những khách hàng vay mợn thờng xuyên, vốn vay tham gia thờng xuyên vào
quá trình sản xuất kinh doanh.
1.2.3. Cho vay luân chuyển
1.2.3. Cho vay luân chuyển
Là nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng hoá. Doanh
nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay để khách
hàng mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc đầu
quí ngời vay phải làm đơn xin vay luân chuyển. Ngân hàng và khách hàng sẽ
thoả thuận với nhau về phơng thức vay, hạn mức tín dụng, lãi suất và phơng
thức trả lãi, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín
dụng có thể đợc thoả thuận trong một năm hoặc vài năm. Đây không phải là
thời hạn hoàn trả mà là thời hạn để Ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với
khách hàng và quyết định có cho vay nữa hay không tuỳ mối quan hệ giữa
Ngân hàng và khách hàng cũng nh tình hình tài chính của Ngân hàng.
Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến Ngân hàng các chứng từ hoá đơn
nhập hàng và số tiền cần vay. Ngân hàng sẽ cho vay và trả tiền cho ngời bán.
theo hình thức này, giá trị hàng hoá mua vào (có hoá đơn, hợp pháp, hợp lệ
đúng đối tợng) đều là đối tợng đợc Ngân hàng cho vay; thu nhập bán hàng đều
là nguồn để chi trả cho Ngân hàng. Tuy nhiên Ngân hàng có thể chỉ cho vay
với một tỉ lệ nhất định tuỳ theo khối lợng và chất lợng quan hệ nợ nần của ngời
vay. Các khoản phải thu và cả hàng hoá trong kho của khách hàng trở thành
vật đảm bảo cho khoản vay
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
5
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
Cho vay luân chuyển thờng áp dụng đối với các doanh nghiệp thơng
nghiệp hoặc các doanh nghiệp sản xuất có chu kì tiêu thụ ngắn ngày, có quan
hệ vay trả thờng xuyên với Ngân hàng.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng. Thủ tục vay chỉ
cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay. Khách hàng đợc đáp ứng nhu cầu vốn
kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho ngời cung cấp sẽ nhanh gọn. Song nếu nh
doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ thì Ngân hàng sẽ
gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không đợc qui
định rõ ràng.
Cho vay luân chuyển dựa trên sự luân chuyển của hàng hoá nên cả Ngân
hàng lẫn doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lu chuyển hàng hoá để
dự đoán dòng ngân quĩ trong thời gian tới., từ đó xác định một thời hạn cho
vay hợp lý nhất.
1.2.4. Cho vay trả góp
1.2.4. Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng mà theo đó Ngân hàng cho phép
khách hàng trả gốc và lãi làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận.
Cho vay trả góp thờng đợc áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài
trợ cho tài sản cố định, hàng lâu bền, hoặc đối với các khoản cho vay tiêu
dùng. Số tiền trả mỗi lần đợc đợc tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả
nợ của khách hàng (thờng là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án, hoặc
thu nhập hàng kì của ngờ tiêu dùng).
Ngân hàng thờng cho vay trả góp đối với ngời tiêu dùng thông qua hạn
mức nhất định. Ngân hàng sẽ thanh toán cho ngời bán về số hàng hoá mà
khách hàng đã mua trả góp. Các cửa hàng bán nhận tiền ngay sau khi bán hàng
từ phía Ngân hàng và làm đại lý thu tiền cho Ngân hàng, hoặc khách hàng trả
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
6
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
trực tiếp cho cửa hàng. Đây là hình thức tín dụng tài trợ cho ngời mua (qua đó
đến ngời bán) nhằm khuyến khích tiêu thụ hàng hoá
Cho vay trả góp thờng rủi ro cao do khách hàng thờng thế chấp bằng
hàng hoá mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của
ngời vay. Nếu ngời vay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu
nợ của Ngân hàng cũng bị ảnh hởng. Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay
trả góp thờng là cao nhất trong khung lãi suất cho vay của Ngân hàng.
1.2.5. Cho vay thấu chi
1.2.5. Cho vay thấu chi
Cho vay thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó Ngân hàng cho phép ngời
vay đợc chi trội (vợt) số d tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất
định trong một khoảng thời gian xác định. Giới hạn này gọi là hạn mức thấu
chi. Đây là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn
không có tài sản đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp và cá nhân song chỉ
chủ yếu cấp cho các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu
nhập ngắn.
Để đợc thấu chi khách hàng phải làm đơn xin Ngân hàng hạn mức thấu
chi và thời gian thấu chi (khách hàng có thể phải trả phí cam kết cho Ngân
hàng). Trong quá trình hoạt động, khách hàng có thể kí séc, lập uỷ nhiệm chi,
mua thẻ sác vợt quá số d tiền gửi để chi trả (song trong hạn mức thấu chi).
Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi Ngân hàng sẽ tiến hành thu
nợ gốc và lãi. Số lãi mà khách hàng phải trả:
Lãi = Lãi suất thấu chi *Thời gian thấu chi * Số tiền thấu chi
1.2.6. Cho vay gián tiếp
1.2.6. Cho vay gián tiếp
Cho vay gián tiếp là hình thức Ngân hàng cho khách hàng vay thông
qua các tổ chức trung gian. Đó là các tổ, đội, hội, nhóm nh nhóm sản suất, Hội
nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ Các tổ chức này thờng liên kết các
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
7
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu là để hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ
quyền lợi cho mỗi thành viên. Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xoá đói
giảm nghèo luôn đợc các trung gian rất quan tâm.
Trong phơng thức cho vay này Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu
của hoạt động cho vay sang các tổ chức trung gian nh thu nợ, phát tiền
vay Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra tín chấp cho các thành viên vay,
hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh cho một thành viên vay. Điều này rất
thuận tiện khi ngời vay không có hoặc không đủ tài sản thế chấp. Tuy nhiên để
các tổ chức trung gian hoạt động có hiệu quả thì các tổ chức trung gian cũng bị
mất chi phí, vì vậy nhân hàng phải trích một phần thu nhập cho các tổ chức
trung gian.
Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua các ngời bán lẻ các sản phẩm
đầu vào của quá trính sản xuất. Việc cho vay theo cách này hạn chế ngời vay
sử dụng tiền sai mục đích.
Cho vay gián tiếp thờng áp dụng đối với thị trờng có nhiều món vay
nhỏ, ngời vay phân tán, cách xa Ngân hàng. Trong trờng hợp nh vậy cho vay
thông qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay (phân tích, giám sát, thu
nợ )
Cho vay thông qua trung gian nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của Ngân
hàng, tuy nhiên nó cũng bộc lộ những khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi
dụng vị thế của mình và nếu Ngân hàng không kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất
cho vay để cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác cho riêng
mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lợng hoặc bán với
giá đắt cho ngời vay vốn.
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
8
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
1.3. Các hình thức đảm bảo đối với tín dụng Ngân hàng.
Trong nhiều trờng hợp, Ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có tài sản
đảm bảo khi nhân tín dụng Ngân hàng. Lí do là khách hàng luôn phải đối đầu
với rủi ro trong kinh doanh, có thể mất khả năng trả nợ cho Ngân hàng do thu
nhập từ hoạt đông kinh doanh giảm sút mạnh. Những biến cố không mong đợi
đó có thể gây cho Ngân hàng những tổn thất lớn. Chính vì vậy, trừ những
khách hàng có uy tín cao, phần lớn khách hàng phải có tài sản đảm bảo khi
nhận tín dụng của Ngân hàng. Đặt yêu cầu phải có tài sản đảm bảo, Ngân hàng
muốn có nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn thứ nhất là thu nhập từ hoạt động sản
xuất kinh doanh không đảm bảo trả nợ. Có nhiều hình thức đảm bảo đối với tín
dụng Ngân hàng


Phân loại theo tính chất an toàn, Ngân hàng chia tài sản đảm bảo
Phân loại theo tính chất an toàn, Ngân hàng chia tài sản đảm bảo


thành hai loại.
thành hai loại.
-
Loại 1
Loại 1, Là các tài sản thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của khách
hàng, hoặc đảm bảo của bên thứ ba cho khách hàng của Ngân hàng (bảo
lãnh). Những đảm bảo này không đợc hình thành từ chính từ chính khoản tín
dụng của Ngân hàng. Đảm bảo loại 1 có thể có giá trị lớn hơn, nhỏ hơn hoặc
bằng giá trị của khoản tín dụng tuỳ theo dự đoán của Ngân hàng về độ rủi ro.
Các khoản tín dụng dựa trên tài sản đảm bảo loại 1 thờng đảm bảo an toàn cho
Ngân hàng, song gây khó khăn cho cả Ngân hàng lẫn khách hàng trong việc
định giá, bảo quản, làm cho thời gian phân tích tín dụng bị kéo dài.
- Loại 2
- Loại 2, Là những tài sản đợc hình thành từ nguồn tài trợ của Ngân
hàng (đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay). Ví dụ, Ngân hàng cho
khách hàng vay tiền để mua một chiếc xe máy thì chiếc xe máy hình thành từ
vốn vay sẽ trở thành đảm bảo loại 2. Đây là biện pháp cuối cùng để Ngân
hàng có thể hạn chế việc ngời vay bán tài sản hình thành từ vốn vay. Tuy
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
9
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
nhiên, khi ngời vay không trả đợc nợ thì phần lớn các tài sản này đều giảm
giá, khó bán. Do đó tải sản đảm bảo loại hai thờng không đảm bảo cho Ngân
hàng thu đủ gốc và lãi nếu khách hàng mất khả năng thanh toán. Tài sản loại 2
thờng áp dụng cho những khách hàng mà tài sản loại 1có ít hoặc không thể trở
thành tài sản đảm bảo của Ngân hàng và thờng đợc áp dụng đối với những
khách hàng có uy tín đối với Ngân hàng.


Phân loại tài sản đảm bảo theo hình thức vật chất.
Phân loại tài sản đảm bảo theo hình thức vật chất.
Thứ nhất:
Thứ nhất:

đảm bảo bằng hàng hoá trong kho (nh nguyên, nhiên vật
liệu sản phẩm ). Nếu Ngân hàng có kho bãi riêng hoặc có phơng thức bảo
quản thích hợp thì đây là hình thức rất thuận lợi cho khách hàng và Ngân
hàng. Các nhân tố tác động đến việc chấp nhận hàng hoá làm đảm bảo cho
khoản vay:
+ Khả năng kiểm soát hàng hoá đảm bảo
+ Khả năng kiểm soát hàng hoá đảm bảo. Nếu hàng đảm bảo thuộc
kho ngời vay, hoặc kho ngời vay thuê, Ngân hàng phải nắm quyền kiểm soát
việc bán hàng hoá đó; nếu không Ngân hàng phải có kho để cất giữ hàng đảm
bảo. Ngân hàng phải nắm giữ hàng hoặc giấy tờ lu kho để đảm bảo ngời vay
không mang thế chấp cho Ngân hàng khác hoặc rút ra bán. Ngân hàng cũng
cần xem xét xem những hàng hoá đảm bảo này đã là hàng hoá đảm bảo cho
các khoản vay ở các tổ chức tín dụng khác hay cha. Khi có nhu cầu vay, ngời
vay phải trình đơn cho Ngân hàng kiểm soát hàng hoá trong kho (sau khi trừ
đi hàng hoá đảm bảo nợ khác, hàng kém phẩm chất, hàng hoá đợc tài trợ bằng
nguồn vốn tự có ). Do đó chỉ khoảng 70-80% của phần còn lại mới là đối t-
ợng cho vay của Ngân hàng.
+ Tính thị tr
+ Tính thị tr
ờng của hàng hoá đảm bảo.
ờng của hàng hoá đảm bảo. Ngân hàng quan tâm đến tính ổn
định giá trị thị trờng của hàng hoá đảm bảo. Những hàng hoá làm đảm bảo
phải là hàng hoá dễ bán và có giá cả ổn định.
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
10
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
+ Khả năng bảo quản, định giá hàng đảm bảo.
+ Khả năng bảo quản, định giá hàng đảm bảo. Điều này xuất phát từ một
số đặc thù riêng biệt của một số hàng hoá là đòi hỏi kĩ thuật bảo quản cao, nếu
không sẽ giảm giá. Do vậy Ngân hàng chỉ chấp nhận hàng hoá ít chịu ảnh h-
ởng của yếu tố môi trờng
Tất cả các hàng hoá phải đợc bảo hiểm. Bảo hiểm sẽ tránh cho Ngân
hàng những tổn thất lớn khi khi hàng bị cháy, trộm cớp, hoặc các thiên tai
khác.
Thứ hai
Thứ hai

.

Đảm bảo bằng tài sản cố định. Trong hình thức đảm bảo này
thì nhà máy, trang thiết bị sản xuất và phơng tiện vận chuyển, cây con, quyền
sử dụng đất, rừng đều có thể trở thành tài sản đảm bảo cho Ngân hàng. Đảm
bảo bằng đất đai rất phức tạp vì khách hàng phải đăng kí với Sở địa chính, hoặc
các cơ quan có thẩm quyền về việc chuyển nhợng hoặc thế chấp cho Ngân
hàng. Các nhân tố tác động đến việc chấp nhận các tài sản cố định làm đảm
bảo cho các khoản tài trợ bao gồm:
+ Quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền thuê lâu dài
+ Quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền thuê lâu dài. Điều này ảnh h-
ởng đến việc chấp nhận tài sản làm vật thế chấp bởi vì tài sản cố định phải đợc
bán khi cần thiết do đó liên quan đến quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu của tài
sản và khả năng chuyển nhợng tài sản đó. Ngân hàng cũng quan tâm đến tranh
chấp, di chúc cũng nh các qui định của pháp luật đối với tài sản đảm bảo.
+ Tính thị tr
+ Tính thị tr
ờng của tài sản đảm bảo:
ờng của tài sản đảm bảo: Giá cả của tài sản cố định th-
ờng có những giai đoạn thay đổi rất lớn. Máy móc đã lắp đặt, vận hành thờng
bị giảm giá rất lớn so với giá trị còn lại. Nhiều loại tài sản cố định bị tác động
mạnh bởi hao mòn vô hình. Bên cạnh đó nhiều loại tài sản cố định có giá trị th-
ờng xuyên gia tăng nh cây trồng, vật nuôi. Ngân hàng thờng phải nghiên cứu
những tính chất này để định tỉ lệ tài trợ hợp lý vừa đảm bảo an toàn cho Ngân
hàng hàng vừa đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng.
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
11
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
+ Bảo hiểm
+ Bảo hiểm: Ngân hàng thờng yêu cầu khách hàng phải mua bảo hiểm
đối với tài sản cố định làm đảm bảo cho khoản tài trợ.
Thứ ba
Thứ ba

:

Đảm bảo bằng hợp đồng chi trả của bên thứ ba. Nhiều
khách hàng kí hợp đồng bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ (ví dụ khách
hàng nhận thầu cung cấp xây dựng, dịch vụ ) và nhận về hợp đồng thanh
toán. Hợp đồng thanh toán là cam kết của ngời thứ ba về việc sẽ thanh toán số
tiền trong thời hạn nhất định với những điều kiện cụ thể cho khách hàng. Hợp
đồng này có thể trở thành đảm bảo cho khách hàng để nhận tài trợ của Ngân
hàng. Các nhân tố ảnh hởng đến là :
+ Khả năng chi trả của ng
+ Khả năng chi trả của ng
ời thứ ba
ời thứ ba: Việc tài trợ cho khách hàng dựa
trên các hợp đồng chi trả đã chuyển trọng tâm phân tích tuín dụng từ phía
khách hàng sang ngời thứ ba. Tình hình tài chính, uy tín, tính sòng phẳng trong
thanh toán là những yếu tố để Ngân hàng cân nhắc. Ví dụ Ngân hàng thờng dễ
chấp nhận hợp đồng bảo hiểm của các công ty bảo hiểm có tên tuổi.
+ Khả năng thực hiện hợp đồng với ng
+ Khả năng thực hiện hợp đồng với ng
ời thứ ba của khách hàng.
ời thứ ba của khách hàng.


Nếu ngời cung cấp hàng hoá và dịch vụ hoặc ngời mua không có khả năng
thực hiện hợp đồng cam kết thì bên thanh toán sẽ không thực hiện cam kết
thanh toán.
+ Các cam kết có khả năng chuyển nh
+ Các cam kết có khả năng chuyển nh
ợng:
ợng: Nếu khách hàng đã
chuyển nhợng cam kết cho ngời khác thì Ngân hàng rất khó thu hồi nợ, vì vậy
Ngân hàng phải xem xét khả năng chuyển nhợng các cam kết. Ví dụ, Ngân
hàng đề phòng có những hợp đồng bảo hiểm ngắn hạn, nắm quyền sở hữu hợp
pháp bằng cách yêu cầu công ty bảo hiểm viết giấy chuyển nhợng
Thứ t
Thứ t


:
:

Đảm bảo bằng chứng khoán: Các chứng khoán có thể đợc xem
là tài sản đảm bảo cho khoản vay. Các tài sản tài chính này rất thuận tiện đối
với Ngân hàng do phần lớn Ngân hàng đều có nghiệp vụ quản lý và kinh doanh
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
12
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
chứng khoán. Các nhân tố ảnh hởng đến việc sử dụng chứng khoán làm đảm
bảo.
+ Tính an toàn của chứng khoán
+ Tính an toàn của chứng khoán: Ngân hàng quan tâm đến tình hình
tài chính, uy tín của các tổ chức sở hữu chứng khoán, tức là ngời chi trả các
chứng khoán. Các chứng khoán của Chính phủ, các tổ chức tài chính lớn, hoặc
các công ty lớn thờng dễ đợc Ngân hàng chấp nhận đảm bảo và tài trợ với tỉ lệ
cao. Ngân hàng không chấp nhận đảm bảo bằng chứng khoán của chính khách
hàng.
+ Tính thị tr
+ Tính thị tr
ờng (tính thanh khoản).
ờng (tính thanh khoản). Các chứng khoán thờng xuyên
trao đổi trên thị trờng đợc Ngân hàng u tiên nhận làm đảm bảo so với các
chứng khoán ít trao đổi. Nhiều loại chứng khgoán giá cả bị ảnh hởng bởi tệ
nạn đầu cơ, do vậy Ngân hàng phải phân tích kĩ lỡng tính biến động trong giá
trị thị trờng của chứng khoán làm đảm bảo.
Thứ năm
Thứ năm

:

Đảm bảo bằng bảo lãnh của ngời thứ ba: Ngời thứ ba cam
kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Ngân hàng thay cho khách hàng
khi khách hàng không có khả năng chi trả. Bảo lãnh là hình thức đảm bảo đối
nhân. đối với ngời bảo lãnh có uy tín (Nhà nớc, các tổ chức tài chính lớn, các
công ty lớn ) Ngân hàng chấp nhận bảo lãnh không cần tài sản đảm bảo. Đối
với ngời bảo lãnh cha có uy tín, Ngân hàng đòi hỏi phải có tài sản đảm bảo cho
bảo lãnh đó. Các nhân tố ảnh hởng gồm:
+ Uy tín của ngời bảo lãnh
+ Tài sảncủa ngời bảo lãnh
Thứ sáu
Thứ sáu

:

Đảm bảo bằng số d bù: Trong một số trờng hợp Ngân hàng
không đòi hỏi đảm bảo dới hình thái hàng hoá hay bảo lãnh. Các đảm bảo loại
này thờng gắn với thủ tục phức tạp, không có lợi cho cả Ngân hàng lẫn khách
hàng. Hơn nữa, Ngân hàng dự tính, nếu rủi ro xảy ra đối với khách hàng thì tổn
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
13
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
thất cũng chỉ chiếm một phần số tiền vay. Trong trờng hợp này Ngân hàng có
thể yêu cầu đảm bảo bằng tài sản kí quĩ (số d bù). Số tiền này có thể chuyển
sang tài khoản khác của khách hàng, hoặc vẫn lu trên tài khoản tiền gửi song
khách hàng không đợc quyền sử dụng cho đến khi đã trả nợ hết cho Ngân
hàng. Đảm bảo bằng kí quĩ thủ tục đơn giản và phần lớn kí quĩ có giá trị nhỏ
hơn số tiền vay. Tuy nhiên, kí quĩ làm đọng vốn của khách, và trong trờng hợp
tiền vay lớn, ngân quĩ của khách hàng nhỏ hoặc cần thiết để lu chuyển, tỉ lệ kí
quĩ cao thì hình thức đảm bảo này lại không phù hợp.
1.4. Các nguyên tắc tín dụng
Đặc thù của hoạt động Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói
riêng là hàm chứa rất nhiều rủi ro vì mọi rủi ro của khách hàng đều liên đới
hoặc trực tiếp ảnh hởng đến Ngân hàng. Để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động
tín dụng của mình các Ngân hàng thờng tiến hành phân loại và lựa chọn khách
hàng, tức là lựa chọn cho mình những khách hàng tốt nhất, những khách hàng
có thể đảm bảo tính an toàn, tính sinh lời của Ngân hàng. Sự lựa chọn này dựa
trên một số nguyên tắc tín dụng, các nguyên tắc tín dụng này đợc cụ thể hoá
trong các qui định của NHNN và các NHTM bao gồm:
- Thứ nhất:
- Thứ nhất: Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời
gian xác định. Với nguyên tắc này Ngân hàng có thể kế hoạch hoá đợc các
dòng tiền ra_vào để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Các khoản tín dụng của
Ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của khách hàng và các
khoản Ngân hàng đi vay mợn và Ngân hàng phải trả gốc và lãi theo đúng cam
kết. Do vậy Ngân hàng luôn yêu cầu khách hàng thực hiện đúng cam kết này.
Đây là điều kiện để Ngân hàng tồn tại và phát triển.
- Thứ hai:
- Thứ hai: Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn đúng mục đích đã
thoả thuận với Ngân hàng, đó là những thoả thuận không trái với qui định của
pháp luật và các qui định khác của Ngân hàng cấp trên. Luật pháp qui định
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét