Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng
2
CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ THUYẾT KINH TẾ VỀ ĐẦU TƯ CÙNG
VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
I. Tổng quan về đầu tư
1. Khái niệm:
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành
các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn
hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy , mục tiêu
của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy
sinh về nguồn lực mà nhà đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.
Nguồn lực được nói đến ở đây có thể là tiền, tài nguyên, công nghệ,
nhà xưởng, sức lao động, trí tuệ… và các mục đích hướng tới chính là sự tăng
lên về tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh
viện, máy móc…), tài sản trí tuệ (trình độ chuyên môn, kỹ năng tay nghề,
năng suất lao động, trình độ quản lý… ) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện
làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất XH.
Có hai hình thức đầu tư mà ta xét:
+ Đầu tư trực tiếp là sự đầu tư thông qua sản xuất, cung cấp dịch vụ,
buôn bán tại nước nhận đầu tư. Hình thức đầu tư này thường dẫn đến sự thành
lập một pháp nhân riêng như công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước
ngoài, chi nhánh công ty nước ngoài. Đầu tư trực tiếp góp phần làm tăng tổng
sản phẩm quốc nội, thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ và phương thức
quản lý, kinh doanh tiên tiến, đồng thời góp phần giải quyết vấn đề việc làm
tại nước nhận đầu tư.
+ Đầu tư gián tiếp là sự đầu tư thông qua việc buôn bán cổ phiếu và
các giấy tờ có giá trị, gọi chung là chứng khoán. Hình thức đầu tư này không
Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng
3
dẫn đến việc thành lập pháp nhân riêng. Hình thức này mang tính đầu cơ nên
có thể thu lãi rất lớn thông qua sự biến động giá chứng khoán (điều này lại
liên quan đến nhiều yếu tố khác như tình hình chính trị, phát triển kinh tế,
chính sách điều hành vĩ mô, v.v ), nhưng cũng chính vì thế mà có thể phải
chịu những rủi ro khó lường trước. Đối với nước nhận đầu tư, hình thức đầu
tư góp phần giải quyết sự khan hiếm vốn, nhưng khi các nhà đầu tư đồng loạt
rút đi (bằng cách bán lại chứng khoán) sẽ dễ dẫn đến những biến động trên thị
trường tiền tệ, ảnh hưởng tới nền kinh tế
2. Các loại hình đầu tư
2.1. Đầu tư phát triển
* Khái niệm
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dung vốn
trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra
những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kĩ
năng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát
triển.
Đầu tư phát triển đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực. Theo nghĩa hẹp,
nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn
lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc, thiêt bị, tài
nguyên. Như vậy, khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả
hoạt động đầu tư phát triển cần tính đúng tính đủ các nguồn lực tham gia.
Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư
bỏ vốn thực hiện nhằm đạt những mục tiêu nhất định. Trên quan điểm phân
công lao động XH, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành
và đầu tư thao lãnh thổ. Trên góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đối tượng
đầu tư chia thành hai nhóm chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công
Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng
4
trình phi lợi nhuận. Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư
chia thành: loại được khuyến khích đầu tư, loại không được khuyến khích đầu
tư và loại cấm đầu tư.
Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà
xưởng, thiết bị…) tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kĩ
thuật…) và tài sản vô hình (phát minh, sáng chế, bản quyền…). Các kết quả
đạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của XH. Hiệu
quả của đầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế XH
thu được với chi phí chi ra để đạt được kết quả đó. Kết quả và hiệu quả đầu tư
phát triển cần được xem xét cả trên phương diện chủ đầu tư và XH, đảm bảo
kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích phát huy vai trò chủ động sáng tạo của
chủ đầu tư, vai trò quản lí, kiểm tra giám sát của cơ quan quản lí Nhà nước
các cấp. Thực tế, có những khoản đầu tư tuy không trực tiếp tạo ra tài sản cố
định và tài sản lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đầu tư cho y
tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo… Nhưng lại rất quan trọng để nâng cao chất
lượng cuộc sống và vì mục tiêu phát triển, do đó cũng được xem là đầu tư
phát triển.
* Mục đích
Đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng
đồng và nhà đầu tư. Trong đó, đầu tư Nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời
sống của các thành viên trong XH. Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu
chi phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn
nhân lực…
Hoạt động của đầu tư phát triển là một quá trình diễn ra trong thời kì
dài và tồn tại vấn đề “độ trễ thời gian”. Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp
giữa thời gian đầu tư và thời gian vận hành các kết quả đầu tư. Đầu tư hiện tại
Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng
5
nhưng kết quả thường được thu trong tương lai. Đặc điểm này của đầu tư cần
được quán triệt khi đánh giá kết quả ,chi phí và hiệu quả đầu tư phát triển.
* Đặc điểm của đầu tư phát triển:
- Quy mô tiền vốn vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát
triển thường rất lớn. Vốn đầu tư lớn nằm khô đọng lâu trong suốt quá trình
thực hiện đầu tư. Lao động cần sử dụng cho cac dự án rất lớn, đặc biệt đối với
các dự án trọng điểm quốc gia.
- Thời kì đầu tư kéo dài: thời kì đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện
dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công trình đầu
tư phát triển có thời gian kéo dài hàng chục năm.
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: thời gian vận hành các
kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời
hạn sử dụng và đào thải công trình.
- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây
dựng thường phát huy tác dụng ở ngay nơi no được tạo dựng nên, do đó, quá
trình thực hiện đầu tư cũng như thời kì vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh
hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, XH vùng. Không thể dễ dàng
di chuyển các công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác, nên công tác
quản lí hoạt động đầu tư phát triển cần phải quán triệt đặc điểm này trên một
số nội dung sau:
+ Trước tiên, cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng đắn.
+ Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý.
- Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao, do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kì
đầu tư kéo dài, thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài… nên mức
độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao.
Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng
6
* Nội dung của đầu tư phát triển:
Hoạt động đầu tư phát triển bao gồm nhiều nội dung, tuỳ theo cách
tiếp cận.
Căn cứ vào lĩnh vực phát huy tác dụng, đầu tư phát triển bao gồm các
nội dung sau: đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kĩ
thuật chung của nền kinh tế, đầu tư phát triển văn hoá giáo dục y tế và dịch vụ
XH khác, đầu tư phát triển khoa học kĩ thuật và những nội dung phát triển
khác. Cách tiếp cận này là căn cứ để xác định quy mô vốn đầu tư, đánh giá
kết quả và hiệu quả hoạt động cho từng ngành lĩnh vực trong nền kinh tế quốc
dân.
Theo khái niệm, nội dung đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư những tài
sản vật chất (tài sản thực) và đầu tư những tài sản vô hình. Đầu tư các tài sản
vật chất gồm: đầu tư tài sản cố định (đầu tư xây dựng cơ bản) và đầu tư vào
hàng tồn trữ. Đầu tư tài sản vô hình gồm các nội dung sau: đầu tư nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động
khoa học, kĩ thuật, đầu tư xây dựng thương hiệu, quảng cáo.
2.2. Đầu tư tài chính
- Đầu tư tài chính (đầu tư tài sản tài chính) là loại đầu tư trong đó người
có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá trên thị trường tiền
tệ, thị truờng vốn để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu
chính phủ) hoặc lợi nhuận tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty phát hành (mua cổ phiếu…). Góp vốn (mua cổ phần) thành
lập doanh nghiệp lần đầu, mua lại cổ phần hoặc sáp nhập doanh nghiệp. Đầu
tư tài chính thường được thực hiện gián tiếp thông qua các trung gian tài
chính như các ngân hàng, các quĩ đầu tư, công ty chứng khoán.
Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng
7
- Đầu tư tài sản tài chính là loại đầu tư không trực tiếp làm tăng sản
phẩm thực (tài sản vật chất) cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan hệ quốc
tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính cho chủ đầu tư.
Với sự hoạt động của hình thức đầu tư này, vốn được lưu chuyển dễ dàng, khi
cần có thể rút ra nhanh chóng. Đây thực sự là một nguồn cung cấp vốn quan
trọng cho đầu tư phát triển.
2.3 Đầu tư thương mại
Đầu tư thương mại là hình thức đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra
mua hàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận chênh lệch
do giá khi mua và khi bán. Loại đầu tư này không tạo ra tài sản mới cho nền
kinh tế (nếu không xét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính
của nhà đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng
hoá giữa người bán với nhà đầu tư và giữa nhà đầu tư với khách hàng của họ.
Tuy nhiên đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải
vật chất do đầu tư phát triển tạo ra. Từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu
cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ
nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung.
3. Các lí thuyết kinh tế về đầu tư
3.1.Số nhân đầu tư
Số nhân đầu tư phản ánh vai trò của đầu tư đối với sản lượng. Nó cho
thấy sản lượng gia tăng bao nhiêu khi đầu tư gia tăng 1 đơn vị .
Công thức tính:
k = ∆Y/ ∆I (1)
Trong đó: ∆Y: Mức gia tăng sản lượng
∆I : Mức gia tăng đầu tư
k : Số nhân đầu tư
Dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng
8
Từ công thức (1) ta được
∆Y = k * ∆I (2)
Như vậy, việc gia tăng đầu tư có tác dụng khuyếch đại sản lượng tăng
lên số nhân lần. Trong công thức trên, k là số dương lớn hơn 1. Vì, khi I = S,
có thể biến đổi công thức (2) thành:
k =
I
Y
∆
∆
=
s
Y
∆
∆
=
CY
Y
∆−∆
∆
=
Y
C
∆
∆
−1
1
=
MPC−
1
1
=
MPS
1
(3)
Trong đó:
MPC =
Y
C
∆
∆
Khuynh hướng tiêu dùng biên
MPS =
Y
s
∆
∆
Khuynh hướng tiết kiệm biên
Vì MPS < 1 nên k >1
Nếu MPC càng lớn thì k càng lớn, do đó, độ khuyếch đại của sản lượng
càng lớn. Sản lượng càng tăng, công ăn việc làm càng tăng.
Thực tế, gia tăng đầu tư, dẫn đến cầu về các tư liệu sản xuất (máy móc,
thiết bị, nguyên nhiên vật liệu…) và quy mô lao động. Sự kết hợp hai yếu tố
này làm cho sản xuất phát triển, kết quả là gia tăng sản lượng nền kinh tế.
D
ự
a vào các lý thuy
ế
t kinh t
ế
và
đầ
u t
ư
gi
ả
i thích vai trò c
ủ
a
đầ
u t
ư
v
ớ
i t
ă
ng tr
ưở
ng
9
3.2. Gia tốc đầu tư
Số nhân đầu tư giải thích mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư gia tăng sản
lượng hay việc gia tăng đầu tư có ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng. Như
vậy, đầu tư xuất hiện như một yếu tố của tổng cầu. Theo Keynes (nhà kinh tể
học trong thập niên 30 thế kỉ trước), đầu tư cũng được xem xét từ góc độ tổng
cung, nghĩa là, mỗi sự thay đổi của sản lượng làm thay đổi đầu tư như thế nào.
Theo lí thuyết này, để sản xuất ra 1 đơn vị đầu ra cho trước cần phải có
một lượng vốn đầu tư nhất định. Tương quan giữa sản lượng và vốn đầu tư có
thể được biểu diễn như sau :
x =
Y
K
(4)
Trong đó:
K : Vốn đầu tư tại thời kì nghiên cứu
Y : Sản lượng tại thời kì nghiên cứu
x : Hệ số gia tốc đầu tư
Từ công thức (4) suy ra :
K = x * Y (5)
Như vậy, nếu x không đổi thì khi quy mô sản lượng sản xuất tăng dẫn
đến nhu cầu vốn đầu tư tăng theo và ngược lại. Nói cách khác, chi tiêu đầu tư
tăng hay giảm phụ thuộc nhu cầu về tư liệu sản xuất và nhân công. Nhu cầu
các yếu tố sản xuất lại phụ thuộc vào quy mô sản phẩm cần sản xuất.
Theo công thức (5), có thể kết luận: sản lượng phải tăng liên tục mới là
cho đầu tư tăng cùng tốc độ, hay không đổi so với thời kì trước.
D
ự
a vào các lý thuy
ế
t kinh t
ế
và
đầ
u t
ư
gi
ả
i thích vai trò c
ủ
a
đầ
u t
ư
v
ớ
i t
ă
ng tr
ưở
ng
10
* Ưu điểm của lí thuyết gia tốc đầu tư :
- Lí thuyết gia tốc đầu tư phản ánh quan hệ giữa sản lượng với đầu tư.
Nếu x không đổi trong kì kế hoạch thì có thể sử dụng công thức để lập kế
hoạch khá chính xác.
- Lí thuyết phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tư.
Khi kinh tế tăng trưởng cao, sản lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh doanh
lớn, dẫn đến tiết kiệm tăng cao và đầu tư nhiều.
*Nhược điểm của lí thuyết gia tốc đầu tư:
- Lí thuyết giả định quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng và đầu tưlà cố
định.thực tế đại lượng này (x) luôn luôn biến động do sự tác động của nhiều
nhân tố khác nhau.
- Thực chất lí thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI) chứ
không phải sự biến động của tổng đầu tư do sự tác động của thay đổi sản
lượng. Vì, từ công thức (5) có thể viết:
+ Tại thời điểm t:
tt
YxK ∗=
(6)
+ Tại thời điểm (t-1):
11 −−
∗=
tt
YxK
(7)
+ Lấy (6) trừ (7) ta được:
)(
111 −−−
−∗=∗−∗=−
tttttt
YYxYxYxKK
(8)
Trong đó:
1−
−
tt
KK
: Đầu tư ròng và bằng
)( DI
t
−
là khấu hao
Do đó:
YxYYxKKDI
ttttt
∆∗=−∗=−=−
−−
)(
11
(9)
D
ự
a vào các lý thuy
ế
t kinh t
ế
và
đầ
u t
ư
gi
ả
i thích vai trò c
ủ
a
đầ
u t
ư
v
ớ
i t
ă
ng tr
ưở
ng
11
Và đầu tư ròng:
YxI ∆=∆ *
(10)
Như vậy, theo lí thuyết này, đầu tư ròng là hàm của sự gia tăng sản
lượng đầu ra. Nếu sản lượng tăng, đầu tư ròng tăng (lớn hơn x lần). Nếu sản
lượng giảm, đầu tư thuần sẽ âm. Nếu tổng cầu về sản lượng trong thời gian
dài không đổi, đầu tư ròng sẽ bằng 0. (Khi
0=∆y
thì
∆
I =0)
- Theo lí thuyết này toàn bộ vốn đầu tư mong muốn đều được thực hiện
ngay trong cùng một thời kì. Điều này không đúng bởi nhiều lí do, chẳng hạn
do việc cung cấp các yếu tố liên quan đến thực hiện vốn đầu tư không đáp
ứng, do cầu vượt quá cung… Do đó, lí thuyết gia tốc đầu tư tiếp tuc được
hoàn thiện qua thời gian.theo lí thuyết gia tốc đầu tư sau này thì vốn đầu tư
mong muốn được xác định như là một hàm của mức sản lượng hiện tại và quá
khứ, nghĩa là, qui mô đầu tư mong muốn được xác định trong dài hạn.
Nếu gọi:
t
K
và
1−t
K
là vốn đầu tư thực hiện ở thời kì t và (t-1)
*t
K
là vốn đầu tư mong muốn
λ
là một hằng số ( 0<
λ
<1 )
Thì:
)(*
11 −−
−=−
tttt
KKKK
λ
Có nghĩa là, sự thay đổi đầu tư thực hiện giữa hai kì chỉ bằng một phần
của chênh lệch giữa vốn đầu tư mong muốn thời kì t và vốn đầu tư thực hiện
thời kì t - 1. Nếu
1=
λ
thì
*tt
KK
=
Và lí thuyết gia tốc đầu tư hoàn thiện sau này cũng đã đề cập đến tổng
đầu tư.
Theo lí thuyết gia tốc đầu tư ban đầu thi đầu tư thuần:
1−
−=−=∆
tttt
KKDII
Theo lí thuyết gia tốc đầu tư sau này thì:
=−
−1tt
KK
)(*
1* −
−
tt
KK
λ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét