Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Cái đẹp của ca từ trong nhạc phẩm Trịnh Công Sơn


5
thơ, đúng là một bài thơ, sâu sắc và thấm thía đến từng chữ, từng câu, khơng có
chữ thừa, khơng có chứ thiếu: “Cái đẹp trong ca từ, cả xác chữ lẫn hồn thơ, bảng
lảng lờ mờ khó phân định cho đúng nghĩa, nhưng rõ ràng, đẹp làm sao nhưng
cũng hơi ma qi thế nào…”.
Xem xét ca từ của Trịnh Cơng Sơn để thấy rằng, ca khúc chỉ có thể là
nghệ thuật và sự cứu rỗi con người khi nó đẹp như một bài thơ. Người nghệ sĩ
viết nhạc nhưng cũng cần hành trình vào bề sâu của ngơn ngữ, lao động sáng tạo
một cách nghiêm túc.

B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CÁI ĐẸP TRONG ÂM NHẠC MANG ĐẬM CHẤT THƠ
1. Mối quan hệ giữa cái đẹp trong thơ và cái đẹp trong nhạc Trịnh Cơng
Sơn

Được sinh ra từ đời sống tinh thần phong phú và đa phức của lồi người,
những đứ con của nghệ thuật là một thể hợp nhất khó tách rời. Đứng trên nhiều
góc độ khac nhau người ta đã cố gắng phân chia nghệ thuật thành bảy loại hình:
kiến trúc, hội họa, âm nhạc, văn học, điêu khắc, điện ảnh, sân khấu. Nhưng ranh
giới giữa chúng vẫn là sợi dây mảnh dẻ đến vơ hình, Kơginốp đã gọi: kiến trúc
là âm nhạc ngưng tụ, âm nhạc bằng đá. Hoa văn là âm nhạc được khắc họa, âm
nhạc của thị giác. Nhảy múa là âm nhạc của cơ thể. Thơ trữ tình là âm nhạc của
ngơn ngữ. Âm nhạc là kiến trúc của âm thanh, là hoa văn của thính giác, là thơ
trữ tình khơng lời…
Trong sợi dây liên kết bền vững của văn học và các loại hình nghệ thuật
thì mối liên hệ giữa văn học và hội họa, văn học và âm nhạc là hai mối liên hệ
cơ bản nhất. Mặc dù ca từ của Trịnh Cơng Sơn cũng giống như những bức họa
khắc tạc nên hàng loạt hình ảnh siêu thực , tượng trưng. Nói đến mối quan hệ
thơ ca - âm nhạc, tức là phải nói đến ảnh hưởng của hai loại hình nghệ thuật này:
Nghệ thuật ngơn ngữ và nghệ thuật âm thanh. Âm nhạc và thơ ca cùng có một
phương thức phản ánh, là phương thức phản ánh trữ tình. Ca từ tìm thấy trong
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

6
thơ ca những tiếng hát thiết tha của cảm xúc con người, nên trong hành trình đến
với trái tim, ca từ chọn thơ ca làm bạn đồng hành. Và như thế ca từ trong âm
nhạc mang chất thơ rõ rệt. Cũng có thể nói rằng, chất thơ là đặc trưng quan trọng
bậc nhất của ca từ âm nhạc. Một bài hát hay phải đẹp như một bài thơ trữ tình
đặc sắc. Trong những tác phẩm thanh nhạc của âm nhạc Việt Nam, dường như ta
thấy hình tượng ngơn ngữ và hình tượng âm nhạc trùng khớp. Nghe nhạc Văn
Cao, ta thấy ơng sang trọng như một ơng hồng với “tứ nhạc phong phú, nét
nhạc thanh thốt và dìu dặt, người thưởng thức đi vào cõi êm đềm, quấn qt
giữa sự giao dun thơ và nhạc”. Còn âm nhạc Trịnh Cơng Sơn, đó là những bài
thơ - nhạc với ca từ đẹp đến độc đáo, lạ kỳ, đó là cái đẹp trong cõi thơ Trịnh
Cơng Sơn.
2. Trịnh Cơng Sơn - quan điểm sáng tác
Sinh thời Trịnh Cơng Sơn đã từng viết: “ Tơi rất ngại nói về mình mặc dù
đã có nhiều cơ sở xuất bản báo chí trong và ngồi nước đề nghị viết về một q
trình khá dài trong cuộc đời làm nghệ thuật của tơi” (Thế giới âm nhạc - tháng
1/1997). Quả thật, hơn 600 bài của ơng thì hiếm có ai biết hết, nhưng những bài
viết như chuyện trò, tâm sự của ơng thì những người u nhạc Trịnh và u văn
học đều khơng lấy làm lạ. Ơng viết về những trăn trở trong đời riêng, kỷ niệm về
sự ra đời của những ca khúc, đặc biệt ơng còn tỏ bày suy nghĩ về vai trò, chức
năng của âm nhạc, nghệ thuật, về cội nguồn sáng tạo, lý giải sự quyện hòa thơ -
nhạc trong sáng tác của mình.
Trịnh Cơng Sơn viết nhạc, sáng tác ca khúc, vẽ tranh khong phải như một
kẻ chọn nghề mà như một định mệnh. Âm thanh, ngơn ngữ, hình khói vây bủa
và chống ngợp tâm lý của người nghệ sĩ thiên tài ấy, dù cho năm tháng đầu đời
ơng chối bỏ và coi viết lách là nỗi ám ảnh “xướng ca vơ lồi” (chữ của Trịnh
Cơng Sơn). Ơng sáng tác bởi ơng tìm thấy tự do và tìm thấy mối giao cảm giữa
hồn mình và hồn nhân loại trên mảnh đất nghệ thuật nhỏ nhắn. Trịnh Cơng Sơn
viết: “ca khúc là đời sống thứ hai sau cái thân thể mà cha mẹ đã sinh thành…”.
Nghệ thuật đối với ơng là u cầu tự thân, là tiếng nói thơi thúc được cất lên,
được hát lên, và trên hết nó là đời sống của ơng; mỗi câu chữ và mỗi nốt nhạc
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

7
cũng có một thân phận, một cuộc đời riêng của nó. Cuộc đời ấy dù ở trên mơi
hay trong trái tim con người thì theo Trịnh Cơng Sơn cũng là “thăng hoa đồng
thời cũng để an ủi. Sản phẩm văn nghệ chỉ đẹp khi có khả năng xóa đi những nỗi
giận hờn”. Ơng nói nhiều về vai trò của tiếng hát, của nghệ thuật; nghệ thuật
sinh ra từ thân thể của người nghệ sĩ, nó hàm chứa “một cõi nhân sinh bề bộn
những khổ đau và hoan lạc, khi thốt thai, dù là thơ dại nó cũng phải ngợi ca và
an ủi, vỗ về linh hồn nhân loại, nó nhắc nhở con người một điều giản dị: “Tơi
hát là tơi hiện hữu. Tơi tồn tại cũng có nghĩa là tơi mất đi. Tơi mất đi nhưng
tiếng hát còn ở lại. Ơr lại như một chứng tích vừa buồn bã, vừa huy hồng của
một cõi đời” (Thế giới Âm nhạc. 1996). Tiếng hát câu ca như một cuộc rong
chơi của con người nhỏ bé muốn chống lại cái vơ hạn vơ cùng của thời gian trơi
chảy. Thân xác con người rồi có ngày cũng sẽ trở về với cát bụi, nhưng tâm hồn
thì sẽ bất tử cùng tiếng hất, tiếng hát muốn vậy, theo Trịnh Cơng Sơn phải
“chun chở được một thơng điệp của lòng nhân ái” (Thế giới Âm nhạc,1/1997).
Âm nhạc thánh thiện phải như một bản kinh cầu gột rửa những bụi bặm tị hiềm
trong góc khuất con người. Đó chẳng phải là mong ước của riêng cuộc đời
những câu hát mà còn là cái đích vươn lên của những câu thơ, những bức tranh
và những bộ phim…Đó chính là chức năng, nhiệm vụ của nghệ thuật dù ở bất
kỳ một lĩnh vực nào.
Từng khẳng định trong cuộc phỏng vấn : “Sự mất mát và cái chết là ám
ảnh lớn nhất đời tơi”, nghệ thuật của Trịnh Cơng Sơn cất cánh từ bệ phóng của
hai nỗi ám ảnh dai dẳng ấy - nó trở thành cội nguồn sáng tạo trong hầu hết các
sáng tác thơ ca, âm nhạc, hội họa của ơng. Nhưng cũng phải nhìn sâu hơn vào
hai điều ơng lo sợ. Xét đến cùng, Trịnh Cơng Sơn sợ cái chết và mất mát là bởi
ơng u cuộc sống q nhiều và khơng muốn mất nó. Ơng trân trọng tình u,
lúc nào cũng muốn giữ cho mình một ý nghĩa bền vững: “Cuộc sống khơng thể
có tình u”, ơng đi qua cái hun náo của cuộc đời và thích thú với sự tĩnh lặng
trong những ngày nằm bệnh “nằm n và theo dõi sự suy tưởng của mình trước
cuộc đời. Nằm và cảm nhận cùng một lúc sự gần gũi và cả sự xa vắng đối với tất
cả những gì đang tồn tại hoặc vây quanh đời sống chúng ta”; ơng tri ân và ước
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

8
mơ “tất cả chúng ta, đã cùng có mặt trước sau trong cuộc đời, đối với những ai
đa đem đến những khúc hát, những bản tình ca, những lời rao truyền được hát
lên như bi ca hoặc hạnh ca thì cũng nên có phút nhẹ lòng được nhớ lại và nghĩ
đến” Một tâm hồn u sống và tin cả vào niềm tuyệt vọng, lắng hồn xuống để
được u cuộc đời bằng nỗi lòng của tên tuyệt vọng, tâm hồn ấy là tâm hồn rung
cảm của một nhạc sĩ và cả một thi sĩ.
Quan điểm sâu sắc về vai trò của nghệ thuật, cội nguồn sáng tạo bắt
nguồn từ rung cảm cuộc đời, Trịnh Cơng Sơn tìm cho mình một lối rẽ vào con
đường ca khúc. Ơng phác thảo chân dung mình: “Trong những cách diễn đạt
bằng tiếng nói, bằng chữ viết và bằng nhiề phương tiện khác, tơi thấy tâm hồn
mình có khuynh hướng nghiêng về phía ca khúc”. Gieo hạt mầm âm nhạc,
nhưng cây nghệ thuật của Trịnh Cơng Sơn lại trĩu nặng những quả thơ, người
nghe đã giật mình nói ơng là nhạc sĩ đã xóa nhòa ranh giới giữa thi ca và âm
nhạc. Trịnh Cơng Sơn đi giữa thơ và nhạc, người u thơ thấy ơng nghiêng mình
vào cõi thơ, người u nhạc lại thấy ơng gần với cõi nhạc hơn. Có một lần ơng
tự ví von: ‘Tâm hồn tơi như là một ngơi nhà mà hội họa, âm nhạc và thi ca chỉ là
thời tiết mùa màng đổi thay của một sự sống đang trú ngụ ở trong đó”. Cái sự
sống ấy là điều Thiện và cái Đẹp, là khát khao mang đén cho đời cái bất diệt.
Nhạc Trịnh Cơng Sơn giàu chất thơ, người ta lắng nghe mà suốt đờivẫn
chưa hiểu hết những điều ơng gửi gắm - đó cũng là độ dư ba đồng vọng mà một
tác phẩm thơ phải có.
Đặc biệt, khi Trịnh Cơng Sơn viết về âm nhạc, về cuộc đời ơng cũng dùng
một lối viết của những áng văn xi - thơ. Đọc những trang viết thấm đẫm cảm
xúc ấy, ngòi bút của ơng là sự quện hòa đến thăng hoa của các loại hình nghệ
thuật.
II. CÁI ĐẸP TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CƠNG SƠN
1. Cái đẹp từ xác chữ
Một ca khúc hay là sự kết hợp hài hòa giữa nét nhạc và ca từ. Ca khúc của
TRịnh Cơng Sơn khơng chỉ hay mà còn tạo ra ám ảnh đối với người nghe. Có lẽ
chính ca từ đã làm trong nhiệm vụ đó. Bởi mỗi bài hát của ơng với ca từ đặc sắc
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
như một bài thơ tâm sự, giãi bày. Theo Nguyễn Duy: “Chất thơ trong ca khúc
Trịnh Cơng Sơn bảng lảng, lờ mờ khó phân định”, nó tỏa ra từ hồn thơ, thấm sâu
vào xác chữ; nhưng thiết nghĩ nó khơng tạo ra sự thách đố cho người đọc, trái lại
bắt đầu từ xác chữ tiến đến hồn thơ chúng ta có thể khám phá, định dạng được
những đặc sắc của chất thơ trong sáng tác Trịnh Cơng Sơn. Chất thơ khơng tồn
tại một cách vơ hình, mà nó thể hiện sinh động ở hình thức từ cấp độ thể thơ đến
ngơn từ, ở những thơng điệp mà tác giả muốn gửi gắm. Để khẳng định nhạc
Trịnh Cơng Sơn có mối liên hệ chặt chẽ với thơ ca, chúng tơi sẽ khám phá ca từ
trong nhiều ca khúc của ơng ở cả hai mặt là hình thức (xác chữ) và nội dung
(hồn thơ).
1.1. Cái đẹp từ thể thơ
Trịnh Cơng Sơn viết nhạc và lựa chọn thơ là người bạn đường trung thành
với ca khúc trên hành trình đến với người nghe là điều có thể giải thích được.
Trong văn học, người ta thường nói “nội dung nào hình thức nấy”. Tâm hồn và
cái nhìn của ơng đối với cuộc sống phù hợp với cách biểu hiện của thơ ca -một
thể loại nặng về diễn đạt thế giới nội tâm, tình cảm của người viết.
Đối với ca từ Trịnh Cơng Sơn, người đọc nhiều khi chỉ quan tâm đến sự
sáng tạo ngơn từ độc đáo, thế nhưng để có thể nói mỗi tác phẩm của ơng giống
như một bài thơ trữ tình đặc sắc thì chỉ nhắc đến ngơn từ là khơng đủ. Đọc ca từ
Trịnh Sơng Sơn có một điều thú vị là sự xuất hiện của thể thơ tương đương một
bài thơ trọn vẹn.
Mỗi bài thơ trong sáng tác của ơng đều có mặt mạnh trong nghệ thuật biểu
hiện khác nhau. “Cái mạnh trong thơ năm chữ là chất hồi niệm”, thơ lục bát là
khả năng thể hiện tâm tình sâu lắng… Như vậy, cách thứuc mà người viết lựa
chọn một hình thứuc thơ để chuyển tải nội dung, cũng phần nào nói lên tâm
trạng, phong cách của anh ta. Đối với Trịnh Cơng Sơn, thể thơ tự do và hợp thể
chiếm ưu thế rất lớn trong các sáng tác của ơng. Bởi thơ tự do diễn tả một cách
trung thực nội dung, cảm xúc khơng bị lệ thuộc vào khn khổ và luật lệ thơ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

10
Thơ tự do của Trịnh Cơng Sơn là sự biến hóa linh hoạt của các thể thơ:
thơ 7 chữ xen 5 chữ, thơ 5 chữ xen 7 chữ, thơ 6 chữ xen 7 chữ… Có thể gặp
hiện tượng này ở nhiều sáng tác:
“Nắng có hồng bằng đơi mơi em
Mưa có buồn bằng đơi mắt em
Tóc em từng sợi nhỏ
Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh

Gió sẽ mừng vì tóc em bay
Cho mây hờn ngủ qn trên vai
Vai em gầy guộc nhỏ
Như cánh vạc về chốn xa xơi”
(Như cánh hạc bay).
Tồn bài thơ là sự kết hợp hài hòa của những câu thơ 7 chữ và câu thơ 5
chữ. Cũng có thể gặp thể 8 chữ xen 9 chữ ở bài: “Bên đời hiu quạnh”/
“Một lần chợt nghe q qn tơi xưa
Giọng người gọi tơi nghe tiếng rất nhu mì
Lòng thật bình n mà sao buồn thế
Giật mình nhìn tơi ngồi hát bao giờ

Rồi một lần kia khăn gói đi xa
Tưởng rằng được qn thương nhớ nơi qn nhà
Lòng thật bình n mà sao buồn thế
Giật mình nhìn tơi ngồi khóc bao giờ ”
Sự kết hợp giữa các thể thơ trong thơ tự do của Trịnh Cơng Sơn tạo cho
thơ ơng một đặc điểm riêng, đó là thơ tự do hợp thể. Đặc điểm này khiến cho
những vần thơ, khổ thơ khơng bị rơi vào tình trạng “cắt năm cắt bảy” những câu
thơ đang liền mạch mà nhiều bài thơ tự do của các tác giả khác đơi khi gặp phải.
Do đó, kết cấu bài thơ khơng bị rời rạc mà hài hòa và chặt chẽ Đó là nhân tố
tạo nên vẻ đẹp trong ca từ và trong cả nội dung của ca khúc Trịnh Cơng Sơn.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

11
Đọc những bài thơ - nhạc Trịnh ta cũng bắt gặp hồn thơ dân gian dung dị
thân thương ấy:

“Hà Nội mùa thu
Cây cơm nguội vàng
Cây bàng lá đỏ
Nằm kề bên nhau”
(Nhớ mùa thu Hà Nội).

“Đêm chong đèn ngồi nhớ lại
Từng câu chuyện ngày xưa
Mẹ về đứng dưới mưa
Che đàn con nằm ngủ”
(Huyền thoại mẹ)
Thể 4 chữ, 5 chữ trong ca từ Trịnh Cơng Sơn mang hơi thở dân gian
nhưng đã được quỵệnhòa cùng sự sáng tạo tài hoa của ơng nên nó cũng tạo nên
một vẻ đẹp độc đáo lạ thường.
Thơ lục bát của Trịnh Cơng Sơn cũng có những nét mới. Nếu như Tố
Hữu dung giọng tâm tình của lục bát để viết về các sự kiện lớn lao của đất nước
thì Trịnh lại đưa vào thơ lục bát triết lý về cõi đời, cõi sống theo tư tưởng nhà
Phật.
“ Con chim ở đậu cành tre
Con cá ở trọ trong khe nước nguồn

Tơi nay ở trọ trần gian
Trăm năm về chốn xa xơi cũng gần

Xưa kia ở đậu miền xa
Cơn gió ở trọ bao la đát trời

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

12
Nhân gian về trọ nhiều nơi
Bâng khng vì những đơi mơi rất hồng”.
(ở trọ).
Những bài thơ - nhạc khác của Trịnh Cơng Sơn ở thể 7 chữ, 8 chữ, 10
chữ dường như đều là sự biến đổi rát linh hoạt của thơ 4, 5 chữ và cả 3 chữ:
“Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao”
(Diễm xưa).
Về mặt thể thơ, chất thơ làm cho những ca khúc của Trịnh Cơng Sơn
thực sự mang hình thức thơ ca. Ơng tiếp nối những thể thơ truyền thống của thi
ca Việt Nam và làm mới những bài thơ ấy bằng sự kết hợp linh hoạt, hài hòa
xen kẽ các thể thơ trong thể tự do hợp thể - một thể thơ hiện đại mà vẫn đậm đà
bản sắc dân tộc.
1.2. Cái đẹp từ kết cấu
Tác phẩm nghệ thuật là một sinh mệnh thẩm mỹ được người nghệ sĩ tổ
chức sắp xếp từ các yếu tố chất liệu hiện thực. Kết câu stác phẩm khơng thể
hiện ra là một sự nhất qn giản đơn mà là tính tổ chức nội tại, làm chuyển hóa
nó thành nhiều cấp độ trong cấu trúc của văn bản nghệ thuật. Kết cấu được xem
xét ở cả chiều ngang và chiều dọc. Ơ chiều ngang với tương quan thể loại, ở
chiều dọc trong tương quan với chính xác các mối quan hệ nội tại tác phẩm; nó
tồn tại ở hai cấp độ: cấp độ hình tường và cấp độ trần thuật. Cấp độ trên gắn liền
với tồn bộ tổ chức của thế giới nghệ thuật, đây là kết cấu bề sâu của văn bản
nghệ thuật.
Ca từ trong âm nhạc Trịnh Cơng Sơn được tổ chức như những bài thơ,
kết cấu của các ca khúc thuộc hình thức kết cấu của tác phẩm khơng có cốt
truyện. Đây là hình thức kết cấu biểu hiện q trình vận động bên trong của các
trạng thái cảm xúc, là sự phân bố của đoạn thơ, các câu thơ, khổ thơ, sử dụng
hình ảnh , hình tượmg thơ trên cơ sở một tứ thơ nhất định, qua đó nêu bật chủ
đề tư tưởng của tác phẩm. Ơ đây tứ thơ được hiểu như một ý chính, một ý lớn
bao qt tồn bài thơ, nhưng khơng phải là một ý tưởng hồn tồn trừu tượng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

13
mà đó là những gì rất cụ thể được lựa chọn làm điểm tựa cho vận động cảm xúc.
Xác lập được ý thơ, tồn bộ bài thơ là sự tổ chức các yếu tố để triển khai tứ thơ.
Kết cấu ca từ Trịnh Cơng Sơn phần lớn là kết cấu trùng điệp. Trong 63 ca
khúc được tuyển chọn ở cuốn “Trịnh Cơng Sơn – một người thơ ca một cõi đi
về” thì có đến 38 ca khúc được viết theo lối kết cấu trùng điệp. Đó khơng chỉ là
sự lặp lại về mặt câu chữ mà là sự trùng điệp của ý thơ, tứ thơ, khơng phải là sự
đồng nhất chết cứng, giống y hệt giữa các từ, các câu thơ, khơng phải là một sự
nhân đơi đơn giản các khái niệm mà biểu thị một nội dung phức tạp hơn, mới
hơn, khac hơn… Kết cấu trùng điệp ở đây mang tính thăng tiến, bình phương
dung lượng ý nghĩa cho ý thơ. Bài thơ có sự vận động nội tại nhờ sự trùng lặp
đặt ra này.
Với kết câu trùng lặp, cảm xúc của người viết cứ dâng theo cấu trúc bậc
thang. Sự trùng lặp giống như một trò chơi khó để tác giả của nó bộc lộ khả
năng suy tưởng. Giống như tự đặt ra câu hỏi, một câu hỏi giống nhau nhưng
khơng phải chỉ có một câu trả lời. Trò chơi suy tưởng trong ca từ Trịnh Cơng
Sơn vì thế mà kéo nhạc đi, kéo người đọc chìm dần vào thế giới nghệ thuật của
bài thơ:
“ Chiều chủ nhật buồn
Nằm trong căn gác đìu hiu
Ơi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều
Trời mưa trời mưa khơng dứt
Ơ hay mình vẫn cơ liêu

Chiều chủ nhật buồn
Nằm trong căn gác đìu hiu
Nghe tiếng hát xanh xao của một buổi chiều
Bạn bè rời xa chăn chiếu
Bơ vơ còn đến bao giờ.

Chiều chủ nhật buồn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

14
Nằm trong căn gác đìu hiu
Tơi xin năm ngón tay em thiên thần
Trên vùng ăn năn qua cơn hờn dỗi
Tơi xin năm ngón tay em đưa vào cơ đơn.
Điểm tựa của “Lời buồn thánh” là nỗi cơ đơn, nỗi cơ đơn ấy hiển hiện từ
tứ thơ giản dị kia qua mỗi dòng , mỗi khổ lại rõ nét hơn bất cứ ở đâu. Kết cấu
trùng điệp trong ca từ Trịnh Cơng Sơn tạo nên cao trào, kết tinh những nỗi niềm
và mở ra sự suy tưởng cho người nghe. Đó khơng phải là kiểu kết cấu vòng tròn
đơn điệu, đó là sự khép lại để mở ra, để người đọc tiếp tục cuộc chơi còn dang
dở , cái tơi của nhà thơ biến mất và cái tơi của người đọc thăng hoa tạo nên cái
đẹp của cảm xúc, của tâm hồn.
Bên cạnh kết cấu trùng điệp, két cấu đối lập cũng rất phổ biến trong ca từ
của Trịnh Cơng Sơn ở cấp độ câu thơ. Câu thơ khơng chạy theo đường thẳng mà
gập ghềnh và uốn khúc, đứt gãy theo mạch cảm xúc phức tạp, tinh tế. Cái đối
lập có khi được nhận thấy dễ dàng bằng các hình ảnh thực:
- “Nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa”
- “Trong khi ta về lại nhớ ta đi
Đi lên non cao đi về biển rộng” (Một cõi đi về).
- “Tình u mật ngọt
Mật ngọt trên mơi
Tình u mật đắng
Mật đắng trong đời”.
(Lặng lẽ nơi này).
Nhưng cũng xuất hiện rất nhiều đối lập khơng dễ nhận ra và mang ý nghĩa
sâu sắc, tạo ra cái mơ hồ, khó nhận biết mà người ta thường nói đến trong nhạc
Trịnh. Chẳng hạn như:
“Dưới vòng nơi mọc từng nấm mộ
Dưới chân ngày cỏ xót xa đưa”
(Cỏ xót xa đưa).
Hay:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét