Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

101 Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục tại sản cố định trong kiểm toán BCTC do Công ty dịch vụ Tư vấn tài chính, Kế toán và Kiểm toán thực hiện

Luận văn tốt nghiệp 5 Khoa kế toán
Việc sử dụng vốn đầu tư cho TSCĐ càng đòi hỏi các doanh nghiệp phải tính toán
và sử dụng hợp lý và hiệu quả hơn nữa. Do TSCĐ là loại TSCĐ có giá trị lớn, tốc độ
quay vòng vốn chậm. Do vậy đầu tư TSCĐ luôn là khoản đầu tư quan trọng đối với
mỗi doanh nghiệp. Trong mỗi doanh nghiệp, TSCĐ phải phù hợp với cơ cấu ngành
nghề kinh doanh của doanh nghiệp đó. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực công nghiệp nặng tỉ trọng cũng như mức độ ảnh hưởng đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp lớn hơn so với các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực công nghiệp nhẹ và thương mại. Do vậy, các doanh nghiệp cần phải đầu tư
TSCĐ một cách hợp lý với ngành nghề kinh doanh của mình. Việc quyết định đầu tư,
thay mới TSCĐ còn phụ thuộc vào khả năng tài chính của mỗi doanh nghiệp. Do
TSCĐ có giá trị lớn và tốc độ thu hồi chậm nên doanh nghiệp phải đảm bảo việc mua
TSCĐ không ảnh hưởng lớn đến khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp.
Mặc dù vậy, TSCĐ là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động,
giảm giá thành sản suất, nâng cao khả năng cạnh tranh và đem lại lợi ích to lớn cho
doanh nghiệp nếu được quản lý hợp lý và sử dụng hiệu quả. Do vậy, các doanh
nghiệp cần phải chú trọng trong quá trình quyết định đầu tư.
1.1.4. Phân loại TSCĐ
Trong mỗi doanh nghiệp, để quản lý và sử dụng hiệu quả TSCĐ là rất cần thiết.
Do vậy, doanh nghiệp cần phải phân loại TSCĐ một cách khoa học và hợp lý. Hiện
nay, việc phân loại TSCĐ được tiến hành theo nhiều tiêu thức khác nhau. Trong đó,
những tiêu thức phân loại quan trọng bao gồm:
 Phân loại theo hình thái biểu hiện;
 Phân loại theo quyền sở hữu TSCĐ;
 Phân loại theo tình hình sử dụng TSCĐ.
Luận văn tốt nghiệp 6 Khoa kế toán
1.1.4.1. Phân loại theo hình thái biểu hiện
Theo hình thái biểu hiện TSCĐ được chia thành TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô
hình.
TSCĐ hữu hình: Là những TSCĐ có hình thái vật chất. TSCĐ hữu hình có thể có
kết cấu độc lập hoặc nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ kết hợp với nhau thành một hệ
thống để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định, nếu thiếu bất kì bộ
phận nào thì cả hệ thống đó không hoạt động được. TSCĐ hữu hình được chi tiết
thành các nhóm sau:
 Nhà cửa, vật kiến trúc;
 Máy móc, thiết bị;
 Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn;
 Thiết bị, dụng cụ quản lý;
 Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và/ hoặc cho sản phẩm;
 Các loại TSCĐ khác
TSCĐ vô hình: Là TSCĐ không có hình thái vật chất, nhưng xác định được giá trị
và do doanh nghiệp sở hữu, sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung cấp
dịch vụ hoặc cho thuê. TSCĐ vô hình được chia tiết thành:
 Quyền sử dụng đất;
 Quyền phát hành;
 Bản quyền;
 Bằng sáng chế;
 Nhãn hiệu hàng hóa;
 Phần mềm máy tính;
 Giấy phép và giấy nhượng quyền;
 TSCĐ vô hình khác.
Luận văn tốt nghiệp 7 Khoa kế toán
1.1.4.2. Phân loại theo quyền sở hữu TSCĐ
Tiêu thức phân loại này dựa trên cơ sở quyền sở hữu của doanh nghiệp đối với
TSCĐ. Theo tiêu thức phân loại này TSCĐ được chia làm 2 loại là TSCĐ của doanh
nghiệp và TSCĐ thuê ngoài:
TSCĐ của doanh nghiệp: Là những TSCĐ do doanh nghiệp mua sắm, xây dựng,
nhận biếu tặng, viện trợ…Đối với những TSCĐ này doanh nghiệp có quyền bán,
thanh lý, sử dụng, cho thuê…theo các quy định hiện hành của pháp luật.
TSCĐ thuê ngoài: Là TSCĐ mà doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong một
khoảng thời gian nhất định theo hợp đồng thuê mà không có quyền sở hữu. Theo
phương thức cho thuê thì có hai loại cho thuê là: thuê hoạt động và thuê tài chính.
Nhưng theo các tiêu chuẩn của TSCĐ cố định thì chỉ có thuê tài chính mới được coi
là TSCĐ.
Một tài sản đi thuê được phân loại là tài sản thuê tài chính nếu hợp đồng thuê thỏa
mãn 1 trong 5 điều kiện:
 Bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi hết
thời hạn thuê;
 Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, bên thuê có quyền lựa chọn mua lại
tài sản thuê với mức giá ước tính thấp hơn giá trị hợp lý vào cuối thời
hạn thuê;
 Thời hạn thuê tài sản tối thiểu phải chiếm phần lớn thời gian sử dụng
kinh tế của tài sản cho dù không có sự chuyển giao quyền sở hữu;
 Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của khoản thanh
toán tiền thuê tối thiểu chiếm phần lớn giá trị hợp lý của tài sản thuê;
 Tài sản thuê thuộc loại chuyên dùng mà chỉ có bên thuê có khả năng
sử dụng không cần có sự thay đổi sửa chữa nào.
Luận văn tốt nghiệp 8 Khoa kế toán
Hợp đồng thuê tài sản được coi là hợp đồng thuê tài chính nếu thỏa mãn ít nhất
một trong ba điều kiện:
 Nếu bên thuê hủy hợp đồng và đền bù tổn thất tài chính phát sinh liên quan
đến việc hủy hợp đồng cho bên thuê;
 Thu nhập hoặc tổn thất do sự thay đổi giá trị hợp lý của giá trị còn lại của
tài sản thuê gắn với bên thuê;
 Bên thuê có khả năng tiếp tục thuê lại tài sản sau khi hết han hợp đồng
thuê với tiền thuê thấp hơn giá thuê thị trường.
1.1.4.3. Phân loại theo mục đích và tình hình sử dụng
Việc phân loại TSCĐ theo tiêu thức này được chia thành bốn loại:
 TSCĐ dùng cho kinh doanh;
 TSCĐ dùng cho hành chính;
 TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi;
 TSCĐ chờ xử lý.
Luận văn tốt nghiệp 9 Khoa kế toán
1.1.5. Tính giá TSCĐ
1.1.5.1. Nguyên giá của TSCĐ
Việc xác định nguyên giá TSCĐ cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc sau:
- Thời điểm xác định nguyên giá là thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng
sử dụng đối với TSCĐ hữu hình hay thời điểm đưa TSCĐ vào sử dụng theo dự tính
đối với TSCĐ vô hình.
- Giá trị thực tế của TSCĐ phải dựa trên những căn cứ khách quan có thể kiểm
soát được.
- Giá trị thực tế của TSCĐ phải xác định dựa trên chi phí hợp lý dồn tích trong
quá trình hình thành TSCĐ.
- Các khoản chi phí liên quan đến TSCĐ phát sinh sau khi TSCĐ được đưa vào sử
dụng sẽ được tính vào nguyên giá nếu chúng làm tăng giá trị hữu ích của TSCĐ.
Một số phương pháp xác định nguyên giá TSCĐ:
- TSCĐ hình thành do mua sắm
NG = Gt + Tp + Pt + Lv – Tk – Cm – Th
Trong đó:
NG: Nguyên giá TSCĐ
Gt: Giá thanh toán cho nhà cung cấp TSCĐ ( tính theo giá thu tiền 1 lần)
Tp: Phí tổn trước khi dùng ( Vận chuyển, lắp đặt, chạy thử )
Lv: Lãi vay phải trả trước khi đưa TSCĐ vào sử dụng
Tk: Thuế trong giá mua hoặc giảm giá được hưởng
Cm: Chiết khâu thương mại hoặc giảm giá được hưởng
Th: Giá trị sản phẩm, dịch vụ thu được khi chạy thử
Luận văn tốt nghiệp 10 Khoa kế toán
- Nguyên giá TSCĐ hình thành do XDCB theo phương thức giao thầu: Là giá
quyết toán công trình xây dựng theo quy định tại quy chế quản lý, đầu tư và xây dựng
hiện hành cộng với lệ phí trước bạ và các chi phí liên quan trực tiếp khác.
- Nguyên giá TSCĐ hình thành do tự xây dựng: Là giá thành thực tế của TSCĐ
cộng chi phí lắp đặt chạy thử, các chi phí khác trực tiếp liên quan tính đến thời điểm
đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
- Nguyên giá TSCĐ được hình thành do điều chuyển: Là giá trị còn lại trên sổ của
đơn vị điều chuyển, hoặc giá trị theo đánh gía thực tế của hội đồng giao nhận và các
chi phí trực tiếp liên quan mà bên nhận TSCĐ phải chịu cho đến khi đưa TSCĐ vào
trạng thái sẵn sàng sử dụng.
- Nguyên giá TSCĐ hình thành do biếu tặng, nhận vốn góp liên doanh, nhận lại
vốn góp liên doanh, hoặc phát hiện thừa thì nguyên giá được xác định bằng giá trị
thực tế của hội đồng đánh giá và các chi phí bên nhận phải chi cho đến khi đưa
TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
- Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính: được tính bằng giá trị hợp lý và các phí tổn
trước khi dùng.
Giá trị hợp lý: Là giá trị có thể trao đổi giữa các bên có đầy đủ sự hiểu biết trọng
sự trao đổi ngang giá.
Giá trị hợplý của TSCĐ thuê cao hơn giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền
thuê tối thiểu thì ghi theo nhận nguyên giá theo giá trị hiện tại của khoản thanh toán
tiền thuê tối thiểu.
1.1.5.2. Giá trị hao mòn và khấu hao TSCĐ
Hao mòn TSCĐ là sự giảm dần giá trị của TSCĐ trong quá trình sử dụng do sự ăn
mòn trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc do tiến bộ
khoa học kĩ thuật làm cho TSCĐ trở nên lỗi thời.
Luận văn tốt nghiệp 11 Khoa kế toán
Hao mòn TSCĐ có tính khách quan, do vậy, doanh nghiệp cần tính toán và phân
bổ hợp lý nguyên giá của TSCĐ vào chi phí kinh doanh trong từng kì hạch toán và
gọi là khấu hao TSCĐ. Việc phân bổ khấu hao vào chi phí không phản ánh đầy đủ
mức độ hao mòn của TSCĐ trên thực tế. Nhưng do việc xác định giá trị hao mòn của
TSCĐ rất khó khăn nên trong kế toán giá trị hao mòn được tính bằng số khấu hao lũy
kế đến thời điểm xác định.
Hiện nay, theo chế độ tài chính hiện hành, các doanh nghiệp có thể tính khấu hao
theo ba phương pháp:
• Khấu hao đường thẳng
Theo phương pháp này, mức khấu hao năm của 1 TSCĐ (Mkhn) được tính theo
công thức sau:
Mkhn = Nguyên giá của TSCĐ × Tỷ lệ khấu hao năm
Trong đó:
Tỷ lệ khấu hao năm
=
1
Số năm sử dụng dự kiến
• Khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh
Thường áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực thường xuyên đổi mới
công nghệ và TSCĐ thỏa mãn 2 điều kiện sau:
+ Là TSCĐ đầu tư mới
+ Là máy móc, thiết bị, dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm
Theo phương pháp này, mức khấu hao năm (Mkhn) của TSCĐ được xác định
theo công thức:
Mkhn = Giá trị còn lại × Tỷ lệ khấu hao nhanh
của TSCĐ
Tỷ lệ khấu hao nhanh xác định theo công thức:
Tỷ lệ khấu hao nhanh
=
T ỷ l ệ k h ấ u h a o T S C Đ
Luận văn tốt nghiệp 12 Khoa kế toán
Theo phương pháp đường thẳng
Hệ số điều chỉnh xác định theo số năm sử dụng TSCĐ sau:
Thời gian sử dụng TSCĐ Hệ số điều chỉnh (lần)
Đến 4 năm (t ≤ 4 năm) 1,5
Trên 4 đến 6 năm (4 năm < t≤ 6 năm) 2,0
Trên 6 năm (t > 6 năm) 2,5
Khi khấu hao năm xác định theo phương pháp số dư giảm dần bằng hoặc thấp
hơn mức khấu hao bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của TSCĐ
thì kể từ năm đó mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ chia cho số
năm sử dụng còn lại của TSCĐ.
• Khấu hao theo số lượng sản phẩm.
Phương pháp này chỉ áp dụng đối với các máy móc thiết bị đáp ứng các yêu cầu
sau:
- Trực tiếp liên quan đến sản xuất sản phẩm;
- Xác định được tổng số lượng khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết
kế của TSCĐ;
- Công suất sử dụng thực tế bình quân tháng trong năm tài chính lớn hơn hoặc
bằng 50% công suất thiết kế của TSCĐ.
Theo phương pháp này, mức khấu hao tháng của TSCĐ được tính theo công thức:
Mức trích khấu = Số lượng sản × Mức trích khấu hao
hao trong tháng phẩm sản xuất Bình quân tính cho
của TSCĐ Trong tháng Một đơn vị sản phẩm
Trong đó:
Mức trích khấu hao bình quân
=
Nguyên giá của TSCĐ
Tính cho một đơn vị sản phẩm Sản lượng theo công suất thiết kế
Luận văn tốt nghiệp 13 Khoa kế toán
Mức trích khấu hao năm của TSCĐ sẽ bằng tổng mức trích khấu hao của 12 tháng
trong năm đó.
1.1.5.3. Giá trị còn lại của TSCĐ
Giá trị còn lại của TSCĐ là giá trị thực tế của TSCĐ tại một thời điểm nhất định.
Giá trị còn lại của TSCĐ chỉ được xác định khi TSCĐ được đem ra bán trên thị
trường. Về phương diện kế toán, giá trị còn lại của TSCĐ được xác bằng hiệu số giữa
nguyên giá và giá trị hao mòn lũy kế đến một thời điểm xác định. Do vậy, giá trị còn
lại trên sổ kế toán mang tính chủ quan của doanh nghiệp.
Mối quan hệ của ba chỉ tiêu giá của TSCĐ được thể hiện bởi công thức:
NG TSCĐ = GTCL TSCĐ + GTHM TSCĐ
1.1.6. Hạch toán tình hình biến động TSCĐ
1.1.6.1. Chứng từ theo dõi TSCĐ
Đối với TSCĐ khi đưa vào sử dụng, doanh nghiệp phải lập “biên bản giao nhận”
cho từng đối tượng TSCĐ và có chữ kí của đại diện các bên liên quan tại thời điểm
đó. Trong trường hợp nhiều TSCĐ cùng loại và được đưa vào sử dụng ở cùng một
thời điểm, doanh nghiệp có thể lập chung một biên bản giao nhận cho các TSCĐ đó.
Sau đó, phải sao lục cho mỗi TSCĐ một bản riêng để lưu vào “hồ sơ TSCĐ”. Mỗi bộ
hồ sơ TSCĐ phải bao gồm đầy đủ các chứng từ liên quan để chứng minh TSCĐ thực
sự thuộc về doanh nghiệp, giá trị được xác định một cách hợp lý và có nguồn gốc rõ
ràng bao gồm: “Hợp đồng”, “hóa đơn mua TSCĐ ”, “biên bản giao nhận”, “tài liệu kĩ
thuật”, “giấy bảo hành”…Dựa vào hồ sơ TSCĐ, kế toán TSCĐ mở “thẻ TSCĐ” để
theo dõi chi tiết từng đối tượng, thẻ TSCĐ phải có xác nhận của kế toán trưởng đơn
vị. Thẻ TSCĐ sẽ được lưu tại phòng kế toán trong suốt thời gian sử dụng TSCĐ. Thẻ
TSCĐ là cơ sở để kế toán ghi vào “ sổ TSCĐ ”, sổ TSCĐ sẽ được lập một quyển
chung cho toàn doanh nghiệp và mỗi bộ phận sử dụng TSCĐ một quyển.
1.1.62. Tài khoản sử dụng
TK 211: TSCĐ cố định hữu hình
Luận văn tốt nghiệp 14 Khoa kế toán
Bên nợ: Nguyên giá TSCĐ hữu hình tăng trong kì
Bên có: Nguyên giá TSCĐ hữu hình giảm trong kì
TSCĐ được chi tiết thành các loại TSCĐ sau:
TK 2112: Nhà cửa vật kiến trúc
TK 2113: Máy móc thiết bị
TK 2114: Phương tiện vận tải truyền dẫn
TK 2115: Thiết bị dụng cụ quản lý
TK 2116: Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm
TK 2118: TSCĐ hữu hình khác
TK 212: TSCĐ thuê tài chính
Bên nợ: Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính tăng trong kì
Bên có: Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính giảm trong kì
TK213: TSCĐ vô hình
Bên nợ: Nguyên giá TSCĐ vô hình tăng trong kì
Bên có: Nguyên giá TSCĐ vô hình giảm trong kì
TSCĐ vô hình được chi tiết thành các loại TSCĐ sau:
TK 2131: Quyền sử dụng đất
TK 2132: Quyền phát hành
TK 2133: Bản quyền, bằng sáng chế
TK 2134: Nhãn hiệu hàng hóa
TK 2135: Phần mềm máy tính
TK 2136: Giấy phép và giấy nhượng quyền
TK 2138: TSCĐ vô hình khác

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét