Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt
Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán vật liệu và phân tích
tình hình cung cấp, quản lý sử dụng nguyên vật liệu tại công ty
Cờng & Thịnh
1.1- sự cần thiết của kế toán nguyên vật liệu
1.1.1-Vị trí, đặc điểm nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất
Bất kỳ nền sản xuất nào, kể cả nền sản xuất hiện đại đều có đặc trng chung là sự tác
động của con ngời vào các yếu tố lực lợng tự nhiên nhằm thoả mãn những nhu cầu nào đó của
con ngời. Vì vậy, sản xuất luôn luôn là sự tác động qua lại của 3 yếu tố cơ bản: lao động của
con ngời, t liệu lao động và đối tợng lao động.
Đối tợng lao động chính là yếu tố vật chất của sản phẩm tơng lai. Nếu đối tợng lao động
đợc con ngời tác động vào thì đối tợng lao động đó đợc gọi là Nguyên vật liệu. Đồng thời Các
Mác cũng chỉ ra rằng bất cứ một thứ nguyên vật liệu nào cũng là đối tợng lao động nhng
không phải bất cứ một đối tợng lao động nào cũng là nguyên vật liệu, chỉ trong những điều
kiện đối tợng lao động đã qua chế biến ( đã có sự tác động của lao động), phục vụ cho lao
động tạo ra sản phẩm mới trở thành nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu là đối tợng lao động, là cơ sở vật chất để hình thành nên sản phẩm mới,
do đó khi thiếu vật liệu thì các hoạt động sản xuất của xã hội nói chung và các doanh nghiệp
sản xuất nói riêng là không thể thực hiện đợc. Trong quá trình sản xuất, vật liệu chỉ tham gia
vào một chu kỳ sản xuất và vật liệu không giữ nguyên hình thái ban đầu, giá trị của vật liệu đ-
ợc chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm mới tạo ra. Dới hình thái hiện vật, nó biểu
hiện là một bộ phận quan trọng của tài sản lu động, dới hình thái giá trị nó là một bộ phận của
vốn lu động. Do vậy việc quản lý NVL chính là quản lý vốn sản xuất kinh doanh và tài sản
doanh nghiệp.
Trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm, chi phí vật liệu thờng chiếm một tỷ lệ rất
lớn trong tổng số chi phí bỏ ra để tạo ra sản phẩm. Do vậy, cần tập trung quản lý vật liệu một
cách chặt chẽ ở tất cả các khâu, nhằm giảm chi phí vật liệu trong tổng chi phí sản xuất từ đó
hạ giá thành sản phẩm.
Tóm lại, xét trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp thì vật liệu có
một vị trí quan trọng. Cho nên, việc quản lý và tổ chức hạch toán kế toán nguyên vật liệu là
điều kiện không thể thiếu đợc nhằm cung cấp kịp thời đầy đủ đồng bộ những vật liệu cần thiết
Lớp HC4-21.08
5
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt
cho sản xuất, kiểm tra định mức dự trữ, tiết kiệm đợc vật liệu, ngăn ngừa những mất mát, hao
hụt, lãng phí vật liệu trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.
1.1.2-Yêu cầu trong quản lý vật liệu:
Công tác quản lý vật liệu là yêu cầu tất yếu của mọi phơng thức sản xuất kinh doanh,
việc quản lý vật liệu có tốt hay không còn phụ thuộc vào năng lực và sự nhiệt tình của ngời
cán bộ quản lý nói chung và của mọi ngời nói riêng.
Nhìn chung quản lý vật liệu có thể xét trên các khía cạnh sau:
-Trong quá trình thu mua thì vật liệu đợc quản lý về khối lợng, chất lợng, quy cách,
chủng loại, giá mua, chi phí mua, thực hiện kế hoạch thu mua theo đúng tiến độ thời gian phù
hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
-Trong khâu dự trữ: do dặc điểm của vật liệu là chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất,
trong quá trình sản xuất bị h hao toàn bộ, mặt khác vật liệu lại thờng xuyên biến động. Do đó,
đòi hỏi doanh nghiệp phải xác dịnh đợc định mức dự trữ tối đa, tối thiểu để đảm bảo cho sản
xuất kinh doanh đợc liên tục, kông bị ngng trệ, gián đoạn do việc cung cấp vật liệu không kịp
thời hoặc gây ứ đọng vốn do dự trữ quá nhiều.
-Trong khâu bảo quản: cần tổ chức tốt kho tàng, bến bãi thực hiện đúng chế độ bảo quản
đối với từng loại vật liệu, phù hợp với quy mô tổ chức của doanh nghiệp, tránh lãng phí, hao
hụt, mất mát, h hỏng, đảm bảo an toàn cũng là yêu cầu quản lý đối với vật liệu.
-Trong khâu sử dụng: việc sử dụng vật liệu một cách hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở các định
mức tiêu hao và dự toán chi phí có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm chi phí, hạ thấp giá
thành sản phẩm làm tăng lợi nhuận, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp .Do vậy trong khi sử dụng
vật liệu cần phải tổ chức tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất dùng và sử dụng vật liệu
trong quá trình sản xuất kinh doanh.
1.1.3-Vai trò và nhiệm vụ của kế toán vật liệu:
Hạch toán kế toán vật liệu có chính xác kịp thời, đầy đủ thì lãnh đạo doanh nghiệp mới
nắm đợc chính xác tình hình thu mua, dự trữ, xuất dùng vật liệu cả về kế hoạch và thực tế. Từ
đó có kế hoạch cho việc chuẩn bị vật liệu cho chu kỳ sản xuất sau. Mặt khác, tính chính xác
kịp thời của công tác hạch toán vật liệu hay nói cách khác là chất lợng của công tác hạch toán
vật liệu có ảnh hởng không nhỏ đến chất lợng của công tác hạch toán giá thành. Do vậy, để
đảm bảo cho việc hạch toán giá thành chính xác thì khâu đầu tiên là hạch toán vật liệu cũng
phải chính xác, khoa học. Xuất phát từ vai trò nêu trên, nhiệm vụ của kế toán vật liệu nh sau:
Lớp HC4-21.08
6
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt
-Tổ chức ghi chép tổng hợp và phản ánh số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển, bảo
quản, tình hình nhập xuất- tồn kho vật liệu. Tính trị giá thực tế vật liệu đã thu mua và nhập
kho doanh nghiệp. Kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về thu mua, về số lợng,
chủng loại giá cả, thời hạn nhằm đảm bảo đầy đủ vật liệu cho quá trình sản xuất.
-Tổ chức kế toán phù hợp với phơng pháp kế toán hàng tồn kho, hớng dẫn kiếm tra các
bộ phận của doanh nghiệp nhằm đảm bảo thống nhất trong công tác kế toán tạo thuận lợi cho
công tác chỉ đạo trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
-Giám sát kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản dự trữ và sử dụng vật t, phát hiện và
ngăn ngừa và đề xuất xử lý vật liệu thừa thiếu, ứ đọng, kém phẩm chất, tính toán, xác định giá
vốn, vật liệu đa vào sử dụng.
-Tham gia kiểm kê và đánh giá vật liệu theo chế độ quy định, lập báo cáo về vật liệu
phục vụ cho công tác lãnh đạo quản lý, phân tích tình hình thu mua, bảo quản, dự trữ và sử
dụng vật liệu nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm, đây là phơng pháp chủ yếu tăng lợi nhuận cho
doanh nghiệp.
1.2-Phân loại và đánh giá NVL
1.2.1-Phân loại NVL:
Phân loại nguyên vật liệu là việc phân chia vật liệu của doanh nghiệp thành các loại, các
thứ, các nhóm vv theo tiêu thức phân loại nhất định nhằm tổ chức tốt kế toán vật liệu. Tuỳ
thuộc vào loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau mà NVL đợc phân
loại khác nhau. Thông thờng nguyên vật liệu đợc phân loại dựa vào các tiêu thức sau:
1.2.1.1-Căn cứ vào nội dung kinh tế và vai trò của nguyên vật liệu trong quá trình sản
xuất, nguyên vật liệu đợc chia thành:
-Nguyên vật liệu chính ( bao gồm nửa thành phẩm mua ngoài): Là đối tợng lao động chủ
yếu trong doanh nghiệp sản xuất, là cơ sở vật chất ban đầu cấu thành nên thực thể của sản
phẩm mới tạo ra, nó chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành.
-Vật liệu phụ: là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất nó không cấu
thành nên thực thể chính của sản phẩm. vật liệu phụ chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản
xuất, chế tạo sản phẩm nh: làm tăng chất lợng vật liệu chính và sản phẩm phục vụ cho công
tác quản lý, cho nhu cầu công nghệ, cho việc bảo quản, bao, gói sản phẩm nh: hoá chất, thuốc
tẩy
Lớp HC4-21.08
7
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt
-Nhiên liệu : là loại vật liệu phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, hoạt động của
máy móc thiết bị, phơng tiện vận tải.
-Phụ tùng thay thế: là các phụ tùng chi tiết để thay thế sửa chữa máy móc, thiết bị sản
xuất, phơng tiện vận tải ví dụ nh săm lốp, trục bánh xe
-Thiết bị xây dựng cơ bản: bao gồm các loại thiết bị cần lắp và không cần lắp vật kết
cấu, các vật t xây dựng dùng cho công tác xây dựng cơ bản trong doanh nghiệp
-Vật liệu khác: Bao gồm các loại vật liệu còn lại ngoài các thứ cha kể trên nh: bao bì, vật
đóng gói, các loại vật t đặc chủng.
1.2.1.2-Căn cứ vào nguồn gốc thì nguyên vật liệu đợc chia thành:
-Nguyên vật liệu mua vào
-Nguyên vật liệu thuê gia công chế biến
-Nguyên vật liệu tự gia công chế biến.
-Nguyên vật liệu nhận góp vốn liên doanh.
1.2.1.3-Căn cứ vào mục đích sử dụng, nguyên vật liệu chia thành:
-Nguyên vật liệu dùng cho sản xuất sản phẩm
-Nguyên vật liệu dùng cho quản lý sản xuất
-Nguyên vật liệu dùng cho quản lý doanh nghiệp
-Nguyên vật liệu dùng cho khâu bán hàng
-Nguyên vật liệu dùng cho mục đích khác
1.2.2-Đánh giá nguyên vật liệu:
Đánh giá nguyên vật liệu là dùng thớc đo tiền tệ để biểu hiện giá trị của vật liệu theo
những nguyên tắc nhất định đảm bảo yêu cầu chân thực, chính xác. Việc đánh giá nguyên vật
liệu có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý và hạch toán. Thông qua việc đánh giá
nguyên vật liệu, kế toán mới ghi chép đầy đủ và có hệ thống các chi phí cấu thành nên giá
nguyên vật liệu mua vào, trị giá nguyên vật liệu tiêu hao trong quá trình sản xuất. Mặt khác,
việc đánh giá chính xác nguyên vật liệu còn góp phần tính toán chính xác số tài sản hiện có
của doanh nghiệp đảm bảo cung cấp thông tin trên báo cáo tài chính đợc trung thực và hợp lý.
*Các yêu cầu đánh giá nguyên vật liệu
-Yêu cầu xác thực: việc đánh giá nguyên vật liệu phải đợc tiến hành trên cơ sở tổng hợp
đầy đủ các chi phí cấu thành nên giá trị của vật liệu mua vào, đồng thời phải trừ ra khỏi giá trị
của vật liệu những chi phí không hợp lý, hợp lệ
Lớp HC4-21.08
8
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt
-Yêu cầu thống nhất: việc đánh giá nguyên vật liệu phải đảm bảo thống nhất về nội dung
và phơng pháp đánh giá, và giữa các kỳ hạch toán của doanh nghiệp.
*Các nguyên tắc đợc thừa nhận trong việc đánh giá nguyên vật liệu:
-Nguyên tắc giá phí: Nguyên tắc này là một trong những nguyên tắc cơ bản, nó đòi hỏi
tất cả các tài sản, nguyên vật liệu phải đợc ghi chép, phản ánh theo giá phí của chúng tức là
theo số tiền mà đơn vị đã bỏ ra để có đợc các loại tài sản, nguyên vật liệu đó ở t thế sẵn sàng
đa vào sử dụng.
-Nguyên tắc nhất quán liên tục: theo nguyên tắc này, đòi hỏi việc áp dụng các khái niệm,
nguyên tắc, chuẩn mực, phơng pháp tính toán phải thống nhất trong suốt niên độ kế toán.
1.2.2.1-Đánh giá nguyên vật liệu theo giá thực tế:
a-Đối với vật liệu nhập kho
Trị giá NVL Giá mua Thuế Chi phí thu Các khoản giảm giá
mua ngoài = trên HĐ + NK + mua - chiết khấu hoặc hàng
nhập kho (GTGT) (nếu có) thực tế mua trả lại ( nếu có)
Trị giá NVL tự Trị giá NVL Chi phí gia công
gia công chế biến = xuất kho + chế biến.
nhập kho
Trị giá NVL thuê Trị giá NVL Chi phí thuê gia Chi phí vận
gia công chế biến = xuất kho + công chế biến. + chuyển đi, về
nhập kho.
-Đối với vật liệu nhận góp vốn liên doanh nhập kho từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân thì
giá thực tế vật liệu nhập kho là giá thoả thuận ghi trong biên bản do hội đồng liên doanh quyết
định.
-Đối với vật liệu đợc biếu, tặng, thì giá thực tế của vật liệu nhập kho đợc tính theo giá thị
trờng tơng đơng.
-Đối với giá thực tế vật liệu thu nhặt đợc từ phế liệu thu hồi đợc đánh giá theo giá thực tế
có thể sử dụng đợc, có thể tiêu thụ hoặc theo giá ớc tính.
b-Đối với vật liệu xuất kho:
Khi xuất kho, kế toán phải tính toán chính xác giá thực tế của vật liệu xuất cho các nhu
cầu, đối tợng khác nhau theo phơng pháp tính giá thực tế xuất kho đã đăng ký áp dụng và phải
Lớp HC4-21.08
9
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt
đảm bảo tính nhất quán trong niên độ kế toán. Để tính giá trị thực tế của vật liệu xuất kho có
thể áp dụng một trong các phơng pháp sau:
-Tính theo đơn giá bình quân gia quyền: về cơ bản phơng pháp này giống phơng pháp
trên, những đơn giá vật liệu đợc tính trên cơ sở bình quân cho số vật liệu đầu kỳ và số vật liệu
nhập trong kỳ.
Đơn giá bình Trị giá thực tế VL tồn đầu kỳ + Trị giá thực tế VL nhập trong kỳ
quân gia =
quyền Số lợng vật liệu tồn đầu kỳ + số lợng vật liệu nhập trong kỳ
Trị giá thực tế Số lợng vật Đơn giá bình quân
vật liệu xuất kho = liệu xuất kho x gia quyền
-Tính theo phơng pháp nhập trớc- xuất trớc:
Theo phơng pháp này trớc hết ta phải xác định đợc đơn giá thực tế nhập kho của từng lần
nhập và giả thiết rằng hàng nhập trớc thì xuất trớc. Sau đó căn cứ vào số lợng xuất kho để tính
đơn giá thực tế xuất kho theo nguyên tắc: tính theo đơn giá thực tế nhập trớc đối với lợng xuất
kho thuộc lần nhập trớc, số còn lại ( tổng số xuất kho số đã xuất thuộc lần nhập trớc) đợc
tính theo đơn giá thực tế của lần nhập tiếp theo. Nh vậy thực tế của vật liệu tồn cuối kỳ chính
là giá thực tế của số vật liệu nhập kho thuộc lần nhập sau cùng.
-Tính theo phơng pháp nhập sau- xuất trớc:
Theo phơng pháp này cũng phải xác định đơn giá thực tế của từng lần nhập và cũng giả
thiết hàng nào nhập kho sau thì xuất trớc. Sau đó căn cứ số lợng xuất kho tính ra đợc giá xuất
kho theo nguyên tắc: tính theo đơn giá thực tế của lần nhập sau cùng đối với số lợng xuất kho
thuộc lần nhập sau cùng, số còn lại đợc tính theo đơn giá thực tế của lần nhập trớc đó. Nh vậy
giá thực tế của vật liệu tồn kho cuối kỳ là giá thực tế vật liệu thuộc các lần nhập đầu kỳ.
-Tính theo giá thực tế đích danh:
Theo phơng pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý theo dõi vật liệu theo từng lô
hàng, khi xuất kho vật liệu, thuộc lô hàng nào thì căn cứ vào số lợng xuất kho và đơn giá nhập
kho thực tế của lô hàng đó để tính giá thực tế xuất kho. Phơng pháp này thờng đợc áp dụng
đối với các loại vật liệu có giá trị cao và có tính tách biệt.
Tóm lại, thông qua giá thực tế của vật liệu biết đợc chi phí thực tế của vật liệu trong quá
trình sản xuất, phản ánh đầy đủ chi phí vật liệu trong giá thành sản phẩm, xác định đúng đắn
Lớp HC4-21.08
10
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt
chi phí đầu vào, biết đợc tình hình thực hiện định mức tiêu hao vật liệu, thông qua đó biết đợc
hao phí lao động qúa khứ trong giá thành sản phẩm giá thực tế của vật t đợc dùng để ghi chép
trên các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp.
1.2.2.2-Đánh giá nguyên vật liệu theo giá hạch toán:
Đối với doanh nghiệp mua vật liệu thờng xuyên có sự biến động về giá cả, khối lợng và
chủng loại vật liệu nhập, xuất kho nhiều thì có thể sử dụng giá hạch toán để tính giá vốn thực
tế của vật liệu xuất kho. Giá hạch toán có thể là giá mua tại một thời điểm nào đó hoặc xác
định theo giá kế hoạch của vật liệu đã đợc doanh nghiệp xây dựng. Giá hạch toán là loại giá
ổn định do doanh nghiệp tự xác định, giá này không có tác dụng giao dịch với bên ngoài. việc
nhập, xuất hàng ngày đợc thực hiện theo giá hạch toán. Cuối kỳ, kế toán phải tính ra giá thực
tế để ghi sổ kế toán tổng hợp, để tính trị giá thực tế của vật liệu xuất kho.
-Trớc hết, xác định hệ số giá giữa giá thực tế và giá hạch toán của vật t theo công thức
sau:
Trị giá thực tế vật Trị giá thực tế vật
Hệ số giá liệu tồn đầu kỳ + liệu nhập trong kỳ
vật liệu = Giá hạch toán vật Giá hạch toán vật
liệu tồn đầu kỳ + liệu nhập trong kỳ
Giá thực tế vật Giá hạch toán Hệ số giá
liệu xuất kho = xuất kho x vật liệu
Hệ số giá đợc tính chung cho các loại vật liệu hoặc tính riêng cho từng loại vật liệu tuỳ
yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
1.3-Nội dung công tác kế toán NVL trong doanh nghiệp:
1.3.1-Chứng từ sử dụng:
Mọi hiện tợng kinh tế xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh liên quan đến việc
nhập, xuất vật liệu đều phải lập chứng từ kế toán theo chế độ qui định.
Theo chế độ kế toán hiện hành, các chứng từ kế toán vật liệu gồm có:
-Phiếu nhập kho ( mẫu 01 VT)
Lớp HC4-21.08
11
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt
-Phiếu xuất kho ( mẫu 02-VT)
-Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (03-VT)
-Hoá đơn cớc phí vận chuyển (mẫu 03-BH)
-Biên bản kiểm kê vật t, sản phẩm, hàng hoá (mẫu 08-VT)
Ngoài các chứng từ bắt buộc sử dụng thống nhất theo quy định của Nhà nớc, trong
doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán hớng dẫn nh: phiếu xuất vật t theo hạn
mức (mẫu 04-VT), biên bản kiểm nghiệm vật t (mẫu 05-VT), phiếu báo vật t còn lại cuối kỳ
(mẫu 07-VT) tuỳ thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp thuộc các lĩnh
vực hoạt động thành phần kinh tế khác nhau.
1.3.2-Kế toán chi tiết NVL trong doanh nghiệp:
NVL là một trong những đối tợng của kế toán, các loại vật liệu phải đợc tổ chức hạch
toán chi tiết không chỉ về mặt giá trị mà còn về mặt hiện vật, không chỉ theo từng kho mà chi
tiết theo từng loại, từng nhóm thứ và phải đợc tiến hành đồng thời ở kho và phòng kế toán.
Doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống chứng từ, sổ kế toán chi tiết và lựa chọn phơng pháp hạch
toán chi tiết NVL cho phù hợp nhằm tăng cờng công tác quản lý tài sản nói chung và công tác
quản lý NVL nói riêng.
1.3.2.1-Sổ kế toán chi tiết nguyên vật liệu:
Sổ kế toán là sổ theo mẫu quy định, dùng để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế theo đúng
nh phơng pháp của kế toán trên cơ sở các chứng từ hợp pháp. Sổ kế toán chi tiết phục vụ cho
việc hạch toán chi tiết các nghiệp vụ kinh tế liên quan đến đối tợng hạch toán chi tiết.
Tuỳ thuộc vào phơng pháp hạch toán chi tiết vật liệu áp dụng cho doanh nghiệp mà kế
toán chi tiết vật liệu sử dụng các sổ kế toán chi tiết nh sau:
-Sổ (thẻ ) kho
-Sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu.
-Sổ đối chiếu luân chuyển
-Sổ số d.
1.3.2.2-Các phơng pháp kế toán chi tiết vật liệu:
Hiện nay, việc hạch toán chi tiết vật liệu giữa kho và phòng kế toán trong các doanh
nghiệp sản xuất có thể đợc thực hiện theo các phơng pháp sau:
*-Phơng pháp thẻ song song:
Lớp HC4-21.08
12
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt
Nội dung của phơng pháp này là hạch toán chi tiết vật liệu giữa kho và phòng kế toán.
-ở kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép, phản ánh tình hình nhập xuất- tồn của
vật liệu hàng ngày theo chỉ tiêu số lợng. Thẻ kho do phòng kế toán lập rồi ghi vào sổ đăng ký
thẻ kho trớc khi giao cho thủ kho ghi chép.
-ở phòng kế toán: kế toán chi tiết vật liệu sử dụng (thẻ), sổ chi tiết vật liệu để ghi chép
tình hình nhập- xuất- tồn cho từng thứ vật liệu theo cả chỉ tiêu số lợng và chỉ tiêu giá trị của
từng loại vật liệu. Kết cấu của sổ chi tiết vật liệu giống nhau nh thẻ kho, thêm cột đơn giá và
phản ánh theo số lợng, giá trị của từng thứ vật liệu. Việc lập và sắp xếp các loại vật liệu trong
sổ chi tiết và thẻ kho phải phù hợp với nhau.
Hàng ngày, khi nhận đợc các chứng từ ở kho gửi lên, kế toán phải kiểm tra, hoàn chỉnh
đầy đủ các chứng từ và ghi chép (thẻ), sổ chi tiết vật liệu mỗi chứng từ đợc ghi một dòng.
Cuối tháng, tiến hành kiểm tra, đối chiếu số liệu trên (thẻ), sổ chi tiết vật liệu với thẻ
kho. Ngoài ra, cùng vào cuối tháng căn cứ vào dòng cột (thẻ), sổ chi tiết vật liệu để gih vào
bảng kê nhập xuất- tồn kho theo từng thứ, nhóm, loại.
-Ưu điểm: Việc ghi sổ(thẻ) đơn giản dễ làm, dễ kiểm tra, đói chiếu sốliệu đảm bảo sự
chính xác của thông tin cung cấp.
-Nhợc điểm: Việc ghi chép giữa kho và phòng kế toán còn bị trùng lặp về chỉ tiêu số l-
ợng, khối lợng công việc ghi chép quá lớn. Việc kiểm tra đối chiếu tiến hành vào cuối tháng
làm hạn chế chức năng kiểm tra của kế toán.
-Điều kiện áp dụng: Các doanh nghiệp có ít chủng loại vật liệu, khối lợng các nghiệp vụ
nhập xuất diễn ra không thờng xuyên, kế toán thủ công.
*-Phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển:
Phơng pháp này đợc tiến hành nh sau:
-ở kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép, phản ánh hàng ngày tình hình nhập
xuất- tồn giống nh phơng pháp thẻ song song.
-ở phòng kế toán: định kỳ sau khi nhận đợc chứng từ về nhập xuất vật liệu, kế toán
cũng kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ, hoàn chỉnh chứng từ. Tiến hành tập hợp và
phân loại chứng từ. Cuối tháng, kế toán sẽ tiến hành ghi sổ đối chiếu luân chuyển. Sổ này đợc
mở cho cả năm và đợc ghi vào cuối mỗi tháng. Sổ theo dõi cả chỉ tiêu số lợng và chỉ tiêu giá
trị trong cả tháng của vật liệu nhập xuất tồn, mỗi thứ vật liệu đợc ghi một dòng trên sổ.
-Ưu điểm: giảm đợc khối lợng ghi chép của kế toán
Lớp HC4-21.08
13
Học viện tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Nguyệt
-Nhợc điểm: Vẫn còn ghi trùng lặp giữa kho và phòng kế toán, công việc kế toán dồn
vào cuối tháng không cung cấp thông tin kịp thời, hạn chế việc kiểm tra đối chiếu số liệu giữa
kho và phòng kế toán.
*-Phơng pháp sổ số d:
Phơng pháp này đợc tiến hành nh sau:
-Tại kho: thủ kho vẫn sử dụng thẻ kho để ghi chép nh phơng pháp trên, ngoài ra thủ kho
còn sử dụng sổ số d để ghi chép số tồn kho cuối tháng, cuối kỳ của từng vật liệu vào cột số l-
ợng.
-Tại phòng kế toán: kế toán định kỳ xuống kho để kiểm tra việc ghi chép và hớng dẫn
ghi chép trên thẻ kho. Sau khi kiểm tra thì nhận chứng từ nhập xuất vật liệu. Kế toán ký xác
nhận vào từng thẻ kho và phiếu giao nhận chứng từ. Tại kho kế toán phân loại chứng từ theo
nhóm vật liệu tổng hợp giá trị của chứng từ, nhận và ghi vào cột tơng ứng.
Sau khi ở kho về kế toán tiến hành ghi vào bảng kê luỹ kế nhập, bảng kê luỹ kế xuất vật
liệu. Cuối tháng căn cứ vào bảng kê luỹ kế nhập, luỹ kế xuất để gi vào cột nhập, xuất trên
bảng kê tổng hợp nhập xuất- tồn tính ra số tồn cuối kỳ. Đồng thời căn cứ vào sổ số d do thủ
kho chuyển lên kế toán tính ra giá trị của hàng tồn kho để ghi vào số số d do thủ kho chuyển
lên kế toán tính ra giá trị của hàng tồn kho để ghi vào cột số tiền trên sổ số d. Cuối tháng đối
chiếu số liệu bảng tổng hợp nhập xuất- tồn với sổ số d.
-Ưu điểm: giảm bớt đợc khối lợng ghi chép, không còn trùng lặp giữa kho và phòng kế
toán.
-Nhợc điểm: phơng pháp ghi chép phức tạp, việc đối chiếu chỉ tiến hành vào cuối kỳ,
không cung cấp thông tin kịp thời.
-Điều kiện áp dụng: doanh nghiệp có nhiều chủng loại vật t, tình hình nhập- xuất thờng
xuyên, doanh nghiệp phải xây dựng đợc hệ thống giá hạch toán của vật liệu.
1.3.3-Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu:
Theo chế độ kế toán quy định ( theo QĐ 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995) trong một
doanh nghiệp chỉ đợc áp dụng một trong hai phơng pháp hạch toán hàng tồn kho: phơng pháp
kê khai thờng xuyên (KKTX) hay kiểm kê định kỳ (KKĐK) do vậy kế toán tổng hợp NVL
cũng sử dụng một trong hai phơng pháp đó.
Lớp HC4-21.08
14
Học viện tài chính
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét