Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
được thực thi, mua lại và sáp nhập có thể trở thành hình thức quan trọng trong
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam những năm tới.
1.1.2. Vai trò của FDI đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư
FDI có thể mang lại cho nước tiếp nhận đầu tư rất nhiều lợi ích, có
những lợi ích trực tiếp và xác định, song cũng có những lợi ích gián tiếp khó
nhận biết hơn. Dưới đây là những lợi ích cơ bản mà FDI mang lại cho nền
kinh tế các nước đang phát triển
Bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư và phát triển, giúp
các nước này thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nếu như trong thời
kỳ 1991-1995, vốn FDI chiếm trên 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội tại Việt
Nam thì thời kỳ 1996-2000, tỉ lệ này là 24%.
[14]
Nguồn vốn này đã góp phần
đưa Việt Nam ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, giúp khi thác và nâng cao
hiệu quả sử dụng những nguồn lực trong nước tạo ra thế và lực phát triển mới
cho nền kinh tế. Hiện nay, vốn FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia đang phát triển như
Việt Nam.
Tạo công ăn việc làm - Lợi ích dễ thấy nhất của FDI chính là
tạo nhiều việc làm ổn định cho người lao động nước sở tại, tăng thu nhập và
cải thiện mức sống cho người dân. Tổng sỗ lao động hiện đang làm việc tại
các cơ sở có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên khắp thế giới ước tính đến
năm 2001 là khoảng 54 triệu người. Khu vực FDI cũng thu hút hơn một nửa
số lao động trong lĩnh vực sản xuất của Singapo. Tại Hồng Kông, Malaixia và
Srilanka tỉ lệ lao động trong khu vực này cũng đang tăng lên nhanh chóng so
với tổng lao động xã hội.
5
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
Tăng thu ngân sách - FDI đóng góp vào ngân sách nhà nước
thông qua các khoản thuế. Ngay cả khi các doanh nghiệp liên doanh được
miễn hoàn toàn thuế thu nhập của doanh nghiệp liên doanh, nhà nước vẫn có
thể tăng thu ngân sách từ thuế thu nhập cá nhân nhà đầu tư và các loại thuế
gián tiếp khác. Đóng góp vào ngân sách Nhà nước của các doanh nghiệp FDI
tại Việt Nam trong thời kỳ 1996-2000 là khoảng 1,45 tỉ USD, chiếm 6-7%
tổng ngân sách.
[12]
Tại Trung Quốc, tổng số thuế thu được từ khu vực FDI
trong năm 2001 đã tăng 30% so với năm 2000, chiếm 19% tổng số thuế thu
được vào ngân sách trong năm.
[18]
ảnh hưởng tích cực đến đầu tư trong nước- Dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài sẽ kích thích đầu tư nội địa và các công ty này có thể trở
thành các kênh phân phối hoặc trở thành công ty cung ứng của các doanh
nghiệp nước ngoài. Bên cạnh đó, sức ép cạnh tranh từ các công ty nước ngoài
cũng kích thích các công ty nội địa tăng cường đầu tư.
Chuyển giao công nghệ - FDI có thể giúp nước tiếp nhận đầu
tư tiếp cận được với công nghệ mới trên thế giới qua thông qua việc đầu tư
hoàn toàn dây chuyền sản xuất mới tại các doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài hoặc góp vốn bằng công nghệ trong doanh nghiệp liên doanh.
Nâng cao tay nghề cho người lao động - Người lao động ở
nước sở tại làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có điều
kiện tiếp thu các kĩ năng mới về kỹ thuật và quản lý, nhờ đó tăng năng suất
cũng như hiệu suất lao động. Năng suất lao động của các doanh nghiệp FDI
trong khu vực sản xuất tại Ailen, Hà Lan và một số nước đang phát triển ở
Châu á như Trung Quốc, Đài Loan, Singapo đều cao gấp hai lần hoặc hơn so
với năng suất lao động trong các công ty nội địa.
[10]
6
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
Đẩy mạnh xuất khẩu - Rất nhiều hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài có định hướng xuất khẩu. Nhờ quy mô và khả năng tiếp cận với
mạng lưới phân phối và mạng lưới marketing quốc tế, các công ty có vốn đầu
tư nước ngoài dễ dàng xâm nhập thị trường xuất khẩu hơn so với các công ty
nội địa. Nếu có cách quản lý thích hợp, nhiều quốc gia có thể tận dụng hoạt
động FDI để tăng mức xuất khẩu của nước họ và thu ngoại tệ. Trong năm
2000, tổng doanh thu xuất khẩu của khu vực FDI chiếm tới 50.8% toàn bộ
doanh thu xuất khẩu của Trung Quốc
[18]
, 23% tổng doanh thu xuất khẩu của
Việt Nam.
[12]
Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước -
Trong quá trình tương tác với các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, các công
ty nội địa có thể nâng cao chất lượng cũng như uy tín của mình, do đó tăng
cường được sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Tăng cường cạnh tranh nền kinh tế - FDI góp phần kích thích
tăng trưởng chung của một nền kinh tế nhờ đẩy mạnh cạnh tranh trong những
ngành mà có chỉ một số ít các công ty nội địa đang chiếm vị trí độc tôn.
1.1.3. Các nhân tố tác động đến dòng chảy FDI.
1.1.3.1. Toàn cầu hoá
Trong xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, các
công ty đều có khả năng chọn lựa địa điểm sản xuất thích hợp nhất nhằm
giảm giá thành sản xuất.
Tiến trình toàn cầu hoá đã đem lại cho các quốc gia có nguồn lao động
rẻ như Việt Nam khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh của mình và thu hút
nhiều hơn nguồn vốn FDI. Điều quan trọng là các quốc gia này phải đảm bảo
7
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
giảm thiểu các rào cản trong quá trình xâm nhập và hoạt động của nhà đầu tư,
các chi phí hoạt động khác phải ở mức hợp lý, và những hạn chế mang tính
quan liêu trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh phải dần được dỡ bỏ.
Nếu các quốc gia không tận dụng tốt những cơ hội này, họ sẽ đánh mất tính
cạnh tranh và tụt lại phía sau làn sóng phát triển toàn cầu.
1.1.3.2. Khu vực hoá
Quá trình toàn cầu hoá đã đưa đến sự hình thành các liên kết khu vực
như EU, ASEAN, APEC,… Các liên kết này nhằm tạo ra các khu vực kinh tế
rộng lớn hơn trong đó lợi thế tương đối cũng như lợi thế kinh tế quy mô được
phát huy tối đa.
1.1.3.3. Các sự kiện tác động tới nền kinh tế Việt Nam trong
tương lai gần.
Có 3 sự kiện lớn đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới nền kinh tế Việt
Nam cũng như chiến lược thu hút và xúc tiến đầu tư của Việt Nam.
Việt Nam cam kết gia nhập khu vực mậu dịch tự do
ASEAN và thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan.
Theo cam kết tự do hoá thương mại, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế nhập
khẩu đối với phần lớn hàng hoá nhập khẩu từ ASEAN xuống mức tối đa là
20% vào năm 2003 và tiếp tục giảm xuống 0 -5% vào đầu năm 2006. Thuế
nhập khẩu trung bình đối với hàng hoá có xuất xứ ASEAN sẽ giảm 50% kể từ
đầu năm 2004. Thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng sợi, da, gỗ, thủy tinh,
gốm sứ và thực phẩm từ ASEAN sẽ giảm hơn 60% từ đầu năm 2004. Các
nước ASEAN khác cũng cam kết giành cho hàng hoá nhập khẩu từ Việt Nam
điều kiện ưu đãi tương tự.
[3]
8
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
Chương trình hợp tác thương mại của ASEAN đem lại cho Việt Nam cơ
hội xâm nhập thị trường khu vực. Tuy nhiên, Việt Nam cũng phải đối mặt với
những thách thức từ việc thực hiện khu vực tự do mậu dịch ASEAN, các công
ty Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu giá rẻ, chất lượng
cao. Nhà nước cũng sẽ không thể áp dụng các biện pháp quản lý hạn ngạch để
bảo vệ các công ty nội địa.
Hiệp định thương mại Việt - Mỹ
Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được ký kết năm 2001 và hiện đang
trong quá trình thực hiện. Hiệp định này kêu gọi cắt giảm 30 - 50% thuế nhập
khẩu đối với một số mặt hàng công nghiệp và nông nghiệp, dỡ bỏ hạn ngạch
đối với hầu hết các mặt hàng trong vòng 3 - 7 năm và bao gồm các điều khoản
cam kết tạo điều kiện cho các công ty Mỹ xâm nhập vào khu vực dịch vụ.
Quyền tự do buôn bán của các công ty Mỹ cũng sẽ được thực thi trong vòng 3
- 6 năm .
Theo tinh thần của hiệp định, Việt Nam đã mở cửa thị trường cho các
công ty Mỹ trong các lĩnh vực dịch vụ, thương mại, viễn thông. Vấn đề bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng được chú trọng. Việt Nam sẽ phải xoá bỏ các
biện pháp đầu tư trong thương mại ( Trade-related Investment Measures). Hai
nước cam kết sẽ thực hiện các nghĩa vụ của mình trong vấn đề bảo vệ Quyền
sở hữu trí tuệ trong thương mại
( Trade-related Intellectual Property Rights).
[4]
Các quy định về đầu tư cũng sẽ được ban hành rõ ràng và kịp thời sau
khi đã có sự bàn bạc tham khảo ý kiến, do đó làm tăng tính rõ ràng của hệ
thống các quy định pháp lý về hoạt động đầu tư.
9
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam
Việt Nam đưa ra các điều khoản cam kết cụ thể vào tháng 1 năm 2002.
Phiên họp thứ 5 của nhóm làm việc về vấn đề gia nhập của Việt Nam vào
tháng 4/2002 đã xem xét các đàm phán thỏa thuận song phương của Việt Nam
và kế hoạch hành động đối với một số hiệp định của WTO. Phiên họp thứ 6
vào tháng 12/2002 đã đánh đấu sự khởi đầu của quá trình đàm phán trở thành
thành viên của WTO.
Thực hiện tiến trình gia nhập WTO, Việt Nam sẽ phải cam kết thực hiện
các điều khoản sau:
[5]
Không phân biệt đối xử: Tất cả các thành viên WTO đều
phải áp dụng nguyên tắc tối huệ quốc trong chính sách thương mại của mình,
không phân biệt đối xử giữa hàng hoá dịch vụ nội địa với nước ngoài và
không phân biệt đối xử giữa các quốc gia.
Từng bước dỡ bỏ các rào cản thương mại qua các vòng đàm
phán
Tăng tính có thể dự đoán của các chính sách thương mại
bằng cách tuân thủ các cam kết về mở cửa thị trường và hạ thấp các rào cản
thương mại.
Hạn chế sử dụng các biện pháp phi thuế quan
* *
*
Xu hướng đầu tư quốc tế, khu vực cũng như ảnh hưởng của những sự
kiện trên đây đều là những nhân tố quan trọng tác động đến dòng chảy FDI
vào Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung.Ngiên cứư chiến lược thu
10
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
hút và xúc tiến đầu tư giai đoạn tới cũng nhất thiết phải tính đến những ảnh
hưởng từ các yếu tỗ này.
1.1.4. Xu hướng đầu tư quốc tế và khu vực những năm tới
1.1.4.1. Xu hướng đầu tư quốc tế những năm tới
Sự sụp đổ của nền kinh tế bong bóng ở Mỹ vào giữa năm 2000 đã dẫn
tới một đợt suy thoái kinh tế không chỉ ở Mỹ mà cả trên phạm vi thế giới. Sự
suy thoái này cùng với tình trạng ảm đạm kéo dài của nền kinh tế Nhật Bản
những năm qua đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới các nước Châu á. Vụ khủng bố
xảy ra vào tháng 11/2001 tại Mỹ càng khiến khung cảnh suy thoái toàn cầu
trầm trọng hơn, do đó làm chững lại dòng chảy FDI vốn là dấu hiệu của sự ổn
định và phát triển của nền kinh tế toàn cầu.
Đầu tư FDI của thế giới năm 2000 đã tăng 18% so với năm 1999, đạt
hơn 1600 tỉ USD. Nhưng sang năm 2001 lại giảm mạnh xuống chỉ còn
khoảng 850 tỉ USD, tương đương với mức đầu tư của năm 1998. Đây là lần
sụt giảm đầu tiên của đầu tư quốc tế kể từ năm 1991. Dòng vốn FDI vào các
nước phát triển cũng giảm 50% so với mức giảm 14% ở các nước đang phát
triển.
Toàn cảnh đầu tư FDI của thế giới giai đoạn 1991-2001 được tổng hợp
trong bảng dưới đây:
11
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
Bảng1 - Tình hình đầu tư FDI của thế giới 1991-2001(Đơn vị: tỉ USD)
1991-1995 1996-2000 1999 2000 2001
Thế giới 1124,2 4626 1320,4 1632,7 851,9
Mỹ 349,1 647,1 155,4 152,4 156
Nhật 103,4 127,9 22,3 31,5 38,5
Châu Âu 642 2660,2 762,4 1011,7 394,1
NICs châu á 34,3 72,1 12,6 16 8,1
Nguồn: Báo cáo đầu tư thế giới 2002,UNCTAD. (World Investment Report 2002)
Sự suy giảm trong đầu tư quốc tế cho thấy sự đi xuống của nền kinh tế
toàn cầu. Trong bối cảnh đó, sức ép cạnh tranh gay gắt càng thúc giục các
công ty tìm kiếm địa điểm đầu tư có giá thành sản xuất rẻ hơn nữa. Những
nền kinh tế có giá cả đầu tư thấp sẽ là điểm tìm đến của các nhà đầu tư. Bên
cạnh đó, dòng vốn FDI cũng sẽ bắt nguồn từ các nước có thị trường nội địa
tăng trưởng chậm hơn so với thị trường ngoài nước.
Theo Báo cáo đầu tư thế giới (World Investment Report 2002) do
UNCTAD thực hiện, đã có một sự phân phối lại nguồn vốn FDI tới các nước
đang phát triển cũng như khu vực Đông và Tây Âu. Đây là những nơi có tốc
độ tăng trưởng nhanh hơn so với các nước phát triển.
Năm 2001, vốn FDI vào các khu vực này chiếm 28% (các nước đang
phát triển) và 4% (Đông - Trung Âu) tổng vốn FDI toàn thế giới so với 18%
và 2% của 2 năm trước đó. Cùng với xu hướng suy giảm đầu tư nói chung, sự
phân phối lại nguồn vốn FDI này đã gây nên mức tụt giảm kỉ lục trong đầu tư
vào các nước phát triển năm qua. Điều này thể hiện rất rõ trong biểu đồ thống
kê dòng vốn đầu tư nước ngoài vào 10 nền kinh tế lớn của thế giới trong hai
năm 2000và 2001. Các nước lớn như Mỹ, Canada, Đức, Bỉ đều phải chứng
kiến một mức suy giảm tới hơn 50% so với mức đầu tư FDI của năm 2000.
12
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
Biểu đồ 1: Đầu tư FDI vào 10 nền kinh tế lớn của thế giới 2000 và 2001
0 50 100 150 200 250 300 350
Hongkong
Mexico
Canada
Đuc
Trung Quoc
Ha Lan
Bi
Phap
Anh
My
ti USD
2000
2001
Nguồn: UNCTAD, Dữ liệu về FDI và TNC
Mặc dù có những ảnh hưởng xấu từ sự sụt giảm nhu cầu đầu tư của
những nền kinh tế lớn nhất trên thế giới, triển vọng của đầu tư trực tiếp nước
ngoài trong trung hạn (3 năm tới) vẫn rất hứa hẹn. Theo điều tra của
UNCTAD, các TNC lớn đều có ý định mở rộng phạm vi kinh doanh quốc tế
với trọng tâm nhằm vào cả sản xuất và phân phối. Hình thức mở rộng được ưa
chuộng vẫn là Mua lại và sáp nhập ở các nước phát triển và Đầu tư mới ở các
nước đang phát triển.
[6]
Cuộc điều tra do Cơ quan đảm bảo đầu tư đa phương (MIGA) tiến hành
năm 2001 cũng cho kết quả tương tự. Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn
cầu, 79% số công ty được điều tra vẫn cho thấy kế hoạch mở rộng đầu tư trực
tiếp nước ngoài trong những năm tới. Các doanh nghiệp sản xuất chiếm ưu
thế hơn về đầu tư FDI so với các doanh nghiệp dịch vụ.
[7]
13
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) cũng đưa ra kết quả tương
tự trong cuộc điều tra tiến hành vào tháng 7, 8 năm 2001. 72% các TNCs
Nhật Bản nói rằng họ sẽ tăng cường mở rộng hoạt động tại nước ngoài (con
số này của các năm trước chỉ là 55%.
[8]
Các nước đang phát triển và các thị trường đang mở rộng giành được sự
chú ý của các nhà đầu tư và chiếm tới hơn một nửa trong số 20 điểm đầu tư
được ưa thích nhất. Việt Nam cũng nằm trong số đó. Mỹ và Tây Âu vẫn được
đánh giá là địa điểm ưa thích của các nhà đầu tư nước ngoài.
[9]
1.1.4.2. Xu hướng đầu tư khu vực những năm tới
Châu á là khu vực đang ngày càng có vị trí quan trọng thu hút mạnh mẽ
nguồn vốn FDI. Năm 2002, Châu á đã vượt qua châu Mỹ La Tinh chiếm vị trí
thứ 3 trong số các khu vực hấp dẫn đầu tư nước ngoài nhiều nhất, sau Bắc Mỹ
và Châu Âu. Theo điều tra của A.T Kearney năm 2002, hơn một nửa trong số
10 nước có những bước tiến tích cực nhất về thu hút đầu tư so với năm trước
đó nằm ở khu vực Châu á Thái Bình Dương.
[9]
Biểu đồ dưới đây cho thấy 10 nước đang phát triển thuộc nhóm những
điểm đầu tư được TNC lựa chọn nhiều nhất trong giai đoạn 2002 – 2005 theo
điều tra của UNDTAD trong Báo cáo đầu tư thế giới 2002. Trung Quốc là
nước có được tỉ lệ lựa chọn cao nhất bởi các TNC : 22%, tiếp đến là hai nước
Đông Nam á Malaixia và Thái Lan với tỉ lệ là10%.
[10]
Biểu đồ 2- Các nước thu hút FDI mạnh nhất thuộc khu vực Châu á trong
giai đoạn 2002-2005
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét