Chữ viết tiếng Việt là chữ viết ghi âm, mỗi một tiếng hay một âm tiết, một
hình vị được ghi thành một chữ rời, ranh giới để nhận diện các chữ là khoảng
trống (space) giữa các tiếng (âm tiết, hình vị).
Chú ý phân biệt chữ, với cách hiểu là tập hợp chữ viết của một âm tiết
(hay một tiếng) như vừa nói ở trên, ví dụ: "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài",
với chữ được hiểu là đơn vị kí hiệu trong một hệ thống chữ (con chữ, chữ cái),
ví dụ chữ "a, b, c " và chữ được hiểu là hệ thống kí hiệu bằng đường nét được
đặt ra để ghi lại tiếng nói của con người, ví dụ: chữ quốc ngữ, chữ Nơm, chữ A-
rập, chữ Hán, chữ Latinh.
Tiếng Việt có 41 âm vị: 23 âm vị phụ âm và 16 âm vị ngun âm, 2 âm vị
bán ngun âm. Để ghi lại 41 âm vị này, tiếng Việt dùng 29 chữ cái (con chữ)
sau (xếp theo trật tự abc ):
a, ă, â, b, c, d, đ, e, ê, g, h, i, k, l, m, n, o, ơ, ơ, p, q, r, s, t, u, ư, v, x, y
Ngồi ra, tiếng Việt du nhập thêm 4 chữ cái f, j, w, z để viết các từ ngữ
mượn của tiếng nước ngồi bằng phiên âm, và đặc biệt là để viết các thuật ngữ
khoa học. Ví dụ: Flơbe (Flaubert), flo-rua (fluorur), juđơ (judo), xe jip (jeep),
jun (joule), watt, wolfram, Mơza (Moza), zero, Zn, v.v.
II. Chính tả và chuẩn chính tả
1. Chính tả
Khái niệm chính tả là một khái niệm được rất nhiều sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu.Chính tả” hiểu theo nghĩa thơng thường là “ Phép viết
đúng” . Chính tả là sự chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngơn ngữ. Đó là một hệ
thống các quy tắc về các âm vị, âm tiết, từ, cách dung dấu câu, cách viết hoa
Như vậy có thể nói rằng: Chính tả bao gồm nhiều vấn đề cụ thể, từ cách
viết các âm vị, âm tiết đến cách viết các đơn vị từ, cách dùng lối viết hoa các
dấu câu…
Chính tả là cách viết chữ được coi là chuẩn, nó có tính chất bắt buộc đối
với tồn thể cộng đồng ngơn ngữ. Sự thống nhất chính tả biểu hiện tính thống
nhất của một ngơn ngữ. Chuẩn chính tả, cũng như mọi chuẩn ngơn ngữ khác,
khơng phải là cái gì nhất thành, bất biến. Có những chuẩn cũ đã trở thành lỗi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
thời, nhường chỗ cho những chuẩn mới ra đời hoặc thay thế nếu nó đáp ứng nhu
cầu của đời sống, phù hợp với sự phát triển của ngơn ngữ và được xã hội chấp
nhận. Chính tả tiếng Việt cũng khơng nằm ngồi cái quy luật đó.
Do phát âm của tiếng Việt khơng thống nhất trong cả nước, phát âm của
các miền, các địa phương có những mâu thuẫn khác nhau với chính tả, tạo ra
những vấn đề chính tả khác nhau như vấn đề hỏi/ngã đối với miền Nam và phần
lớn miền Trung, vấn đề ch-/tr-, s-/x- đối với miền Bắc, v.v.
2. Chuẩn chính tả
Như chúng ta đã biết,chính tả đã được bàn bạc khá nhiều, song cho đến
nay tình trạng khơng thống nhất về chính tả vẫn còn tồn tại trong nhà trường,
trên báo chí và tồn xã hội. Vấn đề đặt ra là muốn thống nhất chính tả thì phải có
chuẩn chính tả và phải được quy định rõ ràng.
Đặc điểm chính của chuẩn chính tả:
- Đặc điểm đầu tiên của chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc gần như tuyệt
đối của nó. Đặc điểm này đòi hỏi người viết bao giờ cũng phải viết đúng chính
tả. Chữ viết có thể chưa hợp lí nhưng khi đã được thừa nhận là chuẩn chính tả
thì người cầm bút khơng được tự ý viết khác đi. Ai cũng biết rằng viết "ghế",
"ghen" khơng hợp lí và tiết kiệm bằng "gế", "gen" nhưng chỉ có cách viết thứ
nhất mới được coi là đúng chính tả. Vì vậy nói đến chuẩn chính tả là nói đến
tính chất pháp lệnh. Trong chính tả khơng có sự phân biệt hợp lí – khơng hợp lí,
hay – dở mà chỉ có sự phân biệt đúng – sai, khơng lỗi – lỗi. Đối với chính tả,
u cầu cao nhất là cách viết thống nhất, thống nhất trong mọi văn bản, mọi
người, mọi địa phương.
- Do chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối cho nên nó ít
bị thay đổi như các chuẩn mực khác của ngơn ngữ (như chuẩn ngữ âm, chuẩn từ
vựng, chuẩn ngữ pháp). Nói cách khác, chuẩn chính tả có tính chất ổn định, tính
chất cố hữu khá rõ. Sự tồn tại nhất nhất hàng thế kỉ của nó đã tạo nên ấn tượng
về một cái gì "bất di bất dịch", một tâm lí rất bảo thủ. Chính vì thế mặc dù biết
rằng cách viết "iên ngỉ" hợp lí hơn nhưng đối với chúng ta nó rất "gai mắt", khó
chịu vì trái với cách viết từ bao đời nay. Mặt khác, do tính chất "trường tồn" này
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
mà chính tả thường lạc hậu so với sự phát triển của ngữ âm. Sự mâu thuẫn giữa
ngữ âm "hiện đại" và chính tả "cổ hủ" là một trong những ngun nhân chính
làm cho chính tả trở nên rắc rối.
- Ngữ âm phát triển, chính tả khơng thể giữ mãi tính chất cố hữu của mình
mà dần dần cũng có một sự biến động nhất định. Do đó, bên cạnh chuẩn mực
chính tả hiện có lại có thể xuất hiện một cách viết mới tồn tại song song với nó,
ví dụ: "phẩm zá", "anh zũng" bên cạnh "phẩm giá", "anh dũng", "trau dồi" bên
cạnh "trau giồi", "dòng nước" bên cạnh "giòng nước", v.v tình trạng có nhiều
cách viết như vậy đòi hỏi phải tiến hành chuẩn hố chính tả.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Chương II
KHẢO SÁT THỰC TẾ TÌNH HÌNH MẮC LỖI VỀ PHỤ ÂM ĐẦU TR/CH,
S/X, R/D/GI CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
I. Khái qt chung về địa bàn thực tập
1. Huyện n Dũng- Bắc Giang
a) Về địa lý, n Dũng có núi Nham Biền chạy theo hướng Đơng-Tây.
Phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh với ranh giới là sơng Cầu, phía Đơng giáp tỉnh Hải
Dương với ranh giới là sơng Lục Đầu, phía Bắc giáp huyện Lục Nam và phía
Tây giáp thành phố Bắc Giang. Chảy xun qua huyện n Dũng là con sơng
Thương uốn lượn cung cấp phù sa cho các xã Tân Tiến, Xn Phú, Tân Liễu.
Tỉnh Bắc Giang nối tiếng với ba con sơng lớn chạy xun qua tỉnh là sơng Lục
Nam, sơng Thương, và sơng Cầu. Cả ba con sơng này đều chảy qua huyện n
Dũng và hội tụ tại Kiếp Bạc, Hải Dương.
Huyện n Dũng nằm ở phía Đơng Nam của tỉnh Bắc Giang. Tổng diện
tích tự nhiên của huyện là 21.337,68 ha. Tồn huyện có 23 xã và 02 thị trấn.
Dân số đến năm 2006 là 165.631 người. Ngồi tiềm năng phát triển nơng
nghiệp, thủy sản, với vị trí nằm liền kề với khu tam giác kinh tế phía Bắc và gần
các trung tâm đơ thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long (Quảng Ninh), Thái
Ngun, thành phố Bắc Giang, Bắc Ninh; trên tuyến hành lang kinh tế Nam
Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng, huyện n Dũng được xác định là một
trong 04 huyện, thành phố trọng điểm của tỉnh Bắc Giang trong qui hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020. Trên địa bàn huyện có 01 khu cơng
nghiệp của tỉnh là KCN Song Khê – Nội Hồng và một số cụm cơng nghiệp.
Trên địa bàn huyện còn có di tích văn hóa nổi tiếng là chùa Vĩnh Nghiêm (chùa
Đức La) được xây dựng từ cuối thế kỷ XIII.
b, Về giáo dục.
Tỉ lệ học sinh đỗ đại học cao đẳng:
Năm 2007: 51 em học đại học cao đẳng chính quy.
Năm 2000 trường tiểu học được cơng nhận chuẩn mức một.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Năm 2007 trường tiểu học được cơng nhận chuẩn mức hai.
Các cấp ủy chính quyền ln quan tâm sâu sắc đến giáo dục.
c, Về văn hóa- xã hội.
Năm 2007 n Dũng đã làm tốt phong trào tồn dân đồn kết xây dựng
khu dân cư văn hóa và được Bộ Văn Hóa- Thơng Tin du lịch tặng cờ thi đua.
Hiện nay n Dũng đã và đang đẩy mạnh thi đua xây dựng làng văn hóa
xanh, sạch, đẹp.
Ở n Dũng đã có trên 50 làng đã có số ngõ, số nhà. Nổi bật là làng
Đơng Thượng( Đơng Loan xưa) trên 10 năm đạt làng văn hóa cấp tỉnh
2. Xã Lãng Sơn- n Dũng
Xã Lãng Sơn nằm ở phía Đơng Bắc huyện n Dũng, cách thị trấn huyện
6 km, cách thị trấn tỉnh 15 km, có:
- Diện tích :818 km vng
- Dân số : 6500 khẩu- 1500 hộ gia đình.
- Lao động: 2810 người
a, Về kinh tế:
Là xã thuần nơng với 480 ha đất sản xuất nơng nghiệp.
Đặc điểm khác biệt: Lãng Sơn là một trong ba xã thuộc vùng đồng chiêm
trũng, nằm ngồi đê, chịu ảnh hưởng của thời tiết nên chỉ làm được một vụ lúa,
còn lại là ngập trong nước nhưng nhân dân ln khắc phục khó khăn thi đua lao
động sản xuất, phát triển kinh tế. Đời sống văn hóa tinh thần được ổn định, bộ
mặt nơng thơn được đổi mới.
Ngày nay cơng cuộc đổi mới của Đảng thực hiện chủ trương phát triển
kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, xóa bỏ cơ chế quản lí quan liêu
bao cấp. Sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương ln đạt được những
bước tăng trưởng vượt bậc, khai thác được nhiều tiềm năng sẵn có.
* Về nơng nghiệp:
- Thu nhập từ nơng nghiệp chiếm 50%.
- Hệ số sử dụng đất nơng nghiệp được nâng lên, đa dạng hóa cây trồng,
đổi mới cây con giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt hơn, các trang trại ra
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
đời.
* Các ngành nghề khác:
Chiếm 50% và rất phát triển từ khi có chính sách đầu tư và khuyến khích
của Đảng. Cụ thể:
300 lao động làm nghề xây dựng.
Khơi phục và phát triển làng nghề mộc truyền thống với hơn 200 lao
động. Năm 2005 nhà nước đầu tư 5,1 tỉ đồng để phát triển làng nghề.
b, Cơ sở hạ tầng: khơng ngừng được mở rộng, củng cố, đổi mới.
- 9 thơn đã được xây dựng làng văn hóa.
8 trong 9 thơn đã xây dựng đường bê tơng.
6 km đường chính được nhựa hóa, bê tơng hóa.
- Tồn dân sử dụng điện, nước hợp vệ sinh.
- Trường, lớp học, trạm y tế kiên cố.
- Các thiết chế văn hóa, phục vụ đời sống văn hóa- tinh thần của nhân dân
được xây dựng mới.
Tỉ lệ hộ nghèo hàng năm giảm từ 5 đến 10%, tỉ lệ hộ khá giả tăng nhanh.
An ninh trật tự trong xã ổn định. Đời sống kinh tế- văn hóa, tinh thần của
nhân dân được nâng cao đáng kể: 8/9 làng là làng văn hóa cấp huyện, 2/9 làng là
làng văn hóa cấp tỉnh.
3. Trường THCS Lãng Sơn
a, Thành tựu và phát triển: Trường có 17 lớp với 680 học sinh, hàng năm
trường tuyển vào lớp đạt tỷ lệ từ 99 đến 100% đáp ứng đủ nhu cầu học tập của
con em địa phương. Đến t háng 12 năm 2002 trường đã đạt các tiêu chuẩn về
phổ cập THCS.
* Về cơ sở vật chất:
Trường có 14 phòng học trong đó có 8 phòng cao tầng và 6 phòng cấp 4.
•
Các cơng trình khác gồm 1 văn phòng, 1 thư viện và 1 phòng đồ
dùng.
•
Diện tích trường là 4000m
2
.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
•
Cơ sở vật chất về cơ bản đáp ứng được những u cầu tối thiểu cho
dạy và học.
* Thành tích nổi bật: 3 năm gần đây (từ 1999 đến 2002) được cơng nhận
là trường tiên tiến.
* Các hoạt động phong trào: Hoạt động đồn đội nề nếp, phong trào văn
nghệ - thể dục thể thao thường xun sơi nổi.
II. Kết quả khảo sát, phân tích và nhận xét
Được sự giúp đỡ tận tình của giáo viên và sự ủng hộ của học sinh chúng
tơi đã thống kê được các lỗi sai chính tả về phụ âm đầu của học sinh qua bài viết
chính tả và phiếu điều tra bài tập. Qua thống kê chúng tơi nhận thấy học sinh
còn viết sai lỗi chính tả khá nhiều. Học cùng một thầy cơ giáo nhưng có em viết
sai ít, có em lai viết sai q nhiều. Tuy nhiên do thời gian có hạn nên chúng tơi
chỉ dừng lại ở việc phân tích thống kê lỗi chính tả của học sinh sai về phụ âm
đầu, cụ thể là phụ âm đầu tr/ch, s/x, r/d/gi. Sau khi tổng hợp lại tất cả các số liệu
chúng tơi thu được kết quả như sau:
1. Khảo sát lỗi sai trong bài viết chính tả ở lớp
Qua khảo sát chúng tơi thấy thực trạng mắc lỗi chính tả của học sinh
THCS rất đáng quan tâm. Chúng tơi chỉ khảo sát lỗi chính tả ở phụ âm đầu.
Chúng tơi chọn đối tượng nghiên cứu của mình là lớp 6, 7 với tổng số lớp là 6,
ba lớp khối 6 và ba lớp khối 7( mỗi lớp từ 25 đến 45 học sinh). Số lượng học
sinh khối 6 ít hơn khối 7. Cách thức làm việc của chúng tơi là khảo sát lỗi sai
thơng qua bài chép chính tả của các em. Bài chính tả này do chúng tơi tự chọn
bất kì trong chương trình học của các em, cụ thể là một đoạn trong bài “ Sơng
nước Cà Mau”, sách ngữ văn 6, NXB Giáo dục. Như vậy tức là đối với các em
lớp 6 bài viết này là khá mới mẻ, chưa được học đến trong khi đó các em lớp 7
đã được học trước đó 1 năm có như vậy chúng tơi mới có thể tiến hành khảo sát
một phần nào đó đảm bảo tính khách quan.
Kết quả cho thấy rằng cả hai khối đều mắc nhiều lỗi sai nhưng khối lớp 7
có lỗi sai chính tả ở phụ âm đầu tr/ch, s/x, r/d/gi nhiều hơn so với lớp 6. Theo
chúng tơi lí do có thể là các em khối 6 chưa được học, khối 7 thì đã được biết
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
đến bài viết đó. Khi học lên lớp cao hơn, các em khơng còn chịu ảnh hưởng của
mơn chính tả ngày học bậc tiểu học. Khơng chỉ thế do học lên lớp cao các em
bắt đầu phải học theo cách học tự giác ghi bài nên khơng tập trung vào việc viết
đúng chính tả mà chỉ chú ý làm sao ghi chép được nhiều bài và có hiệu quả.
Điều này cho ta thấy một hiện trạng rất đáng lo ngại. Qua khảo sát chúng
tơi thấy khơng có sự giảm bớt lỗi sai nào ở trên các lớp cao hơn. Khối 7 đáng lẽ
phải ít sai hơn thế nhưng rõ ràng là ở lớp trên tỉ lệ mắc lỗi chính tả khơng những
khơng giảm mà lại còn tăng lên. Đây chính là vấn đề mà ngành giáo dục chúng
ta cần phải xem xét lai, cả việc dạy của giáo viên và học của học sinh.
Một số ví dụ về lỗi sai chính tả theo phụ âm đầu tr/ch, s/x, r/d/gi.
Viết đúng Viết sai
kênh rạch kênh dạch, kênh giạch
bủa giăng bủa răng, bủa dăng
màu xanh màu sanh
đen trũi đen chũi
chung quanh trung quanh
v v
Trong q trình khảo sát, chúng tơi nhận thấy học sinh THCS mắc khá
nhiều lỗi sai ngồi lỗi sai theo phụ âm đầu tr/ch, s/x, r/d/gi nh ưng như đã nói
khá nhiều ở trên, do thời gian khơng nhiều nên chúng tơi khơng thể nghiên cứu
một cách tồn diện tất cả các lỗi chính tả theo phụ âm đầu, âm chính, âm cuối và
thanh điệu. Tuy nhiên theo nhan xét ban đầu củ chúng tơi thì các lỗi về phụ âm
đầu chiếm số lượng nhiều nhất sau đó mới đến các lỗi khác. Bởi vậy sau khi
thống kê và tập hợp lại chúng tơi đưa ra bảng tính so sánh lỗi về phụ âm đầu
tr/ch, s/x, r/d/gi của các lớp và các khối.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Bảng 1. Lỗi sai chính tả về phụ âm đầu của các lớp
Tổng
số lỗi
sai
PÂĐ
Lỗi
sai
phụ
âm
đầu
Khối 7 (120 học sinh) Khối 6( 82 học sinh)
Lớp 7A
(40 HS)
Lớp 7B
(43 HS)
Lớp 7C
(37 HS)
Lớp 6A
(28 HS)
Lớp 6B
(25 HS)
Lớp 6C
(29 HS)
Số
lỗi
Tỉ
lệ %
Số
lỗi
Tỉ lệ
%
Số
lỗi
Tỉ lệ
%
Số
lỗi
Tỉ lệ
%
Số
lỗi
Tỉ lệ
%
Số
lỗi
Tỉ lệ
%
158 tr/ch 28 17.7 24 15.2 40 25.3 24 15.2 12 7.6 30 19
349 r/d/gi 82 23.5 48 13.7 70 20.1 57 16.3 39 11.2 53 15.2
95 s/x 30 31.6 8 8.4 22 23.1 14 14.7 6 6.3 15 15.8
Nhận xét:
Ta có thể thấy rằng số học sinh của các lớp có sự chênh lệch khá lớn, đặc
biệt là giữa lớp 6 và 7. Cả hai khối đều có số lượng nhiều các lỗi chính tả nhưng
cụ thể thì tỉ lệ mắc lỗi của khối các lớp 7 lớn hơn nhiều so với lớp 6. Chẳng hạn
như cùng các lỗi sai về phụ âm đầu là r/d/gi nhưng số lỗi sai của khối 7 có tới
200 trong khi đó của khối 6 là 149.
Trong bài viết chính tả có những chữ các em có thể viết thành nhiều kiểu
khác nhau. Lí do có thể vì người viết cẩu thả, khơng nghe rõ hoặc cũng có thể
là do khơng biết quy tắc viết chính tả. Trong khi khảo sát chúng tơi nhận thấy
có rất nhiều vấn đề chung quang vấn đề chính tả mà các em cùng gặp phải
nhưng đơn vị khảo sát ở đây chỉ là sai về phụ âm đầu và đây cũng là kiểu sai
thường gặp nhất trong bài tập này.
Bảng 2. So sánh số lượng lỗi sai của học sinh hai khối
Lỗi sai phụ
âm đầu
Tổng số
lỗi
Khối 7 Khối 6
Số lỗi Tỉ lệ % Số lỗi Tỉ lệ %
Tr/ch 158 92 58.2 66 41.8
r/d/gi 349 200 57.3 149 43.7
s/x 95 60 63.2 35 36.8
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Trong bài chính tả chúng tơi đã cố gắng lựa chon đoạn văn xuất hiện
nhiều từ có phụ âm đầu là tr/ch, r/d/gi, s/x để đảm bảo tính khách quan.Trong
bài tập này, từ “ bủa giăng” và từ “đen trũi” là 2 từ đặc biệt cần phải nói tới.Một
số lượng lớn các em học sinh đều sai 2 từ này.chẳng hạn như từ “bủa giăng” ở
lớp 7A chỉ có 3/40 em viết đúng, 37 học sinh còn lại đều viết từ này thành bủa
răng hay bủa dăng. Tuy nhiên bên cạnh những từ như vậy vẫn có một số từ các
em viết đúng hồn toan. Số các từ còn lại đều có nhiều em sai. Trong bài chính
tả này chỉ có khoảng 7/202 em viết đúng hết các phụ âm đầu tr/ch, r/d/gi, s/x
trong cả bài. Hầu hết tất cả các em nếu đúng được từ này thì lại sai từ khác.
Như vậy có nghĩa là, có tới 96.5% các em học sinh viết sai ít nhất là một lỗi.Bên
cạnh đó có những chữ như: xanh, xuống, dãy, …các em vẫn viết thành sanh,
suống, dãy,…Trong bài đọc chính tả này chúng tơi nhận thấy có hiện tượng một
chữ các em viết nhiều lỗi khác nhau. Ví dụ:
Viết đúng Viết sai
Rì rào dì rào,dì dào, gì dào, gì rào
Đổ ra đổ da, đổ gia
Bủa giăng bủa răng, bủa dăng…
Và để có thể nhìn một cách tồn diện hơn chúng tơi xin đưa ra bảng danh
sách các lỗi sai và tỉ lệ phần trăm sai của các lớp cũng như khối
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét