Chuyên để thực tạp
Phần i
cơ sở lý luận chung về kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong
doanh nghiệp sản xuất.
I. Sự cần thiết của hạch toán chi phí và tính giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
Khi đi vào kinh doanh bất cứ một lĩnh vực hoạt động nào, tất cả các doanh
nghiệp đều mong muốn doanh nghiệp của mình sẽ thu hút đợc nhiều vốn đầu t, ký
kết đợc nhiều hợp đồng và đem lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp, góp phần
đảm bảo mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân một cách toàn diện, cân đối
và thống nhất, từ đó sẽ nâng đợc hiệu quả kinh doanh xã hội, tăng thu nhập quốc
dân và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.
Muốn vậy các doanh nghiệp cần phải tìm cách tăng năng suất, chất lợng sản
phẩm, đồng thời làm giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuân và không
ngừng tăng tích luỹ cho doanh nghiệp có nh vậy mới đáp ứng đợc yêu cầu ổn định
và nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên. Để làm đợc điều này thì trong
quá trình hạch toán cần phải quản lý chặt chẽ, hạch toán chính xác và đầy đủ chi
phí bỏ ra để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vấn đề
này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm, giúp cho bộ máy quản lý của đơn vị thờng xuyên nắm đợc tình
hình thực hiện các định mức hao phí về lao động, nguyên liệu và các chi phí khác
của đơn vị, nắm đợc tình hình lãng phí và tổn thất trong quá trình chuẩn bị và tiến
hành sản xuất cũng nh tình hình thực hiện giá thành của đơn vị. Ngoài ra còn giúp
cho bộ máy của đơn vị nắm đợc những mặt tốt, những mặt còn tồn tại trong quá
trình hoạt động của đơn vị, trên cơ sở đó đánh giá đợc hiệu quả kinh tế, không
ngừng nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ giá thành, tăng thêm thu nhập. Chính vì
vậy, tổ chức tốt công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có ý
nghĩa hết sức quan trọng đối với việc tăng cờng và cải tiến công tác quản lý giá
thành nói riêng và quản lý đơn vị nói chung.
II. Khái quát chung về chi phí sản xuất và tính gía thành
sản phẩm trong Doanh nghiệp.
1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất sản phẩm.
1.1. Khái niệm chi phí sản xuất.
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài ngời gắn liền với quá trình sản
xuất. Nền sản xuất của bất kỳ phơng thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận
động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất và đó là sự kết tinh
5
Chuyên để thực tạp
của 3 yếu tố : t liệu lao động, đối tợng lao động và sức lao động, đồng thời quá
trình sản xuất hàng hoá cũng chính là quá trình tiêu hao các yếu tố trên.
Để sản xuất ra hàng hóa thì phải tiêu hao cả về lao động và đối tợng lao động. Do
vậy có thể kết luận rằng: chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá
trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và thực chất chi phí là sự dịch chuỷên vốn, sự
dịch chuyển các yếu tố sản xuất vào các đối tợng tính giá thành sản phẩm.
Khi tiến hành sản xuất không phải tất cả các khoản chi phí đều liên quan
đến hoạt động sản xuất sản phẩm mà còn có những khoản chi phí khác có tính chất
sản xuất nh chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Do đó chỉ những chi
phí để tiến hành các hoạt động sản xuất mới đợc coi là chi phí sản xuất.
1.2. Phân loại chi phí sản xuất.
Việc phân loại chi phí đợc Doanh nghiệp áp dụng tuỳ theo đặc điểm sản
xuất kinh doanh, quản lý và trình độ nghiệp vụ của mình sao cho hợp lý. Do đó
phân loại chi phí sản xuất chính là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng
nhóm khác nhau theo những đặc tính nhất định.
* Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí
Theo cách phân loại này, các chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế đợc xếp
chung vào một yếu tố, không kể đến chi phí phát sinh ở đâu hay dùng vào mục
đích gì trong quá trình sản xuất. Bao gồm :
- Chi phí nguyên vật liệu nh: Sắt, thép, tôn. nhôm, sơn, giấy phản quang
- Chi phí nhiên liệu, động lực mua ngoài: Xăng, dầu, gas, ô xy, bình khí
- Chi phí công cụ, dụng cụ nh: Que hàn, máy khoan
- Chi phí tiền lơng của công nhân trực tiếp, gián tiếp, lao động thuê ngoài,
trích BHXH, BHYT, theo tỷ lệ quy định.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định là các hao mòn của các loại tài sản trong
doanh nghiệp nh: Nhà xởng làm việc, máy móc thiết bị thi công, phơng tiện
vận tải, thiết bị dụng cụ quản lý.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Tiền điện, tiền nớc, điện thoại
- Chi phí bằng tiền khác.
Việc phân loại sản phẩm sản xuất theo yếu tố chi phí cho biết kết cấu, tỷ trọng
từng yếu tố sản xuất để phân tích, đánh gía tình hình thực hiện dự toán, là cơ sở để
lập kế hoạch: Cung ứng vật t, quỹ tiền lơng, vốn để giúp cho việc thực hiện công
6
Chuyên để thực tạp
tác kế toán cũng nh công tác quản lý chi phí sản xuất một cách nhanh chóng và
chính xác.
* Phân loại theo khoản mục chi phí .
Căn cứ vào các khoản mục chi phí khác nhau nhng có mục đích và công dụng,
không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế để phân loại.
Có 4 khoản mục chi phí sau:
- Chi phí Nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm toàn bộ các khoản chi phí nguyên
vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu tham gia trực tiếp vào sản xuất chế
tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm toàn bộ các khoản thù lao phải trả cho
công nhân trực tiếp sản xuất nh lơng, phụ cấp lơng, các khoản trích theo l-
ơng (BHXH, BHYT, KPCĐ)
- Chi phí sử dụng máy thi công: Bao gồm toàn bộ các khoản chi phí doanh
nghiệp bỏ ra có liên quan tới việc sử dụng máy thi công phục vụ cho việc
vận chuỷên, phục vụ công trình nh: tiền khấu hao máy móc thiết bị, tiền
thuê máy, lơng công nhân điều khiển máy, chi phí về nhiên liệu dùng cho
máy thi công
- Chi phí sản xuất chung: là toàn bộ chi phí phát sinh trong phân xởng (trừ 3
loại chi phí trên) bao gồm tiền lơng và các khoản trích theo lơng của nhân
viên quản lý phân xởng, chi phí khấu hao, chi phí cho điện thoại, điện nớc,
và các chi phí bằng tiền khác
Vì vậy phân loại theo khoản mục chi phí có tác dụng phục vụ cho quản lý chi phí
sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm ,
lập kế hoạch giá thành và định mức chi phí sản xuất cho kỳ sau.
* Phân loại theo lĩnh vực hoạt động gồm:
- Chi phí sản xuất kinh doanh: là những chi phí liên quan đến hiện trạng sản
xuất và tiêu thụ, quản lý hành chính, quản trị kinh doanh.
- Chi phí hoạt động tài chính: gồm những chi phí ngoài dự kiến có thể do chủ
quan hay khách quan dẫn tới.
- Chi phí bất thờng: Gồm những chi phí ngoài dự kiến có thể do chủ quan hay
khách quan mang lại.
Cách phân loại này giúp cho việc phân định chi phí đợc chính xác, phục vụ cho
việc tính giá thành, xác định chi phí và kết quả cuả từng hoạt động kinh doanh
đúng đắn, giúp cho việc lập Báo cáo tài chính nhanh, đúng và kịp thời.
7
Chuyên để thực tạp
* Phân loại theo mối quan hệ chi phí và khối lợng công việc : Theo cách phân
loại nay thì chi phí đợc chia thành: Chi phí cố định, chi phí biến đổi và chi phí hỗn
hợp
- Chi phí cố định (chi phí bất biến): là loại chi phí mà tổng số không thay đổi
khi có sự thay đổi về khối lợng hoạt động.
- Chi phí biến đổi (chi phí khả biến, biến phí): là các chi phí thay đổi về tổng
số tỷ lệ với sự thay đổi của mức độ hoạt động.
- Chi phí hỗn hợp là chi phí mà nó bao gồm cả định phí và biến phí.
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng giúp nhà quản trị nắm đợc mô hình chi
phí - khối lợng - lợi nhuận để xác định điểm hoà vốn, nhằm đa ra giải pháp tối u
trong kinh doanh, nâng cao hiệu qủa chi phí, làm hạ giá thành sản phẩm.
* Phân loại chi phí theo mối quan hệ chi phí với đối tợng chịu chi phí gồm:
- Chi phí cơ bản: là những chi phí thuộc các yếu tố cơ bản của quá trình kinh
doanh nh chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí
KHTSCĐ dùng vào sản xuất và những chi phí trực tiếp khác.
- Chi phí quản lý phục vụ: là những chi phí có tính chất quản lý, phục vụ cho
hoạt động kinh doanh của đơn vị.
Những chi phí cơ bản liên quan trực tiếp đến từng đối tợng tính giá thành thì
hạch toán trực tiếp, còn những chi phí cơ bản nào liên quan đến nhiều đối tợng tính
giá thành thì trực tiếp phân bổ các đối tợng tính giá thành theo các tiêu thức thích
hợp.
Chi phí quản lý phục vụ thì tập hợp riêng theo khoản mục sau đó cuối kỳ phân
bổ một lần cho các đối tợng tính giá liên quan theo tiêu thức phù hợp.
2. Gía thành và phân loại giá thành.
2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm sản xuất.
Sự vận động của quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp bao gồm
2 mặt đối lập nhau, nhng có liên quan mật thiết hữu cơ với nhau. Trong đó, một
mặt là các chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra, còn mặt khác là kết quả kinh doanh
thu đợc từ những sản phẩm đã hoàn thành. Vậy giá thành sản phẩm là biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh
nghiệp đã bo ra có liên quan tới khối lợng công việc đã hoàn thành .
Giá thành sản phẩm sản xuất là toàn bộ chi phí (phát sinh trong kỳ, kỳ trớc
chuyển sang, cả chi phí trích trớc) chi ra tính bằng tiền để hoàn thành một khối l-
ợng sản phẩm nhất định trong kỳ. Đây là một căn cứ quan trọng để định giá bán và
xác định hiệu quả kinh tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
8
Chuyên để thực tạp
2.2. Phân loại giá thành.
Tuỳ theo cách thức phân loại phạm vi tính toán và góc độ xem xét mà giá
thành đợc phân theo nhiều loại khác nhau:
* Phân theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính gía thành gồm 3 loại:
- Giá thành kế hoạch: Là loại giá thành đợc xác định trớc khi tiến hành sản
xuất kinh doanh trên cơ sở gía thành thực tế kỳ trớc và các định mức, các dự toán
chi phí của kỳ kế hoạch. Chỉ tiêu này xác định mức độ chi phí giới hạn để sản xuất
sản phẩm của doanh nghiệp, là cơ sở để phân tích, đánh gía tình hình thực hiện kế
hoạch giá thành, kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức: Cũng nh giá thành kế hoạch, giá thành định mức đợc
xác định trớc khi tiến hành sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên, khác với giá thành kế
hoạch đợc xây dựng trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm
nhất định trong kỳ kế hoạch (thờng là đầu tháng) nên định mức luôn thay đổi phù
hợp với sự thay đổi các định mức chi phí đạt đợc trong quá trình sản xuất sản
phẩm. Do vậy, có thể nói giá thành định mức là thớc đo chính xác các chi phí cần
thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm trong điều kiện sản xuất nhất định tại
từng thời điểm nhất định.
- Giá thành thực tế : Là gía thành đợc xác định sau khi đã kết thúc quá trình
sản xuất sản phẩm trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất
sản phẩm, nó bao gồm cả chi phí kế hoạch, định mức và những chi phí ngoài kế
hoạch, nh chi phí sản phẩm hỏng, thiệt hại trong sản xuất. Gía thành thực tế là cơ
sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có ảnh h-
ởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
* Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí:
Theo cách phân loại này, giá thành sản xuất đợc phân chia thành giá thành
sản xuất (giá thành công xởng) và giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ).
- Gía thành sản xuất: Là giá thành bao gồm toàn bộ các khoản chi phí phát
sinh liên quan đến quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xớng
sản xuất. Đó là chi phí NVL trực tiếp, chi phí NCTT và chi phí SXC.
- Gía thành tiêu thụ: Là giá thành bao gồm toàn bộ các khoản chi phí phát
sình liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Hay nói khác đi, giá thành tiêu
thụ bằng giá thành sản xuất cộng với chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán
hàng. Chính vì vậy, gía thành tiêu thụ đợc gọi là gía thành toàn bộ hay gía thành
đầy đủ.
9
Chuyên để thực tạp
3. Phân biệt chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Mặc dù giữa chi phí và gía thành có mối quan hệ với nhau nhng giữa chúng còn có
điểm khác nhau về phạm vi và nội dung. Vì vậy, cần phân biệt phạm vi và giới hạn
của chúng để ứng dụng tốt hơn trong việc tính gía thành sản phẩm.
- Chi phí sản xuất chỉ tính những chi phí phát sinh trong một kỳ nhất định
(tháng, quý, năm) không tính đến nó liên quan đến khối lợng sản phẩm sản
xuất đã hoàn thành. Còn giá thành liên quan đến cả chi phí của kỳ trớc
chuyển sang (chi phí dở dang đầu kỳ) và chi phí của kỳ này chuỷên sang kỳ
sau (chi phí dở dang cuôi kỳ).
- Chi phí sản xuất gắn liền với khối lợng chủng loại sản phẩm sản xuất hoàn
thành, trong khi đó gía thành lại liên quan mật thiết đến khối lợng và chủng
loại sản phẩm đã hoàn thành.
Mặc dù chi phí sản xuất và gía thành sản phẩm đều tiêu hao các yếu tố về lao
động sống và lao động vật hoá. Nhng chúng vẫn có những điểm khác nhau:
- Về mặt chất: Chi phí kinh doanh là yếu tố đa hao phí trong quá trình kinh
doanh nhng cha hẳn đã hoàn thành. Còn giá thành sản phẩm là những yếu tố
tiêu hao cho quá trình kinh doanh một lợng sản phẩm dịch vụ đã hoàn thành
- Về mặt lợng: Thờng về mặt lợng giữa chúng không có sự thống nhất với
nhau. Giá thành sản phẩm có thể bao gồm cả chi phí của thời kỳ trớc chuyển
sang, chi phí đa chi ra trong kỳ và loại trừ chi phí chuyển sang kỳ sau. Nó đ-
ợc biểu hiện qua công thức sau:
Trong đó:
Z : là tổng giá thành sản phẩm
Dck : Chi phí dở dang đầu kỳ
C : Chi phí phát sinh trong kỳ
Dđk : Chi phí dở dang cuối kỳ
Khi gía trị dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau thì gía thành sản phẩm dịch vụ
trùng khớp với chi phi sản xuất.
4. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Hạch toán quá trình sản xuất sản phẩm bao gồm hai giai đoạn liên tục kế
tiếp nhau và có mối quan hệ với nhau, giai đoạn đầu hạch toán tập hợp chi phí phát
sinh trong kỳ theo từng đối tợng, chịu chi phí nh từng hoạt động kinh doanh, từng
hợp đồng kinh doanh và phân tích các chi phí đó theo yêu cầu quản lý cụ thể nh
10
ckdk
DCDZ +=
Chuyên để thực tạp
theo khoản mục chi phí, theo yếu tố chi phí Giai đoạn hai là tính gía thành sản
phẩm theo từng đối tợng tính gía thành trên cơ sở số liệu của chi phí đã tập hợp đ-
ợc.
Xác định đúng đối tợng tập hợp chi phí và đối tợng tính gía thành là một
trong những điều kiện chủ chốt để tính gía thành đợc chính xác.
4.1. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất.
Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất chính là phạm vi giới hạn để tập hợp các
chi phí sản xuất, có thể là nơi phát sinh chi phí (phân xởng, bộ phận) hoặc có thể là
đối tợng chịu chi phí (sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng).
Việc xác định đối tợng tập hợp chi phí thực chất là việc xác định giới hạn
tập hợp chi phí phát sinh và đối tợng chịu chi phí. Khi xác định đối tợng tập hợp
chi phí sản xuất, trớc hết là phải căn cứ vào mục đích sử dụng, sau đó là căn cứ vào
địa điểm phát sinh chi phí.
Xác định đối tợng tập hợp chi phí phù hợp với yêu cầu quản lý doanh
nghiệp, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản
xuất từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến việc tập hợp số liệu ghi chép trên tài
khoản, sổ chi tiết.
4.2. Đối tợng tính gía thành sản phẩm.
Đối tợng tính giá thành sản phẩm có thể là sản phẩm, bán sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ hoàn thành, tuỳ theo yêu cầu của hạch toán và tiêu thụ sản phẩm.
4.3. Mối quan hệ giữa đối tợng tập hợp chi phí và đối tợng tính gía thành
Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính gía thành sản phẩm giống
nhau ở bản chất chung, chúng đều là phạm vi giới hạn để tập hợp chi phí, cùng
phục vụ công tác quản lý, phân tích và kiểm tra chi phí và giá thành. Nhng chúng
có nhiều điểm khác nhau sau:
- Xác định đối tợng tập hợp chi phí là xác định phạm vi phát sinh chi phí đợc
tập hợp phát sinh trong kỳ. Còn xác định đối tợng tính gía thành có liên
quan đến kết quả sản xuất.
- Một đối tợng tập hợp chi phí sản xuất có thể có nhiều đối tợng tính gía
thành.
Tuy nhiên, trong nhiều trờng hợp đối tợng tính gía thành sản phẩm cũng là đối
tợng hạch toán chi phí sản xuất. Do đó để phân biệt đối tợng hạch toán chi phí sản
xuất và đối tợng tính gía thành ngay cả khi chúng đồng nhất là một, chúng ta cần
căn cứ vào các cơ sở sau :
Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất:
11
Chuyên để thực tạp
- Với sản xuất giản đơn, đối tợng hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản
phẩm hay toàn bộ quá trình sản xuất, hoặc có thể là một nhóm sản phẩm,
đối tợng tính gía thành sản phẩm là sản phẩm cuối cùng.
- Với sản xuất phức tạp, đối tợng hạch toán chi phí sản xuất có thể là bộ phận,
chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến. Còn đối tợng tính gía thành sản
phẩm là sản phẩm ở bớc cuối cùng hay bán thành phẩm ở từng bớc chế tạo.
Căn cứ vào loại hình sản xuất:
- Với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ, đối tợng chi phí là đơn đặt
hàng riêng biệt, còn đối tợng hạch toán giá thành là sản phẩm của từng đơn.
- Đối với sản xuất hàng loạt với khối lợng lớn, tuỳ thuộc vào quy trình công
nghệ là đơn giản hay phức tạp mà đối tợng hạch toán chi phí sản xuất có thể
là sản phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết, nhóm chi tiết, giai đoạn công nghệ.
Còn đối tợng tính gía thành có thể là sản phẩm cuối cùng hay bán thành
phẩm.
Căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh:
- Với trình độ cao, có thể chi tiết đối tợng hạch toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm ở các góc độ khác nhau, ngợc lại nếu trình độ thấp thì
đối tợng đó có thể bị hạn chế và thu hẹp lại.
- Việc xác định rõ mối quan hệ và sự khác nhau giữa đối tợng chi phí sản xuất
và đối tợng tính gía thành sản phẩm là vấn đề mang tính định lợng cho tổ
chức hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm. Đồng thời thể
hiện đợc mục đích và phạm vi tiến hành hai giai đoạn của công tác kế toán
nêu trên.
* Kỳ tính giá thành:
Là thời kỳ mà kế toán tính gía thành cần phải tính đợc giá thành thực tế cho
sản phẩm hoàn thành.
Xác định kỳ tính gía thành thích hợp sẽ giúp cho việc tổ chức, công tác tính
giá thành khoa học hợp lý, đảm bảo cung cấp số liệu về giá thành thực tế kịp thời,
phát huy đợc chức năng Giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch giá thành của
doanh nghiệp.
5. Trình tự tập hợp chi phí sản xuất :
a. Chi phí trực tiếp
Chi phí trực tiếp là những chi phí có quan hệ trực tiếp đến từng đối tợng tập
hợp chi phí riêng biệt. Theo phơng pháp này thì chi phí phát sinh cho đối tợng nào
đợc tập hợp trực tiếp cho đối tợng đó. Để thực hiện tốt phơng pháp này đòi hỏi phải
12
Chuyên để thực tạp
tổ chức việc ghi chép ban đầu (chứng từ gôc) phải theo đúng đối tợng đã xác định.
Trên cơ sở đó kế toán tổng hợp số liệu từ các chứng từ gốc theo từng đối tợng tập
hợp chi phí liên quan và trực tiếp ghi vào sổ kế toán (tài khoản cấp 1, tài khoản cấp
2, sổ chi tiết). Phơng pháp này đảm bảo tập hợp chi phí theo đúng đối tợng chịu chi
phí với mức độ chính xác cao.
b. Chi phí chung
Chi phí chung là những chi phí có liên quan đến những đối tợng tập hợp chi
phí mà không phân biệt riêng rẽ ngay từ khi hạch toán ban đầu nh chi phí điện nớc,
chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí trực tiếp khác. Các chi phí này phát sinh không thể
tổ chức ghi chép ban đầu riêng theo từng đối tợng chịu chi phí đợc mà kế toán phải
sử dụng phơng pháp gián tiếp hay còn gọi là phơng pháp phân bổ gián tiếp. Sử
dụng phơng pháp này kế toán vẫn tập hợp đợc chi phí cho từng đối tợng tập hợp chi
phí đáp ứng yêu cầu quản lý.
Phơng pháp này đòi hỏi phải tổ chức ghi chép ban đầu với những chi phí có liên
quan đến nhiều đối tợng theo từng địa điểm phát sinh chi phí, trên cơ sở đó để tập
hợp số liệu theo từng điểm phát sinh chi phí. Sau đó chọn tiêu chuẩn phân bổ hợp
lý để tính toán, phân bổ chi phí đã tập hợp cho các đối tợng có liên quan. Tiêu
chuẩn phân bổ thích hợp là tiêu chuẩn có quan hệ kinh tế tơng quan tỷ lệ thuận với
chi phí cần phân bổ đảm bảo cho việc phân bổ hợp lý, đồng thời tiêu chuẩn đó đã
có thể tính toán hoặc thu thập đợc một cách dễ dàng. Vì vậy tuỳ theo từng khoản
mục chi phí cần phân bổ và điều kiện khách quan cụ thể mà chọn tiêu chuẩn để
phân bổ chi phí cho thích hợp, đảm bảo cho chi phí đó đợc phân bổ cho từng đối t-
ợng có liên quan một cách hợp lý và chính xác nhất, lại đơn giản đợc thủ tục tính
toán, phân bổ.
Các bớc phân bổ nh sau:
- Bớc 1: Trớc hết tính hệ số phân bổ chi phí theo công thức:
Tổng chi phí NVL tập hợp cần phân bổ
Hệ số phân bổ =
Tổng tiêu thức phân bổ
- Bớc 2: Tính chi phí phân bổ cho từng đối tợng liên quan theo công thức:
Chi phí phân bổ Hệ số Tiêu thức phân bổ
cho từng đối tợng phân bổ cho từng đối tợng
6. Phơng pháp tính giá thành:
Phơng pháp tính giá thành là một phơng pháp hay hệ thông các phơng pháp
đợc sử dụng để tính giá thành của đơn vị sản phẩm, nó mang tính thuần tuý kỹ
thuật tính toán cho chi phí từng đối tợng tính gía thành. Có nhiều phơng pháp đợc
13
Chuyên để thực tạp
sử dụng để tính gía thành, tuỳ theo đặc điểm cụ thể của doanh nghiệp nh đối tợng
tập hợp chi phi và đối tợng tính giá thành đã xác định để áp dụng phơng pháp tính
giá thành cho phù hợp, hoặc áp dụng kết hợp một số phơng pháp khác nhau.
Phơng pháp tính giá thành bao gồm:
* Phơng pháp trực tiếp (phơng pháp giản đơn):
Phơng pháp này áp dụng đối với doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản
đơn, số lợng mặt hàng ít nhng sản xuất với số lợng lớn. Căn cứ vào số liệu chi phí
đã tập hợp đợc trong kỳ, chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ và cuối kỳ xác định đợc,
kế toán tính giá thành theo công thức:
Tổng gía = CPSX dở dang + CPSX phát sinh - CPSX dở dang
thành SP đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ
Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành
Giá thành đơn vị =
Số lợng sản phẩm hoàn thành
* Phơng pháp tổng cộng chi phí :
Phơng pháp này áp dụng đối với những doanh nghiệp mà quá trình sản xuất
đợc thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ nh các doanh
nghiệp khai thác, dệt nhuộm, cơ khí chế tạo, may mặc.
đối tợng tập hợp CPSX là các bộ phận, chi tiết sản phẩm, giai đoạn công nghệ hay
bộ phận sản xuất, đối tợng tính giá thành là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản
xuất.
Theo phơng pháp này, giá thành sản phẩm đợc tính nh sau:
Tổng giá CP bớc 1 CP bớc 2 CP bớc n thành
SP hoàn = tính cho + tính cho + + tính cho
thành thành phẩm thành phẩm thành phẩm
* Phơng pháp hệ số:
Phơng pháp này đợc áp dụng tại những doanh nghiệp mà trong cùng một
quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lợng lao động nhng
thu đợc đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho
từng loại sản phẩm mà phải tập trung cho cả quá trình sản xuất. Đối tợng hạch toán
CPSX là nhóm sản phẩm, đối tợng tính gía thành là những sản phẩm .
Theo phơng pháp này, trớc hết kế toán căn cứ vào định mức tiêu chuẩn kỹ
thuật để xác định hệ số giá thành cho từng loại sản phẩm, dịch vụ. Trong đó, lấy
một loại sản phẩm, dịch vụ làm gốc có hệ số giá quy định, từ đó căn cứ vào các
tiêu thức khác nhau nh số lợng NVL tiêu hao, trọng lợng sản phẩm tính bằng hệ số
quy đổi cho loại sản phẩm còn lại. Cuối kỳ, căn cứ vào khối lợng sản phẩm thực tế
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét