5
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
1.1.2 Mục tiêu trong kiểm toán Báo cáo tài chính
Với vai trò là một loại hình kiểm toán, kiểm toán tài chính thực hiện chức
năng xác minh và bày tỏ ý kiến về đối tượng kiểm toán. Chức năng này phải được
thực hiện dựa trên những bằng chứng đầy đủ và có hiệu lực với chi phí kiểm toán
ít nhất. Do vậy việc xác định hệ thống mục tiêu kiểm toán khoa học trên cở sở các
mối quan hệ vốn có của đối tượng và của khách thể kiểm toán sẽ giúp kiểm toán
viên thực hiện đúng hướng và có hiệu quả hoạt động kiểm toán.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, khoản 11 xác định: “Mục tiêu của
kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra
ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ
kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản
ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không.
Mục tiêu kiếm toán tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ
những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính
của đơn vị”
2
.
Khái niệm trung thực, hợp lý, hợp pháp được hiểu như sau:
- Trung thực là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng sự
thật nội dung, bản chất và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
- Hợp lý là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh trung thực, cần
thiết và phù hợp về không gian, thời gian và sự kiện được nhiều người
thừa nhận.
- Hợp pháp là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng pháp
luật, đúng chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp
nhận).
Để đạt được mục tiêu tổng quát trên thì cần cụ thể hóa hơn các yếu tố cấu
thành và tiến trình thực hiện các yêu cầu trung thực, hợp lý, hợp pháp trong xác
minh và bày tỏ ý kiến về toàn bộ báo cáo tài chính cũng như trong từng phần hành
cụ thể. Theo đó mục tiêu xác minh phải hướng tới:
- Tính hiệu lực (có thực) của các thông tin với ý nghĩa các thông tin phản
ánh tài sản hoặc vốn phải được đảm bảo bằng sự tồn tại thực tế của tài sản.
2
Giáo trình kiểm toán tài chính (2006) GS.TS Nguyễn Quang Quynh trang 36
- Tính đầy đủ (trọn vẹn) của thông tin với ý nghĩa thông tin phản ánh trên
bảng khai tài chính không bị bỏ sót trong quá trình xử lý.
Phạm Thị Hồng Hạnh Kiểm toán 46B
6
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
- Tính đúng đắn của việc tính giá với ý nghĩa giá tài sản cũng như giá thành
đều được tính theo phương pháp kế toán là giá thực tế đơn vị phải chi ra để mua
hoặc thực hiện các hoạt động.
- Tính chính xác về cơ học trong các phép tính số học cũng như khi chuyển
sổ, sang trang… trong công nghệ kế toán.
- Tính đúng đắn trong phân loại và trình bày với ý nghĩa tuân thủ các qui
định cụ thể trong phân loại tài sản và vốn cũng như các quá trình kinh doanh qua
hệ thống tài khoản tổng hợp và chi tiết cùng việc phản ánh các quan hệ đối ứng để
có thông tin hình thành báo cáo tài chính.
- Tính đúng đắn trong việc phản ánh quyền và nghĩa vụ của đơn vị kế toán
trên bảng khai tài chính với ý nghĩa: tài sản phản ánh trên bảng phải thuộc quyền
sở hữu (hoặc sử dụng lâu dài) của đơn vị, vốn và công nợ phản ánh đúng nghĩa vụ
tuơng ứng của đơn vị này.
Trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán cần phải đặc biệt chú ý giữa mục
tiêu chung của toàn bộ bảng khai tài chính với mục tiêu kiểm toán chung cho mọi
phần hành.
1.1.3 Qui trình kiểm toán Báo cáo tài chính
Theo nguyên lý chung, trình tự kiểm toán tài chính trải qua ba giai đoạn cơ
bản: Chuẩn bị kiểm toán, thực hành kiểm toán và kết thúc kiểm toán. Tuy nhiên do
đặc điểm về đối tượng, về quan hệ giữa chủ thể với khách thể kiểm toán mà trình
tự kiểm toán tài chính cũng có những đặc điểm riêng. Nhìn chung kiểm toán tài
chính được thực hiện qua những bước cơ bản sau:
Bước 1 – Chuẩn bị kiểm toán: Từ thư mời (hoặc lệnh) kiểm toán, kiểm toán
viên tìm hiểu về khách thể kiểm toán với mục đích hình thành hợp đồng hoặc kế
hoạch chung cho cuộc kiểm toán. Tiếp đó, kiểm toán viên cần thu thập các thông
tin, thẩm tra và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách thể kiểm toán để xây
dựng kế hoạch kiểm toán. Để thực hiện những công việc trên, các trắc nghiệm chủ
yếu được thực hiện là trắc nghiệm mức đạt yêu cầu của công việc và trắc nghiệm
phân tích (tổng quát). Đồng thời với công việc kiểm toán cần chuẩn bị cả phương
tiện và lực lượng giúp việc cho triển khai kế hoạch và chương trình kiểm toán đã
xây dựng.
Bước 2 – Thực hiện công việc kiểm toán: Đây là quá trình sử dụng các trắc
nghiệm chủ yếu là trắc nghiệm cơ bản vào việc xác minh các thông tin phản ánh
trên bảng khai tài chính. Trình tự kết hợp giữa các trắc nghiệm này trước hết tùy
Phạm Thị Hồng Hạnh Kiểm toán 46B
7
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
thuộc vào kết quả đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ(KSNB) ở bước 1: nếu hệ
thống kiểm soát nội bộ được đánh giá là không có hiệu quả thì trắc nghiệm độ tin
cậy sẽ được thực hiện ngay với số lượng lớn. Ngược lại, nếu hệ thống KSNB được
đánh giá là có hiệu lực thì trước hết trắc nghiệm mức đạt yêu cầu được sử dụng để
xác minh khả năng sai phạm và tiếp đó các trắc nghiệm độ tin cậy được ứng dụng
với số lượng ít. Qui mô cụ thể của các trắc nghiệm cũng như trình tự và cách thức
kết hợp giữa chúng phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm và khả năng phán đoán
của kiểm toán viên với mục đích có được bằng chứng đầy đủ và đáng tin cậy với
chi phí kiểm toán thấp nhất.
Bước 3 – Hoàn tất công việc kiểm toán: Kết quả các trắc nghiệm trên phải
được xem xét trong quan hệ hợp lý chung và kiểm nghiệm trong quan hệ với các
sự việc bất thường, những nghiệp vụ phát sinh sau ngày lập bảng khai tài chính.
Chỉ trên cơ sở đó mới đưa được kết luận cuối cùng và lập báo cáo kiểm toán.
1.2 Tiền lương với vấn đề kiểm toán Báo cáo tài chính
Tiền lương và các khoản trích theo lương như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
kinh phí công đoàn… là những chỉ tiêu được các kiểm toán viên quan tâm và có ý
nghĩa quan trọng nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý của tiền lương và các
khoản liên quan xét trên các khía cạnh trọng yếu. Bên cạnh đó chu trình tiền lương
và nhân viên là một trong các chu trình quan trọng, chu trình này bắt đầu từ việc
tuyển dụng và thuê mướn nhân viên đến việc thanh toán tiền lương cho người lao
động.
Để hiểu rõ hơn về tiền lương cũng như những qui định trong việc ghi nhận chi
phí lương cho người lao động, em xin lần lượt trình bày những vấn đề sau:
1.2.1 Bản chất và ý nghĩa tiền lương và các khoản trích theo lương
Bản chất
Tiền lương chính là phần thù lao lao động được biểu hiện bằng tiền mà doanh
nghiệp trả cho người lao động căn cứ vào thời gian, khối lượng và chất lượng công
việc. Về bản chất, tiền lương là biểu hiện bẳng tiền của giá cả sức lao động. Mặt
khác, tiền lương còn là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần hăng hái lao
động, kích thích và tạo mối quan tâm của người lao động đến kết quả công việc
của họ.
Ngoài tiền lương người lao động còn được hưởng các khoản trợ cấp thuộc quỹ
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo qui định hiện hành của
pháp luật hoặc theo sự thỏa thuận của hai bên.
Phạm Thị Hồng Hạnh Kiểm toán 46B
8
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
Các khoản trích theo lương này là các khoản được trích theo lương do đó tiền
lương là căn cứ để tính ra các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí
công đoàn theo tỷ lệ qui định trong qui chế quản lý tài chính kế toán.
Theo chế độ hiện hành của Việt Nam thì quĩ bảo hiểm xã hội được hình thành
bằng cách tính theo tỷ lệ 20% trên tổng quĩ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp
thường xuyên của người lao động thực tế trong kỳ được hạch toán. Người sử dụng
lao động phải nộp 15% trên tổng quỹ lương tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
còn 5% trên tổng quỹ lương do người lao động trực tiếp đóng góp (trừ trực tiếp
vào thu nhập của người lao động).
Quỹ bảo hiểm y tế được hình thành bằng cách trích 3% trên số thu nhập tạm
tính của người lao động trong đó người sử dụng lao động phải chịu 2% và tính vào
chi phí kinh doanh, người lao động trực tiếp nộp 1% (trừ vào thu nhập của người
lao động)
Kinh phí công đoàn được trích theo tỷ kệ 2% trên tổng số tiền phải trả cho
người lao động và người sử dụng lao động phải chịu (tính vào chi phí sản xuất
kinh doanh).Đồng thời kiểm toán viên phải so sánh thông tin chi tiết trên sổ lương
để đánh giá tính hợp lý của các khoản phải nộp. Kiểm toán viên cũng có thể so
sánh các khoản phải nộp để xác định doanh nghiệp có kê khai đúng hay không,
cũng như xem xét các thủ tục quyết toán các khoản đó giữa doanh nghiệp với các
tổ chức bên ngoài có đúng không.
Ý nghĩa
Trong nền kinh tế hàng hóa, thù lao lao động được biểu hiện bằng thước đo giá
trị gọi là tiền lương. Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động,
các doanh nghiệp sử dụng tiền lương làm đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh
thần tích cực lao động, là nhân tố thúc đẩy để tăng năng suất lao động. Đối với các
doanh nghiệp, tiền lương phải trả cho người lao động là một yếu tố cấu thành nên
giá trị sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Do vậy, trong mỗi doanh nghiệp, tiền
lương đóng có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó không chỉ là một khoản chi phí lớn
của doanh nghiệp mà nó còn là nguồn động lực khuyến khích người lao động làm
việc. Người lao động là tài sản của các doanh nghiệp do đó để thu hút được nguồn
nhân lực chất lượng cao hoặc những người thợ giỏi tay nghề thì mỗi doanh nghiệp
đều có chính sách lương của riêng mình. Chính sách lương thể hiện chiến lược
kinh doanh cũng như chính sách đãi ngộ của doanh nghiệp đối với người lao động
và khuyến khích họ gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
Phạm Thị Hồng Hạnh Kiểm toán 46B
9
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
1.2.2 Các hình thức trả lương
Thông thường, ở các doanh nghiệp có 3 hình thức trả lương chính là: trả
lương theo thời gian, theo sản phẩm và trả lương khoán.
Hình thức trả lương theo thời gian: là tiền lương được trả căn cứ vào trình
độ kỹ thuật và thời gian làm việc của công nhân. Có hình thức tính tiền lương đơn
giản theo suất lương cao hay thấp và thời gian làm dài hay ngắn quyết định; lại có
hình thức tính tiền lương kết hợp giữa thời gian với tiền khen thưởng khi đạt hoặc
vượt chỉ tiêu chất lượng và số lượng.
Hình thức trả lương theo sản phẩm: là việc trả lương cho công nhân
(nhóm công nhân) theo số lượng sản phẩm sản xuất ra (đơn vị tính là chiếc, kg,
tấn, mét ) thường được phân ra các loại sau:
- Trả lương theo sản phẩm trực tiếp: là tiền lương trả cho từng người công nhân
bằng tích số giữa số lượng sản phẩm sản xuất ra với đơn giá sản phẩm.
- Trả lương theo sản phẩm tập thể: áp dụng đối với một số công việc sản xuất theo
phương pháp dây chuyền hoặc một số công việc thủ công nhưng có liên quan đến
nhiều công nhân.
- Trả lương theo sản phẩm gián tiếp: chỉ áp dụng đối với một số công nhân phục
vụ mà công việc của họ có ảnh hưởng lớn đến thành quả lao động của công nhân
chính hưởng theo sản phẩm.
- Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến: là hình thức trả lương phần sản lượng trong
định mức khởi điểm tính theo đơn giá bình thường; phần sản lượng vượt mức khởi
điểm sẽ tính theo đơn giá cao hơn.
- Trả lương theo sản phẩm có thưởng: là trả lương sản phẩm trực tiếp kết hợp với
chế độ tiền thưởng.
Hình thức trả lương khoán: cũng là một trong những hình thức trả lương
theo sản phẩm, áp dụng cho những công việc không thể định mức cho từng chi
tiết, bộ phận công việc mà thường giao khối lượng công việc tổng hợp và phải
hoàn thành trong một thời gian nhất định.
Quy định hiện hành về hình thức và chế độ trả lương: Theo quy định của Bộ
Luật Lao động về hình thức trả lương
- Người sử dụng lao động có quyền chọn các hình thức trả lương theo thời gian
(giờ, ngày, tuần, tháng), theo sản phẩm, theo khoán nhưng phải duy trì hình thức
trả lương đã chọn trong một thời gian nhất định và phải thông báo cho người lao
động biết.
Phạm Thị Hồng Hạnh Kiểm toán 46B
10
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
- Người lao động hưởng lương giờ, ngày, tuần được trả lương sau giờ, ngày, tuần
làm việc ấy hoặc được trả gộp do hai bên thoả thuận, nhưng ít nhất 15 ngày phải
trả gộp một lần.
- Người lao động hưởng lương tháng được trả lương cả tháng một lần hoặc nửa
tháng một lần.
- Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán, được trả lương theo
thoả thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hàng tháng
được tạm ứng lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
- Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng thời hạn và tại nơi làm
việc.
Trong trường hợp đặc biệt phải trả lương chậm thì không được chậm quá một
tháng và người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít
nhất bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm do ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm
trả lương.
- Lương được trả bằng tiền mặt. Việc trả lương một phần bằng séc hoặc ngân
phiếu do Nhà nước phát hành do hai bên thoả thuận với điều kiện không gây thiệt
hại, phiền hà cho người lao động.
- Người lao động có quyền được biết lý do mọi khoản khấu trừ vào tiền lương của
mình. Trước khi khấu trừ tiền lương của người lao động, người sử dụng lao động
phải thảo luận với Ban chấp hành công đoàn cơ sở; trường hợp khấu trừ thì cũng
không được khấu trừ quá 30% tiền lương hàng tháng.
- Người sử dụng lao động không được áp dụng việc xử phạt bằng hình thức cúp
lương của người lao động.
Chế độ trả lương làm đêm, làm thêm giờ:
- Người lao động làm thêm giờ được trả lương theo đơn giá tiền lương hoặc tiền
lương của công việc đang làm như sau:
+) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;
+) Vào ngày nghỉ hàng tuần, ít nhất bằng 200%;
+) Vào ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300%.
Nếu người lao động được nghỉ bù những giờ làm thêm , thì người sử dụng lao
động chỉ phải trả phần tiền chênh lệch so với tiền lương tính theo đơn giá tiền
lương hoặc tiền công của công việc đang làm của ngày làm việc bình thường.
Phạm Thị Hồng Hạnh Kiểm toán 46B
11
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
- Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền
lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương của công việc đang làm vào
ban ngày.
Chế độ trả lương ngừng việc: trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động
được trả lương như sau:
- Nếu do lỗi của người sử dụng lao động, thì người lao động được trả đủ tiền
lương;
- Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người
lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai
bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu.
- Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc vì
những nguyên nhân bất khả kháng, thì tiền lương do hai bên thoả thuận, nhưng
không được thấp hơn mức lương tối thiểu.
Chế độ trả lương trong những trường hợp khác:
- Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở
hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp thì người sử
dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm trả lương và các quyền lợi khác cho
người lao động từ doanh nghiệp cũ chuyển sang. Trong trường hợp doanh nghiệp
bị phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác
của người lao động theo thoả ước tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết là khoản
nợ trước hết trong thứ tự ưu tiên thanh toán.
- Khi bản thân hoặc gia đình gặp khó khăn, người lao động được tạm ứng tiền
lương theo điều kiện do hai bên thoả thuận.
- Người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương cho người lao động phải tạm thời
nghỉ việc để làm các nghĩa vụ công dân.
1.2.3 Chức năng của chu trình tiền lương và các khoản trích theo lương
Chức năng của chu trình tiền lương bao gồm thuê mướn và tuyển dụng
nhân viên; phê duyệt mức lương, bậc lương và sự thay đổi trong mức
lương và bậc lương; theo dõi và tính toán thời gian lao động, khối lượng
công việc, sản phấm hoàn thành của nhân viên; tính toán tiền lương và
lập bảng thanh toán tiền lương; ghi chép sổ sách tiền lương; thanh toán
tiền lương và bảo đảm số lương chưa thanh toán.
- Thuê mướn và tuyển dụng nhân viên: tuyển dụng
và thuê mướn nhân viên được thực hiện bởi bộ
Phạm Thị Hồng Hạnh Kiểm toán 46B
12
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
phận nhân sự. Tất cả các trường hợp tuyển
dụng và thuê mướn đều được ghi chép trên một
bản báo cáo do Ban quản lý phê duyệt. Báo cáo
này cần chỉ rõ về phân công vị trí và trách
nhiệm công việc, mức lương khởi điểm, các
khoản thưởng, các khoản phúc lợi và các khoản
khấu trừ. Bản báo cáo này sẽ được lập thành
hai bản, một bản dùng để vào sổ nhân sự và hồ
sơ nhân viên và lưu ở phòng nhân sự. Bản còn
lại được gửi xuống phòng kế toán để kế toán
tiền lương làm căn cứ tính lương.
Việc phân chia tách bạch giữa các chức năng nhân
sự với các chức năng thanh toán tiền lương là
hết sức cần thiết nhằm kiểm soát rủi ro trong
việc thanh toán cho những nhân viên khống.
Bởi vì chỉ có phòng nhân sự mới có điều kiện
để đưa thêm danh sách các nhân viên vào sổ
nhân sự và chỉ có phòng kế toán tiền lương mới
có điều kiện tiến hành thanh toán lương cho
người lao động. Nên việc tách bạch trách
nhiệm này sẽ hạn chế nhân viên của bộ phận
nhân sự làm các hồ sơ nhân sự giả tạo, đồng
thời các nhân viên của bộ phận tiền lương chỉ
có thể thanh toán cho những ai có tên trong
danh sách của sổ nhân sự với các mức lương đã
được ấn định cụ thể. Sự kết hợp của hai chức
năng này lại một sẽ tạo điều kiện để gian lận và
sai phạm nảy sinh.
- Phê duyệt thay đổi mức lương, bậc lương,
thưởng và các khoản phúc lợi: Những thay đổi
mức lương, bậc lương và các khoản liên quan
thường xảy ra khi nhân viên được thăng chức,
thuyên chuyển công tác hoặc tăng bậc tay nghề
… Khi đó quản đốc hoặc đốc công sẽ đề xuất
Phạm Thị Hồng Hạnh Kiểm toán 46B
13
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
với ban quản lý về sự thay đổi mức lương hoặc
bậc lương cho cấp dưới của họ. Tuy nhiên tất
cả các sự thay đổi đó đều phải được kí duyệt
bới phòng nhân sự hoặc hoặc người có thẩm
quyền trước khi ghi vào sổ nhân sự. Việc kiểm
soát đối với những thay đổi này nhằm đảm bảo
tính chính xác về các khoản thanh toán lương.
Bộ phận nhân sự cũng cần phải công bố những
trường hợp đã mãn hạn hợp đồng hoặc bị đuổi
việc hoặc thôi việc nhằm tránh tình trạng
những nhân viên đã rời khỏi công ty rồi nhưng
vẫn được tính lương.
- Theo dõi và tính toán thời gian lao động và khối
lượng công việc, sản phẩm hoặc lao vụ hoàn
thành: Việc ghi chép, phản ánh kịp thời, chính
xác số ngày công, giờ công làm việc thực tế
hoặc ngừng sản xuất, nghỉ việc và số lượng
công việc/ lao vụ hoàn thành của từng người
lao động, từng đơn vị sản xuất, từng phòng ban
trong doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn trong
quản lý lao động tiền lương. Đây chính là căn
cứ dùng để tính lương, thưởng và các khoản
trích trên tiền lương cho nhân viên.
Đối với các doanh nghiệp áp dụng Chế độ kế toán
Việt Nam thì chứng từ ban đầu được sử dụng
để hạch toán thời gian lao động và khối lượng
công việc/lao vụ hoàn thành là Bảng chấm
công ( Mẫu số 02-LĐTL-Chế độ chứng từ kế
toán) và phiếu xác nhận sản phẩm hoặc lao vụ
hoàn thành ( Mẫu số 06-LĐTL-Chế độ chứng
từ kế toán), Hợp đồng giao khoán ( Mẫu số 08-
LĐTL-Chế độ chứng từ kế toán). Ngoài ra,
doanh nghiệp còn sử dụng các chứng từ khác
có liên quan như thẻ thời gian, giấy chứng nhận
Phạm Thị Hồng Hạnh Kiểm toán 46B
14
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
nghỉ ốm, thai sản, hoặc nghỉ phép để làm căn
cứ tính lương và các khoản trích theo lương.
Thông thường, bảng chấm công được lập riêng cho
từng bộ phận ( sản xuất, phòng, ban, tổ, nhóm
…) và dùng cho một kỳ thanh toán (thường là
một tháng). Mọi thời gian thực tế làm việc,
nghỉ việc, vắng mặt của người lao động đều
được ghi chép vào bảng chấm công. Người
giám sát ( đốc công, quản đốc, đội trưởng …)
của bộ phận thực hiện công tác chấm công cho
nhân viên của mình căn cứ vào số lao động
vắng mặt, có mặt đầu ngày làm việc ở đơn vị
mình. Bảng chấm công phải để ở một địa điểm
công khai để người lao động có thể giám sát
thời gian lao động của mình.
Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc lao vụ hoàn thành
là chứng từ xác nhận số sản phẩm hoặc lao vụ
hoàn thành của đơn vị, cá nhân người lao động.
Do người giao việc lập, phải có đầy đủ chữ ký
của người giao việc, người nhận việc và người
kiểm tra chất lượng sản phẩm hoặc lao vụ và
người phê duyệt. Phiếu được chuyển cho kế
toán tiền lương để tính lương.
Hợp đồng giao khoán là bản ký kết giữa hai người
giao khoán và người nhận khoán về một lượng
công việc cụ thể, thời gian làm việc, trách
nhiệm và quyền lợi của mỗi bên khi thực hiện
hợp đồng. Chứng từ chính là cơ sở để thanh
toán lương.
Thẻ thời gian là hình thức được sử dụng phổ biến
bởi doanh nghiệp ở các nước phát triển nhằm
ghi nhận thời gian từ lúc bắt đầu đến lúc kết
thúc mỗi ngày của nhân viên. Hình thức này
cũng đã bắt đầu được vận dụng ở các doanh
Phạm Thị Hồng Hạnh Kiểm toán 46B
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét