Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Hoàn thiện công tác phân công, hiệp tác lao động ở bộ phận Nhà phòng và Nhà hàng- Công ty Khách sạn du lịch Kim Liên

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mục tiêu chung. Dù có phân chia và giao cho một hoặc một số người đảm nhận thì
mỗi công việc đó vẫn không mất đi mối liên hệ với nhau. Chính vì vậy cần phải
phải có sự phối hợp chặt chẽ trên cơ sở quan hệ giữa những người lao động thể
hiện ở sự giúp đỡ, cộng tác với nhau, sử dụng sức mạnh tập thể trong quá trình lao
động.
Khi đã có phân công lao động thì hiệp tác lao động cũng xuất hiện như một đòi
hỏi khách quan và song hành cùng nhau để nhằm tăng năng suất lao động, đạt hiệu
quả cao.
2. Các loại phân công lao động:
Theo sự phân chia của Các Mác, phân công lao động gồm ba loại thể hiện ở
các cấp độ khác nhau nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ ràng buộc và hỗ trợ
lẫn nhau, đó là:
Phân công lao động chung (hay phân công lao động trong nội bộ xã hội): là
phân công lao động trên phạm vi nền sản xuất của cả một xã hội thành những
ngành lớn như: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ…
Phân công lao động trong nội bộ ngành (hay phân công lao động đặc thù): là
từ những ngành đã được phân chia ở phân công lao động chung lại được chia ra
thành các loại, chuyên môn nghiệp vụ, bộ phận chuyên môn hoá. Ví dụ: trong
ngành nông nghiệp phân chia thành trồng trọt, chăn nuôi…
Phân công lao động trong nội bộ xí nghiệp (hay phân công lao động cá biệt):
là phân công lao động được thực hiện trong phạm vi một cơ sở, doanh nghiệp. Từ
hệ thống nhiệm vụ phải hoàn thành, tách riêng các loại hoạt động lao động, phân
công công việc giữa các phòng, ban, bộ phận, đơn vị, tổ, đội sản xuất…, giữa các
bước công việc trong quá trình lao động.
Ba loại phân công lao động trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Phân công
lao động cá biệt dựa trên kết quả của phân công lao động chung. Nếu không có
phân công lao động chung thì không thể tiến hành phân công lao động đặc thù. Hai
Đỗ Khánh Vân – QTNL Khoá 7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
loại phân công lao động này lại có tác động chi phối đến phân công lao động cá
biệt thể hiện công tác phân công lao động của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào
lĩnh vực hoạt động: công nghiệp chế tạo máy sẽ phân công lao động khác với dịch
vụ khách sạn… Như vậy, cả ba loại phân công lao động trên với mối liên hệ mật
thiết với nhau “đã tạo ra những điều kiện để phân chia hoạt động những người lao
động theo nghề và theo chuyên môn rộng và chuyên môn hẹp”.
Nhưng trong phạm vi chuyên đề thực tập tốt nghiệp này chỉ đi sâu nghiên cứu
phân công lao động cá biệt hay phân công lao động trong nội bộ cơ sở doanh
nghiệp.
II. Các hình thức phân công, hiệp tác lao động trong doanh nghiệp:
1. Các hình thức phân công lao động trong doanh nghiệp:
Trong nội bộ cơ sở, doanh nghiệp, phân công lao động được thực hiện theo
ba hình thức:
Phân công lao động theo chức năng:
Là hình thức phân công lao động trong đó hệ thống công việc của doanh
nghiệp được chia nhỏ thành những chức năng lao động nhất định dựa trên cơ sở vị
trí, vai trò của từng loại công việc trong cả quá trình sản xuất sản phẩm, dịch vụ.
Căn cứ vào vị trí, vai trò của từng người lao động trong doanh nghiệp mà
người lao động được chia ra thành hai nhóm chức năng chính như sau:
 Nhóm chức năng sản xuất: lại được phân chia thành hai chức năng: chức năng
sản xuất chính và chức năng sản xuất phụ.
Chức năng sản xuất chính: là những người lao động làm công việc trực tiếp
tác động và làm thay đổi hình dạng, kích thước, tính chất lý hóa… của đối tượng
lao động tạo ra sản phẩm tại các phân xưởng, tổ đội sản xuất. Những lao động đảm
nhận chức năng này được gọi là công nhân chính.
Chức năng sản xuất phụ: với vai trò là những người tạo điều kiện thuận lợi
nhất cho công nhân chính sản xuất ra sản phẩm. Công việc của họ không trực tiếp
Đỗ Khánh Vân – QTNL Khoá 7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
làm biến đổi về đối tượng lao động mà làm những công việc như: sửa chữa, bảo
dưỡng máy móc, vệ sinh nơi làm việc, vận chuyển nguyên nhiên vật liệu, thành
phẩm…Do đó, xét về vị trí, họ là những người phụ trợ cho những công nhân chính,
và được gọi là công nhân phụ.
Một tổ chức doanh nghiệp muốn hoạt động có hiệu quả không thể thiếu đội
ngũ lao động quản lý:
 Nhóm chức năng quản lý sản xuất: do cán bộ, nhân viên quản lý sản xuất thực
hiện. Trong nhóm này lại được phân chia thành các chức năng cụ thể hơn, bao gồm:
Giám đốc: chịu trách nhiệm chung về hiệu quả hoạt động của đơn vị, bộ
phận được giao nhiệm vụ, do các chức danh sau đảm nhận: Tổng giám đốc, Giám
đốc, Phó tổng giám đốc, phó giám đốc đối với doanh nghiệp, đối với các phòng ban
là trưởng phó phòng, với các tổ sản xuất là những quản đốc, phó quản đốc; các đội
trưởng, các đốc công, đội trưởng ở các đội sản xuất.
Không chỉ có những chức danh quản lý chung như ở trên, trong một doanh
nghiệp cũng không thể thiếu đội ngũ cán bộ quản lý chuyên trách về các vấn đề
chuyên môn nghiệp vụ. Với kiến thức, hiểu biết chuyên sâu về những chức năng
nghiệp vụ cụ thể họ có thể là những người trợ giúp đắc lực cho chức năng giám
đốc. Bao gồm:
Quản lý kỹ thuật: là những lao động chịu trách nhiệm về vấn đề kỹ thuật như:
thiết kế, xây dựng quy trình công nghệ, kiểm tra thực hiện quy trình công nghệ.
Chức năng này chỉ có thể giao cho những người được đào tạo về chuyên ngành
như: kỹ sư, kỹ thuật viên, nhân viên kỹ thuật đảm nhận.
Quản lý nhân sự - kế toán- kế hoạch: được giao cho những lao động được
đào tạo về chuyên ngành quản trị nhân sự, kế toán, hoạch định, kế hoạch thực hiện.
Trách nhiệm chính của chức năng này là các vấn đề có liên quan đến chế độ, chính
sách, đời sống, tiền lương…của người lao động (quản trị nhân sự), thực hiện các
Đỗ Khánh Vân – QTNL Khoá 7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
công việc hạch toán, kế toán các khoản thu chi của đơn vị…(kế toán), lập, tổ chức
thực hiện và kiểm tra thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, vật tư…(kế hoạch).
Quản lý thông tin: đảm nhận về mảng thị trường với những công việc cụ thể
như: quảng cáo, tuyên truyền giới thiệu sản phẩm… do các cán bộ, nhân viên
marketing, nhân viên thị trường thực hiện.
Quản trị, hành chính, phục vụ: bao gồm những nhân viên làm nhiệm văn thư,
lái xe, vệ sinh, phục vụ các phòng họp, phòng làm việc tổng giám đốc, phó tổng
giám đốc, giám đốc, phó giám đốc….
Mỗi chức năng quản lý vừa nêu trên đều đóng vai trò như những người cố
vấn về chuyên môn cho lãnh đạo Công ty, doanh nghiệp trong việc đưa ra các chính
sách, quyết định về các vấn đề này.
Phân công lao động theo chức năng đã hình thành nên cơ cấu tổ chức bộ máy
hoạt động của doanh nghiệp, hệ thống chức danh của cán bộ công nhân viên theo
chức năng có quan hệ theo chiều dọc và chiều ngang.
Phân công lao động theo chức năng được đánh giá là hiệu quả cần hướng tới
tăng số lượng người lao động đảm nhận chức năng sản xuất, giảm lao động quản lý
sản xuất. Trong đó, cần thiết phải giảm công nhân sản xuất phụ, nhân viên quản trị,
phục vụ, hành chính và giữ ở một tỷ lệ hợp lý.
Tuy nhiên tiêu thức đánh giá hiệu quả trên không phải lúc nào cũng hoàn
toàn đúng. Bởi còn phải căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ, mức độ hiện đại
của máy móc thiết bị. Ví dụ: nếu một xí nghiệp được trang bị hệ thống máy móc tự
động, các hoạt động sản xuất không cần nhiều đến sức lao động của công nhân
chính thì tỷ trọng của lao động phục vụ, điều khiển máy móc sẽ nhiều hơn công
nhân chính. Lúc này đương nhiên tỷ trọng công nhân chính- phụ này lại là phù hợp,
hiệu quả. Số lượng cán bộ công nhân viên cụ thể sẽ phụ thuộc vào quy mô, khối
lượng công việc của đơn vị, doanh nghiệp.
Đỗ Khánh Vân – QTNL Khoá 7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hình thức phân công lao động theo chức năng có ý nghĩa quan trọng. Nó đã
chuyên môn hóa lao động hình thành nên những lao động gián tiếp và trực tiếp,
chính và phụ để tạo điều kiện thuận lợi nhất về phân công trách nhiệm, tổ chức nơi
làm việc, tổ chức phục vụ cho những lao động trực tiếp tham gia sản xuất, tạo ra
sản phẩm có thể chuyên tâm làm việc, giảm thời gian hao phí cho những công việc
không đúng chức năng để đạt năng suất lao động cao và chất lượng sản phẩm đạt
tiêu chuẩn tốt.
Phân công lao động theo tính chất cùng loại của công việc (hay còn gọi là phân
công lao động theo nghề): được định nghĩa trong tập bài giảng Tổ chức lao động –
Cao đẳng Lao động xã hội, 2004 như sau: “là hình thức phân công lao động trong
đó tách riêng các loại công việc khác nhau theo tính chất của qui trình công nghệ
thực hiện chúng”. Ví dụ: ta có thể hình dung từ một chức năng sản xuất chính sẽ
gồm rất nhiều công việc mà người lao động phải đảm nhận, từ đó doanh nghiệp tiến
hành phân chia nhỏ hơn chức năng này thành những nghề hoặc những bước công
việc có độ chuyên môn hóa hẹp hơn nữa và giao cho người lao động thực hiện. Sự
phân chia này phải căn cứ trên đặc điểm của công cụ, đối tượng lao động trong quá
trình sản xuất có sự tương đồng từ đó hình thành nên một hệ thống các nghề tuy
đều phục vụ một quy trình công nghệ nhưng lại có sự độc lập tương đối trong quá
trình thao tác thực hiện. Phân công lao động theo nghề dựa trên kết quả của phân
công lao động theo chức năng, là cơ sở để hình thành kết cấu công nhân theo nghề.
Phát triển sâu hơn từ hình thức phân công lao động theo chức năng, phân
công lao động theo nghề cũng có tác dụng to lớn trong việc phân định rõ trách
nhiệm cho người lao động thực hiện công việc, thuận lợi để họ có thể làm quen,
hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong chuyên môn. Đồng thời bản thân công việc cũng
đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi đối với người thực hiện chúng về trình độ chuyên
môn, hiểu biết, kinh nghiệm… để doanh nghiệp có thể lựa chọn người, bố trí phù
hợp nhằm đạt được năng suất lao động cao. Không chỉ vậy, nó còn tiết kiệm chi phí
Đỗ Khánh Vân – QTNL Khoá 7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cho doanh nghiệp trong việc rút ngắn thời gian đào tạo và làm quen với công việc
mà có thể sử dụng sức lao động của công nhân sớm hơn, giảm thời gian lao động
hao phí do không làm đúng chuyên môn, sử dụng hiệu quả lao động. Đồng thời, tạo
điều kiện trong trang bị máy móc, thiết bị chuyên dùng, nâng cao trình độ tổ chức
lao động, phục vụ nơi làm việc hợp lý, khoa học.
Phân công lao động theo mức độ phức tạp của công việc (còn gọi là phân công lao
động theo bậc): “là hình thức phân công lao động trong đó tách riêng các công việc
khác nhau tuỳ theo tính chất phức tạp của nó và sử dụng trình độ lành nghề của
người lao động phù hợp với mức độ phức tạp của công việc”- (Tập bài giảng Tổ
chức lao động – Cao đẳng Lao động xã hội, 2004).
Hình thức phân công lao động này lại là sự phát triển sâu hơn của hình thức
phân công lao động theo nghề. Khi phân công lao động theo nghề thì bản thân công
việc đã hình thành những đòi hỏi đối với người lao động thực hiện. Thì ở đây trong
phân công lao động theo bậc là sự bố trí, sắp xếp phù hợp giữa mức độ phức tạp
của công việc và trình độ lành nghề của người lao động để đạt năng suất lao động
cao, tận dụng được khả năng, năng lực của công nhân. Từ đó hình thành nên kết
cấu người lao động theo bậc.
Bản thân công việc của mỗi nghề lại được phân chia thành các mức độ phức
tạp, khó, dễ khác nhau và được xếp theo bậc, được gọi là cấp bậc kỹ thuật của công
việc hoặc bậc công việc. Mỗi bậc lại có đặc điểm riêng về:
Mức độ phức tạp của quy trình công nghệ.
Mức độ chính xác về kỹ thuật.
Mức độ quan trọng khác nhau.
Căn cứ vào các mức độ của những yếu tố nêu trên mà nghề có thể được phân
chia thành nhiều bậc có đòi hỏi tăng dần từ bậc 1 đến bậc tối đa. Số bậc của mỗi
nghề không giống nhau mà căn cứ vào mức độ phức tạp của công việc và mức độ
Đỗ Khánh Vân – QTNL Khoá 7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chênh lệch về độ phức tạp giữa công việc giản đơn nhất đến phức tạp nhất của nghề
đó.
Bậc thấp nhất (bậc 1) gồm những công việc đơn giản nhất của mỗi nghề.
Bậc tối đa gồm những công việc phức tạp nhất của mỗi nghề.
Để thực hiện được công việc ở mỗi cấp bậc trên đòi hỏi người lao động cần
có những kiến thức, kỹ năng nhất định hay trình độ lành nghề phù hợp với yêu cầu
của công việc:
Trình độ lành nghề của người lao động thể hiện ở các mặt:
Sự hiểu biết của người lao động về quá trình công nghệ và thiết bị.
Kỹ năng lao động và kinh nghiệm sản xuất.
Như vậy, từ tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật (hay cấp bậc công việc) hình thành
nên cấp bậc công nhân bao gồm những người lao động có hiểu biết về quá trình
công nghệ, thiết bị và kỹ năng lao động, kinh nghiệm sản xuất làm được công việc
ở cấp bậc nào đó. Đây là cơ sở phân biệt trình độ lành nghề khác nhau giữa những
người lao động trong doanh nghiệp.
Việc phân chia nghề theo bậc nhằm mục đích bố trí phù hợp người lao động
làm công việc với khả năng của bản thân, cũng như để đảm bảo công việc được
thực hiện một cách hiệu quả. Do đó, số bậc kỹ thuật của công việc sẽ bằng số bậc
kỹ thuật của người lao động và tiến hành phân công lao động: công việc giản đơn
nhất giao cho người lao động có bậc thấp nhất (bậc 1) và ngược lại công nhân có
bậc cao nhất sẽ được bố trí đảm nhận công việc phức tạp nhất.
Chính vì vậy, phân công lao động hợp lý là có sự phù hợp giữa cấp bậc của
người lao động với cấp bậc công việc. Nếu phân công người lao động làm công
việc có cấp bậc thấp hơn thì sẽ gây ra cảm giác nhàm chán, dễ xuất hiện trạng thái
mệt mỏi làm giảm năng suất lao động, mà còn lãng phí trình độ kỹ thuật của người
lao động. Ngược lại, nếu cấp bậc công việc cao 2-3 bậc so với cấp bậc của người
lao động sẽ tạo ra sự quá sức, để hoàn thành công việc người lao động phải cố gắng
Đỗ Khánh Vân – QTNL Khoá 7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
rất nhiều, dẫn đến căng thẳng thần kinh, nhanh chóng xuất hiện mệt mỏi làm năng
suất lao động không cao. Bên cạnh đó, trả lương cho người lao động theo công việc
mà họ đảm nhận sẽ ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm mà hiệu quả lại không cao.
Do đó, phân công lao động hợp lý nhất là bố trí người lao động làm công việc có
cấp bậc cao hơn cấp bậc công nhân 1 bậc. Như vậy không tạo ra sự quá sức hay
nhàm chán cho người lao động mà còn thúc đẩy, kích thích tinh thần học hỏi, nâng
cao trình độ tay nghề, trình độ chuyên môn.
Phân công lao động theo bậc là cơ sở quan trọng để bố trí người lao động
phù hợp với công việc sử dụng hiệu quả trình độ lành nghề của người lao động mà
còn kích thích trí sáng tạo, khả năng phát triển năng lực, hứng thú trong công việc
thúc đẩy tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm.
Không chỉ vậy, đây là cơ sở để trả lương cho người lao động theo chế độ lương cấp
bậc. Thông qua hệ thống cấp bậc công việc, cấp bậc người lao động mà doanh
nghiệp có thể lập các kế hoạch lao động, đào tạo hàng năm để đảm bảo yêu cầu sản
xuất kinh doanh.
Thông qua phân công lao động ở cả ba hình thức: theo chức năng, theo nghề,
theo bậc mà hình thành nên các chức danh công việc, có sự phân biệt về trình độ
lành nghề. Mỗi người lao động đảm nhận một khối lượng công việc nhất định trong
tổng thể nhiệm vụ của doanh nghiệp. Nó quy định rõ trách nhiệm công việc của
người lao động phải thực hiện, không chồng chéo tạo điều kiện thuận lợi cho quá
trình tác nghiệp.
2. Các hình thức hiệp tác lao động trong xí nghiệp:
Hiệp tác lao động trong doanh nghiệp, tổ chức được thực hiện cả về không
gian và thời gian:
Hiệp tác lao động về mặt không gian:
Đỗ Khánh Vân – QTNL Khoá 7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hiệp tác về không gian là hiệp tác lao động theo không gian hay sự phối hợp
trong thực hiện công việc giữa những người lao động với nhau ở các bộ phận, đơn
vị, tổ đội sản xuất …trong cơ sở, doanh nghiệp.
Hiệp tác về không gian có những hình thức cơ bản sau:
Hiệp tác giữa các phân xưởng chuyên môn hóa.
Hiệp tác giữa các ngành (bộ phận) chuyên môn hoá trong một phân xưởng.
Hiệp tác lao động giữa những người lao động với nhau trong tổ sản xuất.
Trong phạm vi chuyên đề nghiên cứu này chỉ đi sâu nghiên cứu hình thức
hiệp tác lao động thứ 3: Hiệp tác lao động giữa những người lao động với nhau
trong tổ sản xuất. Trước khi đi sâu tìm hiểu về hình thức này cần hiểu rõ thế nào là
tổ sản xuất:
Tổ sản xuất là một hình thức lao động tập thể phổ biến nhất trong sản xuất,
đó một tập thể lao động gồm tập hợp một số người lao động có thể là cùng nghề
hoặc khác nghề cùng thực hiện một nhiệm vụ sản xuất trên cơ sở phối hợp hoạt
động và hiệp tác với nhau một cách chặt chẽ.
Đối với tổ chức sản xuất của cơ sở hoặc doanh nghiệp, tổ sản xuất có vai trò
quan trọng vì đó là nhân tố giúp doanh nghiệp đảm bảo thực hiện hoàn thành kế
hoạch sản xuất đồng thời là điều kiện để người lao động thực hiện hoạt động hiệp
tác tương trợ trong sản xuất, kèm cặp nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
đồng thời có thể tham gia vào hoạt động quản lý doanh nghiệp.
Hiện nay, trong doanh nghiệp có thể tồn tại các hình thức Tổ sản xuất như sau:
Thứ nhất, Tổ sản xuất chuyên môn hoá: đây là tổ sản xuất mà trong đó gồm
những người lao động có cùng một nghề, cùng tiến hành những công việc có quy
trình công nghệ cơ bản giống nhau. Hình thức tổ sản xuất này thường được áp dụng
trong các dây chuyền sản xuất như may mặc, dầy da Ưu điểm của loại hình tổ sản
xuất này là đảm bảo được sự kèm cặp, tương trợ lẫn nhau trong sản xuất và thuận
lợi cho quản lý về hành chính và kỹ thuật. Hạn chế là làm cho người lao động thu
Đỗ Khánh Vân – QTNL Khoá 7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hẹp diện hiểu biết nghề nghiệp, dễ dẫn đến đơn điệu và nhàm chán trong quá trình
thực hiện công việc.
Thứ hai, Tổ sản xuất tổng hợp: đây là tổ sản xuất mà trong đó có nhiều người
lao động có nhiều nghề khác nhau nhưng cùng phối hợp thực hiện những công việc
của một quá trình sản xuất thống nhất. Hình thức tổ sản xuất tổng hợp thường được
áp dụng tại các tổ cơ khí, tổ sửa chữa, tổ lắp máy, khai thác, xây dựng Ưu điểm
của hình thức này là, người lao động có thể biết được nhiều nghề trên cơ sở diện
hiểu biết về nghề nghiệp tương đối rộng, nội dung công việc phong phú, tăng
cường tính hiệp tác trong sản xuất. Hạn chế của hình thức này là khó khăn trong
việc phân công lao động, việc quản lý về hành chính và kỹ thuật đôi khi khá phức
tạp, quá trình bóc tách công việc rất khó khăn
Thứ ba, Tổ sản xuất theo ca: đây là loại hình là tổ sản xuất mà những người
lao động cùng làm việc trong một khoảng thời gian nhất định (thường được gọi là
ca làm việc). Ưu điểm của hình thức này là các cá nhân của tổ có thể theo dõi, giúp
đỡ nhau thường xuyên hơn, tổ trưởng quản lý công việc của tổ được chặt chẽ hơn.
Hạn chế là mất nhiều thời gian bàn giao ca, người lao động có thể không quan tâm
tới việc bảo quản máy móc, thiết bị, vật tư…
Thứ tư, Tổ sản xuất theo máy: đây là là tổ sản xuất mà trong đó một nhóm
người lao động được giao vận hành, bảo quản một hoặc một số máy hoặc một hệ
thống máy hoạt động liên tục trong 2 hoặc 3 ca làm việc. Hình thức tổ sản xuất này
thường được áp dụng ở các nhà máy dệt, sản xuất lương thực thực phẩm Ưu điểm
của hình thức tổ sản xuất theo máy là tăng tính trách nhiệm của từng người lao
động do họ cùng được giao vận hành nên họ có ý thức hơn trong bảo quản, sửa
chữa máy móc để hạn chế thời gian máy hỏng đột xuất, nâng cao hiệu suất hoạt
động của máy Trên cơ sở đó tổ có thể đạt được năng suất cao, đảm bảo chất lượng
sản phẩm, bàn giao ca được dễ dàng. Hạn chế của hình thức này là việc quản lý
người lao động, hội họp sinh hoạt của tổ không được thuận lợi.
Đỗ Khánh Vân – QTNL Khoá 7

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét