Chuyên đề tốt nghiệp
trò rất quan trọng trong việc nhập khẩu công nghệ mới trang bị cho các ngành
kinh tế như điện và điện tử, công nghệ đóng tàu, chế biến dầu khí, chế biến
nông sản Từ đó hướng các ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hoá
1.1.2.2 Nhập khẩu giúp bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh
tế đảm bảo phát triển kinh tế cân đối và ổn định
Một nền kinh tế muốn phát triển tốt cần đảm bảo sự cân đối theo những
tỷ lệ nhất định như: Cân đối giữa khu vực 1 và khu vực 2; giữa tích luỹ và
tiêu dùng; giữa hàng hoá và lượng tiền trong lưu thông; giữa xuất khẩu với
nhập khẩu va cán cân thanh toán quốc tế.
Nhập khẩu có tác động rất tích cực thông qua việc cung cấp các điều
kiện đầu vào làm cho sản xuất phát triển. Mặt khác, tạo điều kiện để các quốc
gia chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tận hưởng được những lợi thế từ thị
trường thế giới va khắc phục những mặt mất cân đối thúc đảy kinh tế quốc
dân phát triển
1.1.2.3. Nhập khẩu phải cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân.
Về hàng tiêu dùng mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất
không đủ như thuốc chữa bệnh, đồ điện gia dụng, lương thực thực phẩm
Đảm bảo đầu vào cho sản xuất, khắc phục lại những ngành nghề cũ, mở ra
những ngành nghề mới tạo nhiều việc làm ổn định cho người lao động, từ đó
tăng khả năng thanh toán
Mặt khác, nhập khẩu trực tiếp góp phần xây dựng nhiều ngành nghề
sản xuất hàng tiêu dùng làm cho cả sản lượng lẫn hàng tiêu dùng phát triển,
khả năng lựa chọn cuả người dân sẽ được mở rộng, đời sống ngày càng tăng
lên.
1.1.2.4. Nhập khẩu có vai trò tích cực đến thúc đẩy xuất khẩu
Sự tác động này thể hiện ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất
hàng xuất khẩu, điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang và kém
SV: Hà Thị Hoa Lớp: QTKDTM 47C
5
Chuyên đề tốt nghiệp
phát triển vì khả năng sản xuất của các quốc gia này còn có hạn. Do vậy nhiều
quan niệm cho rằng đay chính là hiện tượng “ Lấy nhập khẩu nuôi xuất khẩu”
và sự phát triển gia công xuất khẩu ở Trung Quốc, Việt Nam là những minh
chứng cụ thể
Tạo môi trường thuận lợi cho việc mở rông thị trường xuất khẩu hang
hoá cua rmột quốc gia ra nước ngoài thông qua quan hệ nhập khẩu cũng như
các hình thức thanh toán đòi hỏi kết hợp nhập khẩu kết hợp với xuất khẩu.
1.1.3. Các hình thức nhập khẩu thiết bị
Trong hoạt động xuất nhập khẩu, có nhiều phương thức giao dịch, mỗi
phương thức giao dịch đều có đặc thù riêng, ưu và nhược điểm khác nhau.Để
đẩy mạnh hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, mỗi doanh nghiệp tuỳ vào
điều kiện của mình để lựa chọn phương thức giao dịch phù hợp. Hiện nay
trong trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu coá một số phương thức
giao dịch như sau:
1.1.3.1 Hình thức giao dịch trực tiếp
Giao dịch trực tiếp là hình thức giao dịch trong đó người bán và người
mua quan hệ trực tiếp với nhau đẻ bàn bạc thoả thuận về hàng hoá, giá cả và
điều kiện giao dịch khác
Nhập khẩu trực tiếp cho phép người xuất khẩu nắm bắt được nhu cầu
của thị trường về số lượng, chất lượng giá cả để người bán thoả mãn tốt nhất
nhu cầu của thị trường, giúp cho người bán không bị chia sẻ lợi nhuận, giúp
xây dựng chiến lược tiếp thị quốc tế phù hợp nhưng chi phí tiếp thị thị trường
nước ngoài cao cho nênnhiều doanh nghiệp có qui mô nhỏ, vốn ít thì nên xuất
nhập khẩu uỷ thác có lợi hơn, kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp đòi hỏi có
nhiều cán bộ nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu giỏi: giỏi về giao dịch
đàm phán, am hiểu và có kinh nghiệm buôn bán quốc tế đặ biệt là nghiệp vụ
thanh toán quốc tế thông thạo, có như vậy mới đảm bảo kinh doanh xuất nhập
SV: Hà Thị Hoa Lớp: QTKDTM 47C
6
Chuyên đề tốt nghiệp
khẩu trực tiếp có hiệu quả. Đây vừa là yêu cầu để đảm bảo hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu vừa thể hiện điểm yếu cua rđa số các doanh nghiệp vừa
và nhỏ của Việt Nam khi tiếp cận với thị trường thế giới.
1.1.3.2 Phương thức giao dịch qua trung gian
Giao dịch qua trung gian là phương thức mua bán quốc tế được thực
hiện nhờ sự giúp đỡ của bên thứ 3, người thứ 3 này được hưởng một khoản
tiền nhất định.
Trong phương thức này, người trung gian thường là những người am
hiểu thị trường xâm nhập, pháp luật và tập quán buôn bán của địa phương do
đó họ có khả năng đẩy mạnh buôn bán và tránh bớt rủi ro cho người ủy thác.
Người trung gian đặc biệt là các đại lí thường có cơ sở vật chất nhất định cho
nên người ủy thác đỡ phải đầu tư trực tiếp ra nước tiêu thụ hàng và chính nhờ
dịch vụ của trung gian trong việc lựa chọn, phân loại, đóng gói mà người ủy
thác có thể giảm bớt chi phí vận tải. Tuy nhiên, những công ty kinh doanh
xuất nhập khẩu theo phương thức này sẽ mất đi sự liên hệ với thị trường, công
ty phải đáp ứng những yêu sách của đại lí và môi giới và một phần lợi nhuận
sẽ phải chia sẻ cho các trung gian này.
1.1.3.3. Phương thức tạm nhập tái xuất
Hàng hóa kinh doanh theo phương thức tạm nhập tái xuất là việc
thương nhân Việt Nam mua hàng từ nước ngoài đưa về làm thủ tục tạm nhập
khẩu vào Việt Nam rồi bán cho một nước khác trên cơ sở làm thủ tục tái xuất
khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam. Mục đích thực hiện của giao dịch
tái xuất khẩu là mua rẻ hàng hóa ở nước này, bán đắt hàng hóa ở nước khác
và thu số vốn bỏ ban đầu, và giao dịch này luôn luôn tu hút ba nước tham gia
đó là: Nước xuất khẩu, nước tái xuất khẩu và nước nhập khẩu.
SV: Hà Thị Hoa Lớp: QTKDTM 47C
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là phương thức kinh doanh được thực hiện trên cơ sở hai hợp đồng riêng
biệt. Người kinh doanh thường ký kết một hợp đồng xuất khẩu và một hợp
đồng nhập khẩu. Hai hợp đông này về cơ bản không khác nhứng hợp đồng
xuất nhập khẩu thông thường, song chúng có liên quan mật thiết với nhau.
Chúng thường phù hợp với nhau về hàng hóa, bao bì, kí mã hiệu, nhiều khi cả
về thời hạn giao hàng và các chứng từ hàng hóa
1.1.3.4. Buôn bán đối lưu
Phương thức buôn bán đối lưu hay còn gọi là phương thúc xuất nhập
khẩu liên kết là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ
với nhập khẩu, người bán hàng đồng thời là người mua hàng, lượng hàng tro
đổi với nhau có giá trị tương đương. Mục đích của phương thức giao dịch này
không phải là nhằm thu ngoại tệ mà thu về một hàng hóa có giá trị tương
đương.
Các hình thức buôn bán đối lưu chủ yếu: Hàng đổi hàng, trao đổi bù
trừ, chuyển giao nghĩa vụ, mua đối ứng, nhiệm vụ bồi hoàn.
Các doanh nghiệp sử dụng phương thức kinh doanh này trong trường
hợp tỷ giá hối đoái biến động sẽ giảm được rủi ro tuy nhiên, trong buôn bán
đối lưu, người ta luôn chú trọng đến yêu cầu cân bằng. Đó là yêu cầu phải có
sự cân đối giữa nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên. Yêu cầu cân bằng đó là
cấn bằng về mặt hàng, giá cả, tổng giá trị hàng giao cho nhau và các điều kiện
giao hàng do đó các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc tìm đối tác có
cùng nhu cầu.
1.1.3.5. Phương thức đấu thầu quốc tế
Đấu thầu quốc tế là một phương thức giao dịch đặc biệt, trong đó người
mua( tức người gọi thầu) công bố trước điều kiện mua hàng để người bán
( tức người dự thầu) báo giá mình muốn bán, sau đó người mua sẽ chọn mua
SV: Hà Thị Hoa Lớp: QTKDTM 47C
8
Chuyên đề tốt nghiệp
của người nào bán rẻ nhất và điều kiện tín dụng phù hợp hơn cả với những
điều kiện đã nêu.
Đấu thầu quốc tế có hai loại hình: Đấu thàu mở rộng và đấu thầu hạn
chế. Phương thức đấu thầu được áp dụng tương đối phổ biến trong việc mua
sắm và thi công các công trình của nhà nước, nhất là tại các nước đang phát
triển.
1.1.3.6. Đấu giá quốc tế
Đấu giá hàng hóa quốc tế là một phương thức hoạt động thương mại,
được tổ chức ở một nơi nhất định tại đó người bán hàng tự mình hoặc thuê
người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hóa công khai để chọn được
người mua trả giá cao nhất
Trong buôn bán quốc tế, những mặt hàng được đem ra đấu giá thường
là những mặt hàng khó tiêu chuẩn hóa và được đưa ra đấu giá ở những trung
tâm đấu giá quốc tế. Đấu giá được tiến hành theo nguyên tắc công khai, trung
thực, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia.
1.2. Nội dung của hoạt động nhập khẩu thiết bị ở doanh nghiệp
1.2.1. Nghiên cứu thị trường nước ngoài, chọn đối tác kinh doanh
Nghiên cứu thị trường là xuất phát điểm để định ra các chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp, từ chiến lược đã xác định doanh nghiệp tiến hành
lập và thực hiện các kế hoạch kinh doanh, chính sách thị trường. Nội dung
nghiên cứu thị trường là nghiên cứu các yếu tố cấu thành nên thị trường của
doanh nghiệp: Cung, cầu, giá cả và sự cạnh tranh.
Nghiên cứu tổng cung hàng hoá là nghiên cứu để xác định xem khả
năng sản xuất trong một thời gian các đơn vị sản xuất có khả năng cung ứng
cho thị trường tổng số bao nhiêu hàng, khả năng nhập khẩu bao nhiêu, khả
năng dự trữ xã hội bao nhiêu.Trên cơ sở các thông tin về lao động, vật tư, tiền
SV: Hà Thị Hoa Lớp: QTKDTM 47C
9
Chuyên đề tốt nghiệp
vốn và các tiềm năng khác của doanh nghiệp để xác định cung của doanh
nghiệp có khả năng đưa ra thị trường.
Nghiên cứu tổng cầu hàng hoá là nghiên cứu tổng khối lượng hàng hoá
và cơ cấu loại hàng hoá tiêu dùng thông qua sử dụng với giá cả thị trường
trong một khoảng thời gian. Tổng khối lượng hàng hoá chính là quy mô thị
trường. Nghiên cứu quy mô thị trường phải nắm được số lượng đơn vị tiêu
dùng, khối lượng hàng của mỗi đơn vị tiêu dùng, bên cạnh đó doanh nghiệp
cần nghiên cứu giá hàng nhập khẩu. Nghiên cứu giá cả thị trường phải tìm
được chênh lệch giá ( trên thị trường bán) và giá mua. Có thể ước chi phí vận
chuyển và nộp thuế để xác định thị trường mua hàng và quyết định khối
lượng hàng cần đặt hàng, hàng cần thu mua hoặc nhập khẩu.
Nghiên cứu chính sách của chính phủ về loại hàng hoá kinh doanh cho
phép kinh doanh tự do, kinh doanh có điều kiện, khuyến khích kinh doanh
hoặc cấm kinh doanh. Đó là chính sách thuế, giá các loại dịch vụ có liên quan
như cước vận tải, giá thuê kho tàng, cửa hàng, đất đai và lãi suất tiền vay ngân
hàng để xác định giá cả thị trường. Căn cứ vào mục tiêu kinh doanh, chính
sách giá cả của doanh nghiệp để xác định giá mua, giá bán của doanh nghiệp
cho phù hợp
Nghiên cứu sự cạnh tranh trên thị trường đòi hỏi phải xác định số lượng
đối thủ cạnh tranh, ưu nhược điểm của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp và gián
tiếp với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp và xác định trạng thái cạnh tranh
trên thị trường. Số lượng đối thủ cạnh tranh càng đông quyết định mức độ
cạnh tranh càng gay gắt.
Như vậy, nghiên cứu thị trường giúp lựa chọn mặt hàng và lĩnh vực
kinh doanh đúng đắn, chỉ kinh doanh những mặt hàng thị trường có nhu cầu
và chỉ có thông qua nghiên cứu thị trường mới giúp doanh nghiệp làm chủ
đồng vốn, làm chủ diễn biến thị trường để kinh doanh có lãi.
SV: Hà Thị Hoa Lớp: QTKDTM 47C
10
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.2. Xây dựng chiến lược, kế hoạch và lập phương án nhập khẩu
Sau khi thu thập được các thông tin về đối tác thì để hoạt động kinh
doanh có hiệu quả thì các doanh nghiệp cần phải tiến hành xây dựng chiến
lược, kế hoạch và lập phương án kinh doanh với các công việc cụ thể sau:
+ Xác định mục tiêu chiến lược: Mục tiêu của chiến lược kinh doanh là
toàn bộ các kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp mong muốn đạt được trong
quá trình kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp thường theo
đưổi nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng có thể quy lại ba mục tiêu cơ bản là:
Lợi nhuận, vị thế, an toàn. Tuy nhiên, các mục tiêu bao giờ cũng phải xuất
phát từ điều kiện cụ thể của thị trường, khách hàng, nguồn hàng và nguồn lực
hiện tại của doanh nghiệp để đảm bảo tính cụ thể, tính linh hoạt, định lượng,
tính khả thi, tính nhất quán và tính hợp lí.
+ Xác định chính sách và điều kiện nhập khẩu: Đây là công việc tiếp
theo sau khi xác định mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp. Doanh nghiệp
cần xác định chính sách nhập khẩu của mình với đối tác và các điều kiện nhập
khẩu phù hợp, có lợi cho cả hai bên tạo thuận lợi cho việc đàm phán và lý kết
hợp đồng.
+ Lập kế hoạch và phướng án nhập khẩu: Đây là bước rất quan trọng,
nó ảnh hưởng đến hiệu quả nhập khẩu của doanh nghiệp, có các kế hoạch
kinh doanh đúng đắn thì doanh nghiệp mới đi đúng hướng, tránh được các rủi
ro có thể xảy ra. Lập kế hoạch và phương án kinh doanh chính là việc đưa ra
các mục tiêu, nhiệm vụ, cùng với các biện pháp thực hiện các mục tiêu đề ra.
Công việc này thường do một bộ phận kinh doanh phụ trách, nếu được cấp
trên chấp nhận thì sẽ được đưa vào thực thi.
+ Lựa chọn đối tác: Doanh nghiệp có thể thu thập thông tin về các đối
tác thông qua các trang Web, các cơ quan, tổ chức để biết được uy tín, quan
SV: Hà Thị Hoa Lớp: QTKDTM 47C
11
Chuyên đề tốt nghiệp
điểm và cách thức kinh doanh của họ, từ đó lựa chọn các đối tác làm ăn lâu
dài với mình.
+ Lựa chọn phương thức nhập khẩu: Để nâng cao hiệu quả kinh doanh
nhập khẩu thì doanh nghiệp cần nghiên cứu các phương thức nhập khẩu, ưu
nhược điểm của mỗi loại phương thức đồng thời căn cứ vào tiềm lực của
doanh nghiệp để chọn phương thức nhập khẩu phù hợp nhất.
1.2.3. Tiến hành giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu
hàng hóa
Đàm phán là quá trình đối thoại giữa người mua và người bán nhằm đạt
được những thoả thuận nhất trí về nội dung của những hợp đồng ngoại
thương, để sau quá trình đàm phán, người mua và người bán có thể đi đến ký
kết hợp đồng.
Đặc điểm:
Đàm phán hợp đồng ngoaị thương là quá trình không ngừng tự điều
chỉnh các nhu cầu, lợi ích của các bên đàm phán nhằm mục đích cuối cùng là
kí kết được hợp đồng ngoại thương. Như vậy, trong đàm phán hợp đông ngoại
thương, các bên khi bàn baci thoả thuận về các điều khoản của hợp đồng,
không chỉ biết bảo vệ lợi ích của mình mà còn phải biết chấp nhận nhượng bộ
trong điều kiện hai bên cùng có lợi thì mới mong ký được hợp đồng có tính
khả thi. Ngược lại, một bên chỉ biết bảo veej riêng lợi ích của mình, không
quan râm đến lợi ích chính đáng của bên đối tác, hoặc không biết hạn chế, cứ
đòi hỏi phải đưa vào hợp đòng những điều kiện được xem là lợi ích của mình
nhưng lại làm thiệt hại đến quyền lợi ích chính đáng của đối tác, kết quả là
không ký kết được hợp đông ngoại thương hoặc có đàm phán và ký được hợp
đồng thì bên đối tác cũng không thực hiện nổi những điều khoản ghi trong
hợp đồng.
SV: Hà Thị Hoa Lớp: QTKDTM 47C
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Đàm phán hợp đông ngoại thương là quá trình thống nhất các lợi ích
trong khi vẫn giữ được mối quan hệ tốt đẹp giữa đôi bên trong hợp đồng
Để thực hiện điều này, các bên đối tác cần tránh cả hai khuynh hướng
có thể xảy ra:
- Một là chỉ vì muốn giữ mối quan hệ tốt đẹp, luôn luôn nhượng bộ mọi
điều kiện của đối phương để tự gánh chịu hết mọi thiết thòi trong ký kết hợp
đồng ngoại thương;
- Hai là khăng khăng giữ lấy lập trường của mình, kiên quyết bảo vệ
lấy quyền lợi cho riêng mình, không quan tâm giữ gìn mối quan hệ giữa hai
bên làm cho việc đàm phán tan vỡ, hoặc dồn đối tác vào thế bất lợi, không thể
thực hiện được những gì đã ký kết.
Đàm phán hợp đồng ngoại thương là một môn khoa học đồng thời là
một nghệ thuật đòi hỏi người thực hiện đàm phán không ngừng nâng cao năng
lực nghiệp vụ kinh doanh ngoại thương mà còn luôn trau dồi kỹ năng đàm
phán mới mong đạt được thành công.
Các hình thức đàm phán chủ yếu gồm:
+ Đàm phán giao dịch bằng thư tín: Là hình thức mà qua thư từ gửi
bằng bưu điện, telex, fax, hoặc email, người mua và ngưòi bán thoả thuận với
nhau những điều khoản cần thiết của hợp đồng.
Với hình thức này thì người viết thư có thời gian và điều kiện để cân
nhắc, tham khảo ý kiến của nhiều người khác trước khi gửi thư đi,ít tốn kém
và cùng một thời gian, người viết có thể giao dịch đàm phán bằng thư với
nhiều bạn hàng khác nhau. Tuy nhiên, thời gian đàm phán kéo dài, có thể trải
qua nhiều lần viết thư mới đạt được kết quả cuối cùng.
+ Đàm phán qua điện thoại: Là hình thức qua đường dây điện thoại
quốc tế, người mua và người bán thực hiện giao dịch đàm phán với nhau để đi
đến ký kết hợp đồng ngoại thương. Vói hình thức này thì sẽ có được kết quả
SV: Hà Thị Hoa Lớp: QTKDTM 47C
13
Chuyên đề tốt nghiệp
dàm phán rất nhanh chóng nhưng rất tốn kém, trình báy rất tốn kém và trao
đổi qua điện thoại là trao đổi miệng, không có gì làm bằng chứng cho sự thoả
thuận, quyết định trong trao đổi.
Phương pháp gặp mặt trực tiếp để đàm phán: Là hình thức có ưu điểm
so với cả hai cách thức đàm phán qua thư từ và điện thoại. Đàm phán trực tiếp
giúp đẩy nhanh tốc độ đàm phán, cho phép giải quyết những bất đồng phức
tạp giữa các bên gặp gỡ, tạo được sự thông hiểu lẫn nhau và duy trì được mối
quan hệ hợp tác lâu dài với nhau và kết quả đàm phán có được sự xác nhận
pháp lý ngay của các bên khiến cho hợp đồng mau chóng đi vào thực hiện.
VINACIMEX là một công ty xuất nhập khẩu nhưng hoạt động chủ yếu
là nhập khẩu các thiết bị phụ tùng với quy mô nhỏ, thị trương chủ yếu là các
nước quen thuộc nên hầu như thực hiện đàm phán qua thư hoặc điện thoại, ít
khi thực hiện đàm phán giao dịch bằng cách gặp mặt trực tiếp. Nhưng với
hình thức đàm phán nào thì cũng đòi hỏi phải có những nhân viên có năng lực
chuyên môn cao, luôn trau dồi kỹ năng đàm phán thì đàm phán mới thành
công, hợp đồng được ký kết.
1.2.4.Thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng hoá
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương, đơn vị kinh
doanh xuất nhập khẩu phải tiến hành các bước sau đây:
Thứ nhất là xin giấy phép nhập khẩu
Giấy nhập khẩu là một biện pháp quan trọng để nhà nước quản lí nhập
khẩu. Vì thế, sau khi ký hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp phải xin giấy
phép nhập khẩu chuyến để thực hiện hợp đồng đó.
Khi đối tượng hợp đông thuộc phạm vi phải xin giấy phép nhập khẩu,
doanh nghiệp phải xuất trình hồ sơ xi phép gồm: Hợp đồng, phiếu hạn nghạch
(nếu hàng thuộc diện quản lí bằng hạn ngạch), hợp đồng uỷ thác nhập khẩu
SV: Hà Thị Hoa Lớp: QTKDTM 47C
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét