Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Giải pháp hoàn thiện hoạt động Marketing quốc tế công ty hoá dầu Petrolimex

Quan điểm này chủ trương người tiêu dùng ưa thích sản phẩm có chất lượng
cao, mẫu mã đẹp. Do đó, doanh nghiệp sẽ tập trung vào việc hoàn thiện sản phẩm.

Quan điểm trọng tiêu thụ.
Khi theo đuổi quan điểm này, doanh nghiệp sẽ tập trung vào bán hàng,
khuyếch trương sản phẩm. Quan điểm này chỉ nên áp dụng đối với hàng hoá ế
thừa, chất lượng kém.

Quan điểm trọng tiếp thị.
Ở đây, doanh nghiệp tập trung nghiên cứu nhu cầu khách hàng và “làm hết
sức mình để chất đầy giá trị chất lượng và sự hài lòng trọn vẹn thay vào chỗ đồng
tiền của khách hàng”.

Quan điểm tiếp thị vị xã hội.
Quan điểm này chủ trương: Nhiệm vụ của doanh nghiệp là xác định nhu cầu
và mong muốn của khách hàng mục tiêu, phân phối có hiệu quả nhằm bảo toàn
hoặc nâng cao phúc lợi người tiêu dùng hay xã hội.
Thứ hai, Marketing quốc tế phải tính đến các trạng huống khác nhau của nhu
cầu thị trường. Mục tiêu của Marketing là làm thích ứng hoạt động của doang
nghiệp với nhu cầu thị trường. Song tại các thị trường quốc tế khác nhau nhu cầu
đó lại ở các trạng huống khác nhau. Có thể nêu ra một vài trạng huống mà doanh
nghiệp có thể gặp phải như sau:
+ Nhu cầu âm: Sản phẩm của doanh nghiệp hoàn toàn bị thị trường không
chấp nhận và tẩy chay.
+ Nhu cầu bằng không: Sản phẩm của doanh nghiệp không được khách hàng
chú ý và quan tâm.
+ Nhu cầu khống: Một số lượng lớn khách hàng mong muốn một sản phẩm
nào đó mà thị trường chưa thoả mãn được nhu cầu này, doanh nghiệp phải đo
lường được mức độ của nhu cầu tiềm tàng và phát triển sản phẩm mong muốn đó.
+ Nhu cầu thoái: Nhu cầu tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp trên thị
trường bị giảm sút rõ rệt.
+ Nhu cầu thất thường: thường xảy ra đối với các sản phẩm được tiêu dùng
theo mùa hay do các nguyên nhân khác.
5
+ Nhu cầu trọn vẹn: nhu cầu về sản phẩm có một mức độ và nhịp điệu thuận
lợi, đảm bảo lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Lúc này, doanh nghiệp nên duy trì
mức cầu hiện tại và đề phòng trạng huống khác có thể xảy ra.
+ Nhu cầu quá mức: Cầu về sản phẩm cao hơn khả năng cung ứng của
doanh nghiệp.
+ Nhu cầu không lành mạnh: Đây là nhu cầu mà có hại cho khách hàng hoặc
xã hội.
Việc nghiên cứu, xác định đúng các trạng huống khác nhau của thị trường
nước ngoài sẽ giúp doanh nghiệp có những đối sách phù hợp vơí mức cầu về sản
phẩm. Các trạng huống này cũng biến đổi không ngừng, đòi hỏi doanh nghiệp phải
luôn luôn thích ứng.
Thứ ba, Marketing quốc tế phải tính đến những cản trở mang tính bảo hộ của
chính quyền ở các thị trường khác nhau. Tự do hoá thương mại luôn đi liền với
việc các công cụ bảo hộ của các quốc gia ngày càng tinh vi hơn. Đồng thời,
Marketing quốc tế phải đề phòng những rủi ro do các nguyên nhân khác nhau gây
ra.
Thứ tư, Marketing quốc tế phải tính đến sự biến dạng của các điều kiện thị
trường. Đây là đặc thù khó nhận biết nhất trong số các đặc thù đã nêu ra ở trên.
Yếu tố quốc tế tại các đoạn thị trường nước ngoài đã tạo nên tính phức tạp và khó
nhận biết đối với doanh nghiệp. Tại thị trường này sản phẩm của doanh nghiệp có
thể được ưa chuộng song tại thị trường khác sản phẩm đó có thể bị khách hàng thờ
ơ, không quan tâm
Như vậy, tiến hành hoạt đông Marketing trên phạm vi quốc tế phải tính đến
những đặc thù khác nhau. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp xác định cho mình một
chiến lược phát triển đúng đắn, phù hợp với yêu cầu của thực tế trong quá trình
kinh doanh.
3. Chức năng của Marketing quốc tế.
Hoạt động trong một môi trường kinh doanh rộng lớn, Marketing quốc tế
phải làm thích ứng hoạt động kinh doanh đó với thị trường quốc tế nhằm mở rộng
thị trường, đem lại lợi nhuân tối đa cho doanh nghiệp. Vì vậy, Marketing quốc tế
có những chức năng chính sau:
6
a. Thiết lập một hệ thống quan sát hữu hiệu tập hợp các thị trường để nhận
biết một cách nhanh chóng các biến động thị trường và nếu có thể thì dự báo trước
các biến động đó.
b. Thiết lập khả năng phản ứng nhanh chóng đối với các điều kiện đặc biệt và
đồng thời với nó là khả năng thích ứng nhanh chóng từ phía dịch vụ sản xuất và
dịch vụ hành chính.
c. Thiết lập một hệ thống theo dõi kết quả và kiểm tra hiệu quả các hoạt
động đã cam kết bất chấp những khó khăn nảy sinh do sự khác biệt về môi
trường kinh doanh.
d. Hình thành khả năng sáng tạo và áp dụng những thay đổi trong kỹ thuật thu
thập thông tin trên thị trường để bao quát được mọi trường hợp riêng biệt.
II. XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG MARKETING QUỐC
TẾ ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU.
1. Xuất khẩu.
a. Khái niệm và các loại hình xuất khẩu.
Theo cách tiếp cận đơn giản nhất, xuất khẩu là việc bán sản phẩm, chi tiết
được sản xuất, lưu trữ hay chế biến tại nước của công ty cung cấp và nước người
khác với nhà cung cấp liên quan tới việc sản xuất hoặc chế biến hàng hoá ở nước
ngoài. Ngày nay, các doanh nghiệp quốc tế hoạt động kinh doanh của mình với
phạm vi ngày càng rộng. Vì vậy, sự khác biệt giữa xuất khẩu thuần tuý với hoạt
động kinh doanh quốc tê trở nên rất mờ nhạt. Tuy nhiên, về mặt bản chất, chúng
vẫn có sự khác nhau nhất định.
Mục đích xuất khẩu hàng hoá ra thị trường nước ngoài của công ty mỗi khác
nhau. Nêú như công ty này xuất khẩu hàng hoá nhằm nâng cao doanh số bán, mở
rộng thị trường thì công ty khác lại coi xuất khẩu là chức năng chủ yếu trong toàn
bộ hoạt động kinh doanh của công ty Tuỳ theo điều kiện quốc tế cũng như mục
đích kinh doanh mà công ty có thể lựa chọn phương thức sản xuất phù hợp nhất.
Nhìn chung, xuất khẩu được chia ra thành hai loại hình cơ bản: xuất khẩu trực
tiếp và xuất khẩu gián tiếp. Xuất khẩu gián tiếp là hình thức xuất khẩu trong đó
công ty thông qua dịch vụ của các tổ chức độc lập đặt ngay tại nước xuất khẩu để
tiến hành xuất khẩu sản phẩm của mình ra nước ngoài. Khi doanh nghiệp mới
tham gia vào thị trường quốc tế, áp dụng hình thức xuất khẩu gián tiếp giúp doanh
nghiệp hạn chế được rủi ro, tận dụng được kinh nghiệm của trung gian xuất khẩu,
7
doanh nghiệp cũng ít phải đầu tư một khoản vốn để xâm nhập thị trường Nhưng
doanh nghiệp cũng gặp phải một số vướng mắc như: Doanh nghiệp không trực tiếp
thu thập được những thông tin phản hồi của thị trường về sản phẩm xuất khẩu. Do
đó, nó làm chậm quá trình cải tiến sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh, khả năng
đáp ứng nhu cầu thị trường Bên cạnh hình thức xuất khẩu gián tiếp, xuất khẩu
trực tiếp được áp dụng khi doanh nghiệp đã phát triển đủ mạnh để có thể thành lập
tổ chức bán hàng riêng của mình, nhằm kiểm soát trực tiếp thị trường. Mặc dù xuất
khẩu trực tiếp khiến độ rủi ro kinh doanh tăng cao song nó giảm bớt lợi nhuận
trung gian, tức giảm bớt chi phí xuất khẩu và làm tăng lợi nhuận cho nhà sản xuất.
Mặt khác, những thông tin phản hồi từ phía khách hàng về sản phẩm của doanh
nghiệp cũng được thu thập một cách nhanh chóng và chính xác hơn. Như vậy,
doanh nghiệp có thể biết được nhu cầu khách hàng và tình hình bán hàng để thay
đổi sản phẩm và các điều kiện bán hàng cho phù hợp.
b. Các trung gian xuất khẩu.
Cùng với sự phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế, các trung gian xuất
khẩu cũng xuất hiện với hình thức ngày càng phong phú và đa dạng. Tuy nhiên,
mỗi loại trung gian xuất khẩu có những ưu điểm và hạn chế riêng. Tuỳ theo điều
kiện cụ thể của mỗi công ty mà có thể lựa chọn cho mình một trung gian xuất khẩu
phù hợp nhất với khả năng tài chính, sản phẩm xuất khẩu.
b
1.
Các thương nhân xuất khẩu:
Các thương nhân xuất khẩu có mặt ở ngay nước của công ty xuất khẩu có vai
trò là người hướng dẫn trong các hoạt động xuất khẩu (nghĩa là mua và bán trên
các tài khoản riêng của họ). Họ là những người bán buôn, mua hàng hoá của công
ty trong nước và đem bán lại chúng ở nước ngoài. Họ hoạt động trên thị trường
nước ngoài thông qua các cửa hiệu bán lẻ. Một số người chuyên ở một số nước nào
đó, một số khác chuyên về những hàng hoá cụ thể nào đó. Việc kinh doanh của họ
gọi là những “ hãng xuất khẩu”. Lợi nhuận thu được là khoản chênh lệch giữa giá
mua và giá bán. Các hãng xuất khẩu có những kiến thức hiểu biết lớn và có sự
quen thuộc điều kiện thị trường nước ngoài. Các công ty xuất khẩu sẽ giảm bớt
được những khó khăn về quản lí, về các thủ tục, vận chuyển đóng hàng, vận
chuyển nội bộ Các công ty xuất khẩu sẽ không gặp phải rủi ro thất bại thị trường.
Tuy nhiên, các công ty xuất khẩu sẽ không kiểm soát được toàn bộ sự có mặt sản
phẩm của họ ở thị trường nước ngoài và có thể gặp những thất bại khi tiến hành
bán lẻ ở nước ngoài không được đảm bảo hàng. Một điều rõ ràng là lợi nhuận của
các công ty xuất khẩu qua trung gian sẽ thấp hơn so với xuất khẩu trực tiếp.
8
Tuy nhiên, lợi ích rất lớn xuất phát từ việc sử dụng một hãng xuất khẩu đã
được tổ chức tốt là đối tác của công ty tiếp xúc ngay với danh sách và những khách
hàng tiềm năng trên khắp thế giới, giúp cho họ tiết kiệm thời gian nghiên cứu thị
trường nước ngoài. Các hãng xuất khẩu tự mình nắm được mạng lưới rộng rãi về
các hợp đồng đại lí, sắp xếp mối quan hệ giữa các nhà phân phối và thoả thuận với
các ngân hàng nhà nước, các hãng quảng cáo và các công ty nghiên cứu thị trường.
Chú ý xem làm thế nào mà một số công ty lớn thường tự mình thực hiện các hợp
đồng xuất khẩu và rất hiếm khi sử dụng các hãng xuất khẩu để bán hàng trong
những địa điểm nhỏ và không quen thuộc vì ở đó thành lập một chi nhánh bán
hàng độc lập sẽ không đem lại nhiều lợi ích.
Liên kết với một thương nhân xuất khẩu là cần thiết giống như việc bán hàng
cho khách hàng trong nước. Việc thanh toán sẽ được tiến hành theo những điều
kiện và nội dung giống hệt như thông lệ ở thị trường trong nước.
b
2.
Các hãng xác nhận.
Các hãng buôn chứng thực tồn tại để làm đại diện là người hướng dẫn giới
thiệu cho những người mua nước ngoài biết về những công ty chưa có tiếng tăm để
cung cấp cho họ theo các điều khoản tín dụng. Công ty chứng thực tài trợ cho việc
giao dịch và do vậy sẽ biết được rủi ro về thiếu vắng khách hàng. Ngược lại, nó thu
được hoa hồng từ người mua. Khách hàng nước ngoài gửi đơn đặt hàng tới nhà
cung cấp được một hãng buôn chứng thực “ khẳng định mua hàng với cách thức
thanh toán”. Chứng nhận thanh toán nói lên rằng sẵn sàng mua và chấp nhận thanh
toán trong một tài liệu riêng. Ngày sau khi hàng hoá sẵn sàng được giao thì nhà
cung cấp thông báo cho hãng buôn chứng thực biết để thông báo giao hàng và
thanh toán cho nhà cung cấp.
b
3
. Các đại lí cung cấp.
Các đại lí xuất khẩu sẽ nhận được hoa hồng từ các công ty trong nước. Họ
bán ra thị trường theo danh nghĩa tên riêng của họ hay tên các đối tác của họ. Các
đại lí không phân phối là người chịu trách nhiệm chính, những rủi ro, thất bại,
trách nhiệm về bảo hiểm hay các thủ tục kê khai hải quan là của các công ty xuất
khẩu.
b
4
. Các chi nhánh (cơ sở) mua hàng.
Các tập đoàn bán lẻ lớn, các tổ chức quốc tế và các đại lí mua hàng của chính
phủ thường xuyên duy trì các chi nhánh mua hàng có cổ đông những nước công
nghiệp lớn. Họ mua tại các nhà máy hay mua theo giá FOB và do vậy, giúp các
9
công ty cung cấp hàng hoá tiết kiệm những chi phí và giảm bớt sự bất tiện về tài
liệu ngoại thương.
b
5
. Các công ty quản lý xuất khẩu.
Có những công ty là người chuyên về xuất khẩu và họ đưa các dịch vụ xuất
khẩu hoàn chỉnh bao gồm tất cả các chức năng của nghiệp vụ xuất khẩu. Người
quản lí xuất khẩu có thể nhân danh tên của công ty xuất khẩu nhưng cũng có thể
đóng vai trò là một người chỉ đạo, những giao dịch về tài chính và chấp nhận một
phần rủi ro của họ bằng việc thuê một người quản lý xuất khẩu, công ty sẽ đảm bảo
phẩn việc xuất khẩu được hoàn thành và đương nhiên công ty phải trả tiền hoa
hồng cho người đó. Hơn nữa, do sản phẩm thường được xuất khẩu dưới tên của
công ty xuất khẩu, nên trên thị trường nước ngoài chúng được nhận biết là những
sản phẩm của công ty xuất khẩu. Các công ty xuất khẩu không phải mất chi phí
quản lý chung đối với các nghiệp vụ xuất khẩu, không cần tuyển người và không
cần phải phát triển các nhân viên chuyên về Marketing quốc tế. Một công ty quản
ký xuất khẩu sẽ thực hiện các chức năng xuất khẩu của nhiều công ty khách hàng
tại cùng một thời điểm, do vậy đảm bảo đạt được hiệu quả kinh tế nhờ giảm được
chi phí, đặc biệt là nếu người xuất khẩu chuyên về một mặt hàng nào đó. Một
thuận lợi nữa trong việc sử dụng các công ty quản lý xuất khẩu và doanh thu của
công ty dựa trên tỉ lệ hoa hồng của các doanh số bán hàng nên công ty sẽ hoạt động
tích cực để làm tăng doanh số bán hàng ở nước ngoài. Những khó khăn mà công ty
quản lý xuất khẩu có thể gặp phải là:
+ Quá tải do thực hiện công việc của quá nhiều khách hàng.
+Không có kiến thức cần thiết về các thị trường nước ngoài.
+Thiếu chuyên gia về sản phẩm.
Hơn nữa, cần lưu ý rằng việc sử dụng những công ty quản lý xuất khẩu bên
ngoài sẽ làm cho nhiều công ty sử dụng dịch vụ này bỏ qua những khả năng, bước
xuất khẩu cần có trong nội bộ công ty.
c. Lợi ích và khó khăn của xuất khẩu.
Một trong những lí do chính khiến cho các công ty thúc đẩy các hoạt động
kinh doanh quốc tế, nói chung và xuất khẩu ra thị trường nước ngoài nói riêng là:
Họ hi vọng tăng hiệu quả kinh tế theo quy mô đa dạng hoá sản xuất và hiều quả mà
“ đường cong kinh nghiệm” đem lại từ việc gia tăng sản phẩm đầu ra. Mặt khác,
thị trường nước ngoài có khả năng sinh lợi cao mà thị trường trong nước không thể
bằng. Điều đó cho ta thấy rõ ràng là xuất khẩu mang lại rất nhiều lợi ích: Độ rủi ro,
10
thất bại thị trường trong hoạt động xuất khẩu ít hơn đáng kể so với đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Kinh nghiệm về Marketing quốc tế không ngừng được nâng cao; mối
quan hệ với các đại lý nước ngoài, các nhà phân phối và các cửa hàng bán lẻ ở
nước ngoài được mở rộng Xuất khẩu giúp cho việc nhận biết nhu cầu khách hàng
và xác lập các biện pháp thoả mãn các nhu cầu đó nhằm đem lại lợi nhuận tối đa
cho nhà xuất khẩu.
Bên cạnh đó, xuất khẩu cũng gặp phải không ít những khó khăn, trở ngại.
• Chi phí, sự không thuận tiện của việc tìm kiếm các đại lý và các nhà phân
phối nước ngoài, mỗi thị trường nước ngoài có những đặc điểm, những quy định
thương mại khác nhau.
• Chi phí tài chính cho khoảng thời gian dài chờ nhận được các đơn đặt hàng
xuất khẩu, phân phối hàng hoá cho người nhập khẩu và nhận được thanh toán.
• Khả năng nắm bắt thông tin từ thị trường nước ngoài và thách thức đối với
công ty xuất khẩu trước những thay đổi của thị trường nước ngoài về: Tình hình
cạnh tranh, chính trị, luật pháp, kinh tế xã hội
• Hoạt động Marketing quốc tế bị chi phối bởi nhiều nhân tố luôn luôn biến
động, đặc biệt là khả năng nắm bắt “ thị hiếu ” của khách hàng nước ngoài
Để tiến hành xuất khẩu đạt hiệu quả cao nhất, công ty xuất khẩu cần coi trọng
đúng mức hoạt động Marketing quốc tế. Cần thực hiện tốt công tác nghiên cứu thị
trường cũng như nắm bắt được nhu cầu, đặc điểm của khách hàng nước ngoài và
đưa ra được những dự báo về thị trường đó. Nhờ vậy, công ty có thể thích nghi với
thị trường nước ngoài và điều chỉnh hoạt động xuất khẩu cho phù hợp với thị
trường thâm nhập.
2. Vai trò của hoạt động Marketing quốc tế đối với xuất khẩu.
Marketing quốc tế giúp doanh nghiệp tăng hiệu quả kinh tế theo quy mô.
Bằng cách lựa chọn đúng thị trường xuất khẩu, Marketing quốc tế thúc đẩy doanh
nghiệp thâm nhập vào đoạn thị trường tiềm năng đã lựa chọn. Các sản phẩm của
doanh nghiệp được xuất khẩu vào thị trường có sức mua và khả năng thanh toán
lớn hơn thị trường trong nước. Do vậy, chi phí cho một đơn vị sản phẩm giảm
xuống nhờ việc tăng quy mô sản xuất. Cũng như tối thiểu hoá được hàng loạt các
chi phí khác (chiết khấu thu được từ việc mua hàng nhiều, chi phí vận chuyển, chi
phí cho hoạt động nghiên cứu,triển khai ).
11
Một mặt, Marketing quốc tế giúp doanh nghiệp tăng hiệu quả kinh tế theo
quy mô, mặt khác, nó làm tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp ngày nay, khi
quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra mạnh mẽ, biên giới thương
mại giữa các quốc gia cũng dần dần được xoá bỏ. Các điều kiện phục vụ cho hoạt
động kinh doanh quốc tế trở nên thuận tiện và đơn giản. Hơn nữa, thị trường nước
ngoài chứa đựng những nhân tố thúc đẩy khả năng sinh lợi của doanh nghiệp mà
thị trường trong nước không có được như: sức mua, khả năng thanh toán, cơ hội
tăng nhu cầu thị trường
Bất kì một sản phẩm nào cũng có chu kỳ sống của riêng nó. Khi có sự giảm
sút bất ngờ về nhu cầu thị trường ở một nước có thể được bù đắp bởi việc phát
triển mở rộng nhu cầu ở những nước khác. Marketing quốc tế lúc này đóng vai trò
là “ chiếc cầu nối ” giữa doanh nghiệp và thị trường tiềm năng cũng như giữa thị
trường này với thị trường khác.
Trong kinh doanh quốc tế, người ta đề cập đến “ cơ hội quốc tế ” như là một
yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp thâm nhập thành công thị trường tiềm năng
và gia tăng thị phần trên đoạn thị trường đang hoạt động. Marketing quốc tế xác
lập các biện pháp, các chính sách giúp doanh nghiệp có kế hoạch, các chiến lược
trong dài hạn để bám sát hàng loạt những cơ hội quốc tế. Việc nắm bắt được các cơ
hội là chiếc chìa khoá giúp doanh nghiệp cạnh tranh và gia tăng doanh số bán hàng
từ hoạt động xuất khẩu.
Như vậy, muốn xuất khẩu đem lại hiệu quả cao, nhất thiết doanh nghiệp phải tổ
chức tốt các hoạt động Marketing quốc tế. Cần có một đội ngũ nhân viên, những nhà
quản lý giàu kinh nghiệm, am hiểu hoạt động Marketing quốc tế. Chi phí cho hoạt
động này cũng được đảm bảo một cách đúng mực Đây cũng là vấn đề mà từ trước
đến nay các doanh nghiệp Việt Nam chưa hề coi trọng tìm hiểu, nghiên cứu thị trường
xuất khẩu là hoạt động kinh doanh còn nhiều hạn chế của các công ty xuất khẩu.
Như vậy, muốn xuất khẩu đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhất thiết doanh
nghiệp phải tổ chức tốt các hoạt động Maketing quốc tế. Cần có một đội ngũ nhân
viên, những nhà quản lý giầu kinh nghiệm, am hiểu hoạt động Maketing quốc tế.
Chi phí cho hoạt động này cũng được dảm bảo một cách đúng mức Đây cũng là
vấn đề mà từ trước đến nay các doanh nghiệp Việt Nam chưa hề coi trọng tìm hiểu,
nghiên cứu thị trường xuất khẩu là hoạt động kinh doanh còn nhiều hạn chế của
các Công ty xuất khẩu.
12
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG MARKETING
QUỐC TẾ.
Toàn bộ các hoạt động Marketing quốc tế đều diễn ra trong một môi trường
kinh doanh rộng lớn và phức tạp hơn hết nhiều so với môi trường kinh doanh
trong nước. Môi trường này bao gồm hàng loạt các nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp
và gián tiếp đến các yếu tố của Marketing quốc tế như: sản phẩm, giá cả, phân
phối, khuyếch trương. Các nhân tố này thuộc môi trường kinh tế, luật pháp, văn
hoá, chính trị, công nghệ và các nhân tố mang tính toàn cầu như: thế quan, kiểm
soát ngoại hối Dù vậy, các công ty không thể kiểm soát được sự biến động của
môi trường đó mà chỉ có thể đưa ra những dự báo cần thiết và trả lơi 2 câu hỏi căn
bản:
* Công ty bị tác động như thế nào?
* Phản ứng của các công ty ra sao?
Điều đó có nghĩa công ty luôn luôn phải điều chỉnh hoạt động kinh doanh nói
chung và hoạt động Marketing quốc tế nói riêng để thích ứng với sự biến động của
môi trường kinh doanh.
1. Các nhân tố mang tính toàn cầu.
Người ta quy những nhân tố mang tính toàn cầu này thuộc về hệ thống
thương mại quốc tế.Đó là các hàng rào thuế quan, phi thuế quan một nước có thể
bảo trợ một số ngành sản xuất trong nước bằng cách tăng thuế nhập khẩu đối với
một số mặt hàng cùng loại hay áp dụng chế độ hạn ngạch nhằm hạn chế số lượng
hàng nhập khẩu. Bên cạnh các công cụ thuế quan, ngày nay, đứng trước xu thế tự
do hoá thương mại, các công cụ phi thuế quan của các quốc gia trở nên tinh vi và
chặt chẽ hơn bao giờ hết. Các nhà kinh doanh nước ngoài phải đối diện với hàng
rào phi thuế quan như: hệ thống tiêu chuẩn của quốc gia đó, giấy phép nhập khẩu,
các chế độ phân biệt đối với nhà đấu thầu nước ngoài
Với nỗ lực quan trọng để đi đến những hiệp định giải toả mức độ thuế quan
và các hàng rào phi thuế quan trên khắp thế giới, tổ chức Thương mại quốc tế
(WTO) đã ra đời và phát triển không ngừng trên thế giới cũng hình thành nhiều
liên minh kinh tế ở các mức độ khác nhau như: EU, ASEAN,APEC các liên
minh này đã và đang tạo ra những thách thức cũng như cơ hội đối với các doanh
nghiệp kinh doanh quốc tế. Với sự xoá bỏ hàng rào thuế quan và các quy định hạn
chế thương mại trong nội bộ khối, các liên minh kinh tế sẽ trở thành những thị
13
trường thuần nhất rộng lớn và có sức mua lớn, nhưng khó khăn cho quá trình thâm
nhập sẽ được bù đắp bởi doanh số và lợi nhuận cao hơn.
2. Nhân tố kinh tế.
Khi đánh giá ảnh hưởng của môi trường kinh tế đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, người làm Marketing quốc tế phải quan tâm đên rất nhiều yếu tố
như: cơ cấu kinh tế, mức độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, phân phối thu
nhập, chế độ xuất nhập khẩu Từ đó phải đưa ra được những đánh giá về độ rủi ro,
khả năng tăng trưởng kinh tế trong tương lai và ảnh hưởng của nó đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ cấu nền kinh tế cho biết có tồn tại hay không một chỗ đứng cho các sản
phẩm của doanh nghiệp. Nền kinh tế với tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ cao
đương nhiên là thị trường hấp dẫn đối với mọi sản phẩm hơn là nền kinh tế với tỷ
trọng ngành nông nghiệp lớn. Tại thị trường các nước công nghiệp hoá, họ mua bán
sản phẩm chế biến với nhau hoặc xuất khẩu sang các nước kém phát triển để đổi lấy
nguyên liệu thô hoặc sản phẩm sơ chế. Hoạt động công nghiệp chế biến rộng lớn và
đa dạng cùng một tầng lớp trung lưu đông đảo tạo nên đoạn thị trường hấp dẫn.
Các chỉ tiêu quan trọng khác của một nền kinh tế đáng được quan tâm như: tốc
độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, phân phối thu nhập Chúng phản ánh sức
mạnh tổng thể của nền kinh tế quốc gia. Đồng thời chúng dự báo những rủi ro có thể
gặp phải khi doanh nghiệp thâm nhập vào những thị trường này. Nói đến phân phối
thu nhập, người ta chia ra thành 5 loại kết cấu phân phối thu nhập như sau:
+Lợi tức gia đình rất thấp.
+Phần lớn lợi tức gia đình đều thấp.
+Lợi tức gia đình thấp, trung bình, cao.
+Phần lớn lợi tức gia đình đều trung bình.
Lẽ dĩ nhiên, qua đó, người làm Marketing quốc tế có thể đánh giá được khả
năng thanh toán của đoạn thị trường tiềm năng và dự đoán được tổng doanh số của
công ty tại những thị trường này.
Một trong những nhân tố có tác động trực tiếp tới các công ty xuất khẩu đó là
chế độ xuất nhập khẩu của quốc gia là đối tác. Chế độ xuất nhập khẩu tạo ra những
thuận lợi hoặc khó khăn. Ngay từ bước đầu doanh nghiệp đưa ra sản phẩm vào thị
trường nước ngoài. Đặc biệt là chế độ thanh toán quốc tế mà nước đó đang áp dụng
một vấn đề phức tạp và nan giải với hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét