tấn/ngày, kho đông lạnh có sức chứa 25393 tấn, khả năng sản xuất nớc đã đạt
3946 tấn/ngày.
Bên cạch khó khăn chúng ta có nhng thuận lợi :đội ngũ công nhân dồi dào
về số lợng với bản chất cần cù chịu khó không ngại gian khó. Đội ngũ trong
ngành thuỷ sản đã góp phần tạo nên thành công trong hoạt sản xuất-xuất khẩu.
Đội ngũ nhân lực trong ngành không ngừng đợc nâng cao về trình độ kỹ thuật
chuyên môn. Tuy nhiên hiên tại, để đáp ứng việc khai thác chế biến thủy sản
phục vụ cho xuất khẩu chúng ta còn thiếu một lực lợng lao động có trình độ
chuyên môn cao.
Một khó khăn nữa là công nghệ chế biến thuỷ sản nhập từ nớc ngoài vừa
cũ vừa lạc hậu. Do đó không đảm bảo đợc chất lợng sản phẩm phục vụ cho việc
việc xuất khẩu. Việt nam đợc ví nh bãi thải công nghiệp, do đó ngành thuỷ sản
cũng không tránh khỏi sự lạc hậu, sự cũ kỹ về công nghệ. Nh vậy muốn có sản
phẩm chế biến từ thuỷ sản đủ tiêu chuẩn chất lợng cho xuât khẩu, chúng ta phải
có đợc công nghệ tiên tiến , vậy để có công nghệ tiên tiến thì phải có lợng vốn
lớn, khó khăn về vốn có thể là ngọn ngành của mọi vấn đề. Giải quyết về vốn là
bài toán khó đối với mọi quốc gia, đặc biệt là đối với nớc nghèo, nớc đang phát
triển nh Việt nam hiện nay. Vốn có thể đợc huy động từ hai nguồn: Thứ nhất,
huy động trong nớc , chủ yếu là trong dân và ngân sách nhà nớc, nhng trong đó
ngân sách lại có hạn và còn phải chi nhiều cho các lĩnh vực khác, cơ sở hạ tầng
khác. Nguồn vônd t rong dân tuy có đáng kể nhng chúng ta cha có chính sách
khuyến khích đầu t thích đáng để huy động. Nhìn chung trong hoạt động đầu t
nớc ngoài chúng ta còn nhiều hạn chế, thủ tục còn rờm rà, qua nhiều bớc không
cần thiết. Đó là vấn đề mà hiện nay Đảng và Nhà nớc cần xem xét giải quyết tốt
hơn . Khi mà chính sách đầu t của ta còn cứng nhắc, hủ tục thì kỳ vọng thu hút
vốn đầu t nớc ngoài là hạn chế. Nguồn vốn nớc ngoài chảy vào Việt nam phần
lớn dới các hình thức khác nhau.
5
Xuất từ thực tế khách quan thì thị trờng Mỹ quá rộng và lớn, hệ thống luật
của mỹ quá phức tạp. Trong khi đó các doanh nghiệp Việt nam mới tiếp cận thị
trờng này, sự hiểu biết về nó cũng nh kinh nghiệm tiếp cận cha nhiều. Thi trờng
Mỹ quá xa Việt nam nên chi phí vận chuyển và boả hiểm chuyên chở hàng hoá
rất lớn, điều này làm cho chi phí kimh doanh từ Việt nam sang Mỹ tăng lên.
Hơn nữa thời gian vận chuyển dài làm cho hàng tơi sống bị giảm về chất lợng,
tỷ lệ hao hụt tăng-đây cũng là nhân tố khách quan làm giảm tính cạch tranh của
hàng Việt nam xuât khẩu sang Mỹ so với hàng hoá từ các nơc Châu mỹ la tinh.
Tính cạch tranh trên thị trờng Mỹ rất cao, nhiều nớc trên thế giới có lợi thế tơng
tự nh Việt nam cũng đều coi thị trờng mỹ là thị trờng chiến lợc trong hoạt động
xuât khẩu htuỷ sản cũng nh những hàng hoá khác . Ta bớc vào thi trờng Mỹ
chậm hơn so với các đối thủ , khi mà thị trờng đã ổn định về: ngời mua, ngời
bán thói quen sở thích sản phẩm-đây cũng đợc coi là thách đố đối với hoạt động
xuất khẩu hàng hoá nói chung, hàng thuỷ sản nói riêng của Việt nam trên thị tr-
ờng Mỹ.
Nột vấn đề đặt ra là sản phẩm xuất khẩu của Việt nam vào thị trờng đa số
các là các sản phẩm khai thác từ thiên nhiên, đất đai, tài nguyên biển. Thuỷ sản
xuất khẩu chủ yếu đợc chế biến dới dạng mới qua sơ chế nên hiệu quả thấp, giá
cả còn bấp bênh, giá xuất khẩu không ổn định. Tính cạnh tranh sản phẩm xuất
khẩu của Việt nam còn thấp trên cả hai khía cạch giá cả và chất lợng so với sản
phẩm cùng loại có xuất xứ từ các quốc gia khác .
Nhìn lại nhân tố thuận lợi của Việt nam , ta thấy rằng đờng lối đúng đắn
của Đảng và chính phủ đã tạo ra một cơ hội thuận lợi cho mọi doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất
khẩu ra thi trờng thế giới đặc biệt là thi trờng Mỹ mà đặc biệt là hàng thuỷ sản
Việt nam.Hiện nay chính phủ đang thông qua cơ chế điều hành xuất nhập
khẩu của Việt nam giai đoạn 2001-2005. Với cơ chế mới này mọi doanh nghiệp
đều có thể tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu, tiến tới xoá bỏ các rào cản
pháp lý, thủ tục gây trở ngại cho hoạt động xuất nhập khẩu. Khả năng tiếp cận
6
các thị trờng quốc tế trong đó có Mỹ của các doanh nghiệp Việt nam sẽ thuận
lợi hơn. Môi trờng dầu t của Việt nam: môi trờng pháp lý, môi trờng hành
chính, môi trờng tài chính ngân hàng, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực ngày càng
hoàn thiện, tăng khả năng thu hút vốn đầu t nớc ngoài trong đó có các nhà đầu
t Mỹ vào Việt nam sản xuất hàng xuất khẩu thuỷ sản. Chính sách u đãi đầu t đối
với Việt kiều ngày càng thể hiện tính u việt: thu hút hàng ngàn kiều bào chuyển
vốn về nớc, tạo ra hàng trăm dự án sản xuất linh hoạt trong đó có nhiều dự án
sản xuất hàng xuất khẩu thuỷ sản nhằm tiêu thụ tại thị trờng Mỹ. Có khoảng 1,5
triệu ngời việt kiều sống tại Mỹ đa số họ đều có lòng yêu nớc,hớng về cội
nguồn, nếu có sự kết hợp tốt thì việt kiều ở Mỹ sẽ là cầu nối cho các doanh
nghiệp Việt Nam thâm nhập vào thị trờng Mỹ. Bản thân nội lực của các doanh
nghiệp nói chung và các doanh nghiệp thuộc ngàng thuỷ sản nói riêng của Việt
Nam đã đợc nâng lên đáng kể sau 10 năm thực hiện chính sách mở cửa hội
nhập: trình độ tay nghề công nhân, trang thiết bị, máy móc đã đợc nâng lên
đáng kể, nhiều sản phẩm có chất lợng cao đã đáp ứng đợc yêu cầu thị trờng
trong đó có thị trờng Mỹ.
Nh đã phân tích ở trên thì Việt nam có lợi thế rất lớn về sông, hồ, biển. Hệ
thống sông ngòi đợc phân bố trên cả nớc, bờ biển kéo dài từ bắc vào nam.
Những tiềm năng lớn thế này nếu đợc khai thác triệt để thì khả năng xuất khẩu
thuỷ sản sang Mỹ sẽ đợc gia tăng.
2.2.ảnh hởng của hiệp định thơng mại Việt nam Hoa kỳ
Sự tăng trởng của xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng Mỹ gắn liền với sự tiến
bộ trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt nam Hoa kỳ,đặc biệt sau khi hiệp
định thơng mại Việt-Mỹ đợc ký vào ngày 13/7/2000. Sự kiện này mở ra những
cơ hội kinh doanh mới nhất là sau khi hiệp định đợc thông qua bởi hai nhà nớc
Việt nam Hoa kỳ. Đối với Việt Nam và các nớc xuất khẩu thuỷ sản khác, thì
thị trờng Mỹ là thị trờng nhập khẩu thuỷ sản lớn thứ hai trên thế giới và cũng là
thị trờng tiêu thụ đa dạng về mặt hàng, giá trị và chất lợng. Ngay sau khi hiệp
7
định song phơng có hiệu lực, quy chế MFN trong thơng mại hàng hoá đã tạo
điều kiện thuận lợi cho hàng thuỷ sản Việt nam vao thị trờng đầy hấp dẫn này
với sự u đãi về mức thuế nhập khẩu MFN, chẳng hạn đối với thịt cua thuế suất
MFN là 7,5% thì MFN là 15%; ốc: thuế suất tơng ứng là 5% và 20%; cá philê t-
ơi và đông:0%và 0-5,5% cent/kg; cá khô 4-7% và25-30%. Hiệp định thơng mại
việt mỹ khuyến khích việc tổ chức xúc tiến hoạt động thơng mại giữa hai nớc
nh: hội chợ, triển lãm, trao đổi thơng mại tại lãnh thổ hai nớc, cho phép các
công dân,công ty hai nớc quảng cáo sản phẩm ,dịch vụ bằng cách thoả thuận
trực tiếp với các tổ chức thông tin quản cáo bao gồm: truyền hình, phát thanh ,
đơn vị kinh doanh in ấn và bảng hiệu. Mỗi bên cũng cho liên hệ và cho bán trực
tiếp hàng hoá dịch vụ giũa công dân, công ty của bên kia tới ngời sử dụng cuối
cùng. Đây là cơ hội cho cả doanh nghiệp Việt nam và Mỹ có điều kiện tìm hiểu
sâu về thị trờng của nhau để mở rộng buôn bán giữa hai nớc.
Hiệp định thơng mại Việt Mỹ khẳng định cơ chế chính sách mới của
Việt nam, đánh dấu bớc ngoặc trong quan hệ việt nam hoa kỳ. Việc chúng ta
thực hiện các điều khoản của hiệp định là điều kiện ban đầu cho việc gia nhập
WTO sau này.Kể từ khi ký kết đến khi có hiệu lực hiệp định trải một thời gian
thử thách hơn một năm. Nó đợc quốc hội hai nớc phê chuẩn rất kỹ trớc khi
thông qua, có thể nói đó là nỗ lực rất của Đảng và chính phủ ta, cũng nh thợng
hạ viện Hoa kỳ.
Tuy nhiên bên cạch những cơ hội mà hiệp định thơng mại Việt nam Hoa
kỳ mở ra, nó còn đặt ra cho chúng ta những khó khăn, thách thức đồi hỏi sự nỗ
lực của toàn Đảng , toàn dân ta trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nớc, nhất
là trong quan hệ kinh tế đối ngoại. Thứ nhất việc đợc hởn quy chế MFN cha
phải là điểm quyết định để tăng khả năng cạnh tranh đối với hàng thuỷ sản Việt
nam, vì Mỹ đã áp dụng quy chế MFN với 136 nớc thành viên WTO, ngoài ra
còn có u đãi dặc biệt đối với các nớc chậm phát triển, nhng Việt Nam cha đợc
hởng chế độ này. Mức thuế trung bình là 5%, nhng nếu đợc hởng u đãi thì mức
thuế này tiến tới 0%. Hiện nay có hơn 100 nớc xuất khẩu đủ các mặt hàng thuỷ
8
sản vào Mỹ, trong đó có nhiều nớc có truyền thống lâu đời trong buôn bán thuỷ
sản với Mỹ nh Thái Lan(tôm sú đông, đồ hộp thuỷ sản ),Trung quốc(tôm đông
cá rô phi ),Canađa(tôm hùm, cua ),Inđônêsia(cua ,cá ngừ, cá rô
phi ),Philippin(hộp cá ngừ,cá ngừ tơi đông,tôm đông và rong biển ) nên sự
cạnh trên thị trờng sẽ ngày càng quyết liệt đặc biệt đối với một số mặt hàng chủ
lực nh tôm, cá philê, cá ngừ. Trong hơn 100 mặt hàng thuỷ sản thực phẩm nhập
khẩu, Mỹ có nhu cấu cao về các mặt hàng đã qua tinh chế( tôm luộc, tôm bao
bột, tôm hùm, cá phi lê, hộp thuỷ sản) trong khi đó hàng xuất khẩu của Việt
nam chủ yếu là sơ chế, tỷ lệ sản phẩm giá trị gia tăng thấp (chỉ chiếm khoảng
30% giá trị xuât khẩu của Việt nam). Cụ thể với mặt hàng cá ngừ, hiện nay Việt
nam mới chỉ xuất khẩu phần lớn cá ngừ tơi hoặc đông vào Mỹ(90% gia trị xuất
khẩu cá ngừ) trong khi cá ngừ đóng hộp là mặt đợc tiêu thụ nhiều ở Mỹ thì giá
trị xuất khẩu của Việt nam không đáng kể(5%). Mỹ coi trọng cả nhập khẩu
thuỷ sản phi thực phẩm bao gồm các sản phẩm hoá học gốc thuỷ sản, ngọc trai,
cá cảnh (giá trị nhập khẩu năm 2000 đạt 9 tỷ USD, chỉ kém hàng thuỷ sản thực
phẩm 1 tỷ USD) nhng ta chỉ mới trú trọng đến xuất khẩu thuỷ sản thực phẩm.
Vì vậy có thể nói cha có sự phù hợp cao trong việc xuất khẩu hàng thuỷ sản việt
nam với yêu cầu nhập khẩu của thị trờng Mỹ. Thị trờng Mỹ là một thị trờng
khó tính của thế giới. Hàng thuỷ nhập khẩu vàoMỹ phải qua sự kiểm tra chặt
chẽ của cục quản lý thực phẩm và dợc phẩm Hoa kỳ(FDA) theo các tiêu chuẩn
HACCP.vấn đề vệ sinh thực phẩm, ô nhiễm môi trờng, bảo vệ sinh thái là
những lý do mà Mỹ thờng đa ra để hạn chế nhập khẩu. Mặc dù cơ quan FDA
của Mỹ đã công nhận hệ thống HACCP của VIệt nam, nhng chất lợng sản phẩm
thuỷ sản xuất khẩu của việt nam còn hạn chế do trình độ công nghệ chế biến và
bảo quản còn thấp, chủ yếu là công nghệ đông lạnh. Một khó khăn trong lĩnh
vực tiếp thị là mặc dù đã có trên 50 doanh nghiệp Việt nam đang xuất khẩu thuỷ
sản sang Mỹ nhng hầu nh cha có doanh nghiệp nào mở đợc văn phòng dại diện
tại nớc Mỹ. Do vậy các doanh nghiệp Việt nam ít có cơ hội giao thơng với
những nhà phân phối Mỹ, nhất là tìm hiểu các luật chơi của thị trờng này. Hệ
thống luật của Mỹ khá phức tạp, chặt chẽ và mới lạ đối với các doanh nghiệp
9
xuất khẩu Việt nam. Vì vậy nếu không nghiên cứu tìm hiểu rõ thì doanh nghiệp
sẽ phải gánh chịu những thua thiệt nặng nề trong kinh doanh. Có thể đơn cử một
số luật sau: luật chống độc quyền đa ra các chế tài hình sự khá nặng đối với
những hành vi độc quyền hoặc cạch tranh không lành mạnh trong kinh doanh,
cụ thể là phạt tiền đến 1 triệu USD, hoặc tù 3 năm đối với cá nhân. Luật về trách
nhiệm đối với sản phẩm, theo đó ngời tiêu dùng bị thiệt hại có thể kiện nhà sản
xuất về mức bồi thờng thiệt hại quy định gấp nhiều lần thiệt thực tế. Luật liên
bang và các tiểu bang của Mỹ đợc áp dụng cùng một lúc trong lĩnh vực thuế
kinh doanh đòi hỏi ngoài việc nắm vững luật của tiểu bang mà các doanh
nghiệp có quan hệ kinh doanh. Về lâu dài các doanh nghiệp Việt nam phải
chuẩn bị cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn trong thu mua nguyên liệu chế biến
cũng nh xuất khẩu thuỷ sản với các công ty Mỹ vào Việt nam sản xuất kinh
doanh thuỷ sản. Vì theo quy định trong thời gian 3 năm sau khi Hiệp định có
hiệu lực, các doanh nghiệp có vốn đầu t trực tiếp của công dân, công ty Mỹ vào
các lĩnh vực sản xuất và chế tạo đợc phép kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản với
điều kiện đang hoạt động hợp pháp tại VIệt Nam hoặc các công dân và công ty
đợc phép liên doanh với Việt nam để kinh doanh xuất nhập khẩu thuỷ sản với
phần vốn góp không quá 49%. Ba năm đó hạn chế của sở hữu đầu t Mỹ là 51%.
Bảy năm sau khi Hiệp định có hiệu lực thì Mỹ có thể thành lập công ty 100%
vốn đầu t nớc ngoài để kinh doanh xuất nhập khẩu một mặt hàng.
10
Phần 3: Triển vọng, giải pháp thúc đẩy xuất khẩu
thuỷ sản vào Mỹ:
3.1 Triển vọng xuất khẩu thuỷ sản vào Mỹ sau hiệp định thơng mại
Việt Mỹ có hiệu lực.
Sau khi hiệp định thơng mại Việt nam Hoa kỳ có hiệu lực, ó đem lại cho
Việt nam, mà cụt hể là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những cơ hội
thâm nhập thị trờng Mỹ. Tuy rằng tác động của hiệp định có hai chiều, nhng ở
phần này em chỉ xin phân tích những cơ hội, thuận lợi mà hiệp định đó đem
lại ,để từ đó chúng ta đề ra những phơng hớng giải pháp nhằm năng cao mô
hiệu quả trong quá trình xuất khẩu hàng thuỷ sản vàn thị trờng Mỹ.
Trớc hêt chúng ta phân tích môi trờng kinh tế quốc tế và khu vực,qua đó
xem xét tác động của nó tới nền kinh tế Việt nam nói chung và khả năng xuất
khẩu nói riêng trong đó có hàng thuỷ sản sang Mỹ. Xu hớng toàn cầu hoá khu
vực hoá đang diễn râ nhanh chóng và liên tục. Hội nhập kinh tế cũng nh phát
triển đang là xu hớng phổ biến. Việt nam có cơ hội tham gia các diễn đàn kinh
tế thế giới và khu vực, da chúng ta lên một tầm cao mới trong cộng đồng quốc
tế.
Đó là nhân tố khách quan xuất phát từ yếu tố chủ quan trong nớc.Có thể
thấy rằng từ cơ chế chính sách, luật pháp đặc biệt luật khuyến khích đầu t ngày
một trú trọng điều chỉnh kịp thời. Nhằm thu hút tối đa vốn đầu t nớc ngoài dới
mọi hình thức. Qua các kỳ Đại của Đảng đã khẳng định con đờng công nghiệp
hoá hiện đại hoá là cần thiết, cấp bách . Các chỉ thị của thủ tớng, các hội nghị
,kỳ họp cảu Đảng, chính phủ luôn luôn đề cập trú trọnh đến việc đẩy mạnh
nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu, trong đó xuất khẩu là mục tiêu hàng
đầu.
Bên cạch cơ chế, chính sách, luật pháp ngày càng hoàn thiện , chúng ta có
nguồn tài nguyên phong phú đa dạng, nhiều loại còn ở dangj tiềm năng cha khai
11
thác. Trong đó phải kể đến nguồn tài nguyên biển dồi dào mà tạo hoá đã ban
tặng cho ta. 51/63 tỉnh thành có ngành thuỷ sản, 3260 km chiều dài bờ biển là
hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ, hơn 100 cửa sông rạch, 1 triệu km2 độc quyền kinh
tế (gấp 3 lần diện tích lãnh thổ Việt nam) và trên 2 triệu ha mặt nớc có thể nuôi
trồng thuỷ sản. Ngành nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản đang có xu hớng tăng
về quy mô , khả năng đánh bắt xa bờ ngày càng đợc nâng cao phát triển. Vùng
biển của chúng ta có nhiều loại hải sản quý có vai trò xuất khẩu cao.
Mặt khác ngành thuỷ sản đợc hỗ trợ bởi biện pháp chính sách của nhà nớc:
hỗ trợ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ hỗ trợ xây dựng quy hoạch, hỗ trợ
đầu t xúc tiến thơng mại Những hỗ trợ này tăng khả năng xuất khảu thuỷ sản
vào thị trờng Mỹ của các doanh nghiệp Việt nam.
Hiệp định thơng mại Việt-Mỹ đợc thực thi, cánh cửa đi vào thị trờng Mỹ
của các doanh nghiệp Việt nam đợc mở rộng hơn. Thuế nhập khẩu sẽ giảm đi
30-40% khi Việt Nam đa hàng hoá vào thị trờng Mỹ. Theo phòng thơng mại
Mỹ tại TP Hồ chí Minh sau khi hiệp thơng mại Việt Mỹ có hiệu lực thì năm
nhóm ngành trong đó có ngành thuỷ sản đợc hởng lợi nhiều nhất vì thuế nhập
khẩu vào thị trờng Mỹ sẽ giảm mạnh. Môi trờng kinh doanh và đầu t đợc cải
thiện tăng khả năng thu hút vốn đầu t chẳng những đối với những doanh nghiệp
mỹ mà còn thu hút vốn đầu t từ các quốc gia khác.Vì trớc khi hiệp định thơng
mại Việt-Mỹ có hiệu lực thì hàng hoá Việt Nam đa vào thị trờng Mỹ không đợc
hởng quy chế MFN. Cho nên nhiều nhà đầu t nớc muốn sản xuất hàng hoá sang
Mỹ không muốn đầu t vào Việt Nam. Hiệp định thơng mại đợc thông qua thì
hàng xuất khẩu từ Việt nam sang Mỹ đợc hởng quy chế MFN, thì vấn đề còn lại
là ta tiếp tục hoàn chỉnh môi trờng đầu t mà ta đã cam kết theo tinh thần của
hiệp định là: tạo ra môi trờng kinh doanh bình đẳng để luồng vốn đầu t của các
thành phần kinh tế có điều kiện phát triển nh nhau. Đơn giản hoá thủ tục và
theo lộ trình thì bỏ giấy phép đầu t, các doanh nghiệp kể cả các doanh nghiệp
FDI chỉ đăng ký kinh doanh đầu t.
12
Nhận định và đảm bảo tính minh bạch của hệ thống pháp lý, để xây dựng
một môi trờng kinh doanh có thể dự đoán đợc. Tiến tới quản lý hoạt động nhà
nớc đối với hoạt động đầu t theo các chuẩn mực quốc tế, các rào cản thơng mại
quốc tế giảm bớt.Hoạch định xuất khẩu nói chung trong đó xuất sang thị trờng
Mỹ nói rêng trong đó có hàng thuỷ sản sẽ tăng nhanh. Cho phép mọi thành
phần kinh tế đợc kinh doanh xuất nhập khẩu với mọi hàng hoá. Xoá bỏ dần
quản lý xuất khẩu bằng giấy phép hạn ngạch. Xây dựng cơ chế quản lý xuất
nhập khẩu mang tính dài hạn và công khai hoá các chính sách cơ chế để giúp
cho các xây dựng đợc chiến lợc dài hạn thâm nhập thị trờng thế giới trong đó có
Mỹ.Hiệp định thơng mại Việt Mỹ có hiệu lực thì quyền sở hữu trí tuệ đợc bảo
vệ sẽ tạo ra động lực kích thích mỗi doanh nghiệp Việt Nam để tạo lập đợc
những thơng hiệu nổi tiến, đây là cơ sở để hàng Việt Nam có chỗ đứng vững
chắc và tạo thói quen tiêu dùng hàng Việt Nam trên thị trờng Mỹ.Hy vọng rằng
trong tơng lai sẽ có nhiều thơng hiệu Việt Nam nổi tiếng có thể đứng vững trên
thị trờng thế giới đặc biệt là thị trờng Mỹ.
Sau khi hiệp định thơng mại Việt Mỹ có hiệu lực chắc chắn rằng ngày
càng có nhiều doanh nghiệp đầu t vào thị trờng Mỹ.Bởi vì, trớc hết các thông tin
về thị trờng, khách hàng, đối tác sẽ đợc cập nhật hơn.Sự am hiểu thi trờng Mỹ
sẽ tăng lên đối vơi các doanh nghiệp Việt Nam hiệp định thơng mại nh nhịp cầu
nối giữa các doanh nghiệp hai nớc tạo điều kiện cho sự hợp tác kinh doanh xuất
khẩu phát triển hơn.
Từ những phân tích ở trên về cơ hội mà hiệp định Việt Mỹ đem lại chúng
ta có thể nhận xét tình hình khả quan về xuất khẩu hàng hoá sang Mỹ, đặc biệt
là hàng thuỷ sản.Mỹ là thị trờng tiềm năng đối với Vịêt Nam,kim ngạch xuất
khẩu của việt nam 2000 mới đạt khoảng 700 triệu USD nhng khả năng nhập
khẩu của thị trờng nay năm 2000 là 1300triệu USD (Việt nam mới chỉ chiếm
0,06% thị phần nhập khẩu của Mỹ).Dự tính rằng kim ngạch xuất khẩu sang thị
trờng Mỹ ở cuối năm 2005 là 3 tỷ USD và năm 2010 là 6 tỷ USD- dây là dự báo
mà một nhóm nghiên cứ đã đề xuất.
13
Năm năm trở lại dây trong xu thế phát triển chung của nền kinh tế sau hơn
một thập kỷ theo đờng nối đổi mới của đất nớc, ngành thuỷ sản đã có nhiều nỗ
lực vợt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt đợc những thành tựu trên nhiều
phơng diện.Từ năm 1996 đến năm 2000 ngành luôn hoàn thành kế hoạch nhà n-
ớc giao, năm sau cao hơn năm trớc và đạt đợc mức tăng trởng cao(bình quân
9,17%/năm),giá trị kim ngạch xuất khẩu bình quân tăng 21,85%/năm. Xuất
khẩu thuỷ sản năm 2000 đạt 1,475 tỷ USD, bằng 1/10 tổng kim ngạch xuất
khẩu của cả nớc và vơn lên đứng hàng thứ 3 trong các ngành xuất khẩu của Việt
nam.
Đạt đợc những thành tựu đó nhớ sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng
và Nhà nớc, sự phối hợp giúp đỡ của các bộ ban ngành ở trung ơng, các cấp
chính quyền ở địa phơng, có sự nỗ lực chung của các bộ công nhân viên ngành
và hàng triệu lao động trong cả nớc. Sau năm năm 1996-2000 tổng mức đầu t
của ngành thuỷ sản là 9.185.640 triệu đồng trong đó đầu t nớc ngoài là 545 tỷ
đồng( chiếm5,93%).Trong hơn 9 nghìn tỷ đồng đợc huy động để đầu t phát
triển, ngành chủ yếu vận dụng nội lực là chủ yếu, vốn đầu t trong nớc là hơn
8600 triệu đồng chiếm tới 90,07% tổng mức đầu t.Để có đợc nguồn vốn ngân
sách thì ngành đã có biện pháp huy động nguồn vồn trong dân đạt 1700 tỷ
đồng( chiếm tỷ trọng 18,62%).Tuy vậy có thể thấy đầu t nớc ngoài vào ngành
thuỷ sản còn hạn chế thị trờng thuỷ sản cha hấp dẫn đối với các nhà đầu t nớc
ngoài nhất là các nhà đầu t Mỹ.Mặc dù tổng số vốn đầu t vào ngành còn thấp
trong năm qua so với tổng mức đầu t của cả nền kinh tế chỉ chiếm 1,83% nhng
hiệu quả đầu t qua các năm của ngành thuỷ sản thì cho thấy GDP do ngành này
mang lại cho nền kinh tế cả nớc là 3-3,2% cho thấy đầu t vào thuỷ sẩn rất có
hiệu quả.Từ các nguồn vốn đầu t này thì ngành thuỷ sản đã tập trung đầu t cho
các chơng trình của ngành nh:đầu t cho khai thác thuỷ hải sản (27,88%) bao
gồm đầu t đóng mới, cải hoán tàu thuyền phục vụ cho chuyên đánh bắt hải sản
xa bờ và đầu t cho xây dựng các cảng cá,bến cá,chợ cá và điều tra nguồn lợi
thuỷ sản;bằng nguồn vốn vay nớc ngoài thì trong đó đầu t cho nuôi trồng thuỷ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét