Tiểu luận
Cách thức vận động, phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng- Giá trị thực tiễn
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Khoa Đào tạo Sau Đại Học
o0o
M ô n h cọ : T ri t h cế ọ
Tiểu luận
Đ ề tài :
CÁCH THỨC VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN THEO
QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG. GIÁ
TRỊ THỰC TIỄN TRONG QUẢN LÝ DOANH
NGHIỆP.
GIẢNG Viên : PGS.TS. Lê THANH
SINH
HỌC VIÊN : DOãN QUỐC SĨ
LỚP : ĐÊM 5 – K17
Học viên : Doãn Quốc Sĩ. Lớp: Đêm 5-K17 Page 1
Tiểu luận
Cách thức vận động, phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng- Giá trị thực tiễn
Giới thiệu s ơ l ư ợc về biện chứng:
Thuật ngữ “Biện chứng” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là Dialektica, có nghĩa là
nghệ thuật đàm thoại, tranh luận. Theo nghĩa này, biện chứng là nghệ thuật tranh
luận nhằm tìm ra chân lý bằng cách phát hiện các mâu thuẫn trong lập luận của
đối phương và nghệ thuật bảo vệ lập luận của mình. Người Hy Lạp cổ đại cho
rằng, đã là tri thức đúng thì không thể có mâu thuẫn trong tri thức đó, và quá trình
đi tới chân lý là quá trình giải quyết những mâu thuẫn trong lập luận.
Trong triết học Mác, thuật ngữ “biện chứng” được dung đối lập với “siêu hình”. Đó
là lý luận, đồng thời là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái liên hệ, tác
động qua lại lẫn nhau,ràng buộc lẫn nhau và trong quá trình vận động, phát triển
không ngừng. Phương pháp đó không chỉ thấy những sự vật cá biệt, mà còn thấy
mối liên hệ với nhau giữa chúng; không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật, mà còn
thấy sự hình thành và tiêu vong của sự vật; không chỉ thấy “cây” mà còn thấy cả
“rừng”. Theo Ph.Ăngghen, phương pháp biện chứng “xem xét những sự vật và
những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của
chúng, trong sự ràng buộc, trong sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của
chúng”.
Phép biện chứng xuất hiện từ thời cổ đại và từ đó đến nay, lịch sử phát triển của
nó đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, gắn liền với sự phát triển của khoa học
và thực tiễn.
Phép bi n ch ng duy v t:ệ ứ ậ
Ph.Ăngghen định nghĩa “Phép biện chứng là là khoa học về sự liên hệ phổ biến”
và “Phép biện chứng là môn khoa học nghiên cứu về những quy luật phổ biến của
sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của loài người và tư duy” V.I Lenin viết
”Phép biện chứng, tức là học thuyết của sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị
nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận
thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không
ngừng”
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với
phương pháp biện chứng; giữa lý luận nhận thức với logic biện chứng. Sự ra đời
của phép biện chứng duy vật là cuộc cách mạng trong phương pháp tư duy triết
học; là phương pháp tư duy khác về chất so với các phương pháp tư duy trước
Học viên : Doãn Quốc Sĩ. Lớp: Đêm 5-K17 Page 2
Tiểu luận
Cách thức vận động, phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng- Giá trị thực tiễn
đó; là phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và những phản
ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong
sự ràng buộc trong sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng.
Phép biện chứng duy vật có khả năng đem lại cho con người tính tự giác cao
trong mọi hoạt động. Mỗi luận điểm của phép biện chứng duy vật là kết quả của
sự nghiên cứu rút ra từ giới tự nhiên, cũng như lịch sử xã hội loài người. Mỗi
nguyên lý, quy luật, phạm trù của phép biện chứng được khái quát và luận giải
trên cơ sở khoa học. Chính vì vậy, phép biện chứng duy vật đã đưa phép biện
chứng từ tự phát đến tự giác. Theo Ph.Ăngghen, “ Biện chứng gọi là khách quan
thì chi phối toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng chủ quan, tức là tư duy biện
chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận
động thong qua những mặt đối lập, tức là những mặt thong qua sự đấu tranh
thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa cuối cùng từ mặt này đến mặt kia,
tương tự với hình thức cao hơn, đã quy định sự sống của giới tự nhiên”.
Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật:
Sự phong phú và đa dạng của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư
duy quy định nội dung phép biện chứng duy vật. Nội dung của phép biện chứng
duy vật bao gồm nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển.
Đây là những nguyên lý có ý nghĩa khái quát nhất. Các phạm trù, các quy luật cơ
bản của phép biện chứng là sự cụ thể hóa các nguyên lý trên. Nghiên cứu và làm
sáng tỏ các nguyên lý, các phạm trù, các quy luật cơ bản, đó là nhiệm vụ của
phép biện chứng duy vật. Ph.Ăngghen nhấn mạnh ”Vậy là từ trong lịch sử của tự
nhiên và lịch sử của xã hội loài người mà người ta đã rút ra được các quy luật của
biện chứng. Những quy luật không phải là cái gì khác ngoài những quy luật chung
nhất của giai đoạn phát triển lịch sử ấy, cũng như là bản thân của tư duy”
Hai nguyên lý c a phép bi n ch ng duy v t:ủ ệ ứ ậ
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
Trong phép biện chứng duy vật, mối liên hệ phổ biến dung để khái quát mối liên
hệ, sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay
giữa các mặt, các giai đoạn phát triển của một sự vật, hiện tượng. Cơ sở của mối
liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới, theo đó, các sự vật, hiện
tượng trong thế giới dù có đa dạng, có khác nhau thế nào đi chăng nữa, thì cũng
chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất.
Học viên : Doãn Quốc Sĩ. Lớp: Đêm 5-K17 Page 3
Tiểu luận
Cách thức vận động, phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng- Giá trị thực tiễn
Các mối liên hệ có tính khách quan, phổ biến và đa dạng, chúng giữ những vai
trò khác nhau quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.trong hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn, không nêntuyệt đối hóa mối lien hệ nào
và cũng không nên tách rời mối lien hệ này khỏi mối liên hệ khác bởi trên thực tế,
các mối liên hệ còn phải được nghiên cứu cụ thể trong biến đổi và phát triển của
chúng.
Nghuyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát bức tranh toàn cảnh về thế giới bằng
những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng của nó. Tính vô hạn
trong thế giới khách quan,tính có hạn của sự vật, hiện tượng trong thế giới đó chỉ
có thể giải thích được trong mối liên hệ phổ biến và được quy định bằng nhiều
mối liên hệ có nhiều hình thức, vai trò khác nhau. Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến, con người rút ra được những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động
nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Nguyên lý về sự phát triển :
Trong phép biện chứng duy vật, phát triển dùng để khái quát quá trình vận động đi
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện
hơn. Quá trình đó diễn ra dần dần, vừa nhảy vọt làm cho sự vật, hiện tượng cũ
mất đi, hiện tượng mới về chất ra đời. Phát triển là tự thân. Động lực của sự phát
triển là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng. Phát triển đi
theo đường xoáy ốc, cái mới dường như lặp lại một số đặc trưng, đặc tính của cái
cũ nhưng trên cơ sở cao hơn; thể hiện tính quanh co, phức tạp, có thể có những
bước thụt lùt tương đối trong sự phát triển.
Phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động. Trong quá trình phát triển, sự
vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới cao hơn, phức tạp hơn; làm cho cơ
cấu tổ chức, phương thức vận động và chức năng của sự vật ngày càng hoàn
thiện hơn. Phát triển có tính khách quan, phổ biến rất đa dạng. Từ nguyên lý phát
triển, con người có thể rút ra được những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo hoạt
động nhận thức, hoạt động thực tiễn.
Các c p ph m trù cặ ạ ơ b n c a phép bi n ch ng duy v t:ả ủ ệ ứ ậ
Các mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng được phép duy vật biện
chứng khái quát thành các cặp phạm trù cơ bản như: cái riêng - cái chung, tất
nhiên - ngẫu nhiên, bản chất - hiện tượng,nguyên nhân - kết quả, khả năng – hiện
thực, nội dung – hình thức…Chúng được hình thành và phát triển trong quá trình
Học viên : Doãn Quốc Sĩ. Lớp: Đêm 5-K17 Page 4
Tiểu luận
Cách thức vận động, phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng- Giá trị thực tiễn
hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo tự nhiên, xã hội. Các phạm trù cái riêng -
cái chung - cái đơn nhất, tất nhiên – ngẫu nhiên, bản chất – hiện tượng là cơ sở
của phương pháp luận của các phương pháp phân tích và tổng hợp, diễn dịch và
quy nạp, khái quát hóa, trừu tượng hóa để từ đó nhận thức toàn bộ các mối liên
hệ theo hệ thống. Các phạm trù nguyên nhân - kết quả, khả năng - hiện thực là cơ
sở phương pháp luận để chỉ ra mối liên hệ và phát triển giữa các sự vật, hiện
tượng là một quá trình. Các phạm trù nội dung - hình thức là cơ sở phương pháp
luận để xây dựng các hình thức tồn tại trong sự phụ thuộc vào nội dung, phản ánh
tính đa dạng của phương pháp nhận thức và thực tiễn.
Cái riêng , cái chung và cái đơn nhất:
Theo quan điểm của phép biện chứng duy vật, nhận thức bắt đầu từ sự phản ánh
các sự vật, hiện tượng cụ thể của thế giới. Nhưng trong quá trình so sánh giữa
các sự vật, hiện tượng này với các sự vật, hiện tượng khác,; phân biệt chỗ giống
nhau và khác nhau giữa chúng, nhận thức đi đến chỗ phân biệt cái riêng-cái
chung. Cái riêng là phạm trù dung để chỉ một sự vật, hiện tượng nhất định và cái
đơn nhất. Cái chung là phạm trù dung để chỉ những mặt, những thuộc tính lặp lại
trong nhiều sự vật, hiện tượng. Cái đơn nhấtvlà phạm trù dung để chỉ những mặt,
những đặc điểm chỉ có ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các
sự vật, hiện tượng khác.
Giữa cái riêng, cái chung, và cái đơn nhất có mối liên hệ biên chứng với nhau. Cái
chung chỉ tồn tại trong cái riêng, biểu hiện thông qua cái riêng; ngược lại, cái
riêngchỉ tồn tại trong mối lien hệ với cái chung, bao hàm cái chung; cái riêng là cái
toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung cà cái bộ phận nhưng sâu sắc hơn
cái riêng; cái đơn nhất và cái riêng có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình vận
động, phát triển của sự vật. V.I Lenin viết: “Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ
đến cái chung. Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng. Bất cứ cái
riêng nào cũng là cái chung, bất cứ cái chung nào cũng bao quát một cách đại
khái tất cả cái riêng. Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vào cái
chung…. Bất cứ cái riêng nào cũng thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa mà liên
hệ với những cái riêng thuộc loại khác.”
Nguyên nhân và kết quả:
Nhận thức về sự qua lại giữa các mặt, các yếu tố, hoặc giữa các sự vật, hiện
tượng với nhau dẫn đến sự xuất hiện các sự vật, hiện tượng mới và do vậy phát
sinh ra mối liên hệ nhân quả. Nguyên nhân là do sự tương tác qua lại giữa các
Học viên : Doãn Quốc Sĩ. Lớp: Đêm 5-K17 Page 5
Tiểu luận
Cách thức vận động, phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng- Giá trị thực tiễn
mặt trong cùng một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vât, hiện tượng với
nhau gây nên những biến đổi nhất định. Kết quả là những biến đổi xuất hiện do
sự tương tác qua lại giữa các mặt trong cùng một sự vật, hiện tượng hoặc giữa
các sự vật, hiện tượng với nhau.
Giữa nguyên nhân và kết quả có mối liên hệ qua lại quy định lẫn nhau. Nguyên
nhân là cái sinh ra kết quả nên luôn có trước cái kết quả, sau khi xuất hiện, kết
quả ảnh hưởng tích cực trở lại đối với nguyên nhân. Sự phân biệt nguyên nhân -
kết quả lúc này có tính tương đối. Một sự vật, hiện tượng ở trong mối quan hệ này
là nguyên nhân, nhưng lại là kết quả ở trong mối quan hệ khác và ngược lại tạo
nên chuỗi nhân - quả vô tận. Do vậy, nguyên nhân - kết quả bao giờ cũng ở trong
mối quan hệ cụ thể.
Tất nhiên và ngẫu nhiên:
Trong khi phản ánh hiện thực khách quan, con người nhận thức được tính không
một nghĩa, không cùng một giá trị của các mối liên hệ khác nhau của cùng một sự
vật, hiện tượng nên phân chia chúng thành những mối liên hệ nhất định, phải xảy
ra đúng như thế và các nhóm liên hệ có thể xảy ra,cũng có thể không xảy ra, cũng
có thể xảy ra thế này hay thế khác. Tất nhiên do mối liên hệ bản chất, do mối liên
hệ cơ bản bên trong của sự vật, hiện tượng quy định và trong những điều kiện
nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác. Ngẫu nhiên do mối liên
hệ không bản chất, do những nguyên nhân, hoàn cảnh bên ngoài quy định; có thể
xuất hiện, có thể không xuất hiện; có thể xuất hiện thế này, có thể xuất hiện thế
khác.
Giữa tất nhiên và ngẫu nhiên có mối quan hệ biện chứng với nhau. Tất nhiên bao
giờ cũng vạch đường đi cho mình thong qua vô số ngẫu nhiên, còn ngẫu nhiên là
hình thức biểu hiện của tất nhiên, bổ sung cho tất nhiên. Tất nhiên đóng vai trò chi
phối sự phát triển, còn ngẫu nhiên chỉ có thể làm cho sự phát triển diễn ra nhanh
hoặc chậm, trong hình thức này hay hình thức khác. Sự phân biệt tất nhiên-ngẫu
nhiên có tính tương đối, trong những điều kiện nhất định, chúng chuyển hóa lẫn
nhau.
Nội dung và hình thức:
Việc nhận thức nội dung và hình thức gắn liền với việc nghiên cứu các yếu tố quy
định sự tồn tại của sự vật và phương thức tồn tại của nó. Nội dung là tổng hợp tất
cả những mặt, những yếu tố tạo nên sự vật, hiên tượng. Hình thức là là phương
Học viên : Doãn Quốc Sĩ. Lớp: Đêm 5-K17 Page 6
Tiểu luận
Cách thức vận động, phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng- Giá trị thực tiễn
thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng, là hệ thống có mối liên hệ tương
đối bền vững giữa các yếu tố sự vật, hiện tượng.
Giữa nội dung và hình thức có mối liên hệ qua lại, quy định lẫn nhau, trong đó nội
dung giữ vai trò quyết định. Nội dung đòi hỏi hình thức phải phù hợp với nó. Khi
nội dung thay đổi thì hình thức cũng phải thay đổi theo. Tuy nhiên, hình thức có
tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại nội dung. Khi hình thức phù hợp
với nội dung, nó là động lực thúc đẩy nội dung phát triển, còn khi không phù
hợp,hìinh thức cản trở sự phát triển của nội dung. Cùng một nội dung, trong quá
trình phát triển, có thể thể hiện dưới nhiều hình thức và ngược lại, một hình thức
có thể phù hợp với nhiều nội dung.
Bản chất và hiện tượng:
Khi có được nhận thức đầy đủ về những mặt, những mối liên hệ tất yếu và những
đặc tính riêng của sự vật, thì nhận thức đó vẫn chưa vươn tới sự phản ánh đầy
đủ về sự vật. Để nhận thức đúng sự vật từ các hiện tượng phong phú, nhiều vẻ,
con người tiếp tục đi sâu nghiên cứu bản chất của sự vật. Bản chất là tổng hợp
tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định bên trong, quy
định sự tồn tại vận động và phát triển của sự vật.Hiện tượng là những biểu hiện
bề ngoài của sự vật.
Giữa bản chất và hiện tượng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Bản chất và
hiện tượng thống nhất với nhau. Sự thống nhất đó thể hiện ở chỗ: bản chất có thể
thể hiện thong qua hiện tượng, còn hiện tượng là sự thể hiện của bản chất. Tuy
vậy, “nếu hình thái biểu hiện và bản chất sự vật thể phù hợp trực tiếp với nhau, thì
mọi khoa học sẽ trở nên thừa”. Hiện tượng thể hiện bản chất trong hình thức đã
cải biến, nhiều khi xuyên tạc nội dung thật sự của bản chất bằng cách bổ sung
vào bản chất một vài tính chất, yếu tố do hoàn cảnh cụ thể quy định, làm hiện
tượng phong phú hơn bản chất. Bản chất tương đối ổn định, ít biến đổi hơn, còn
hiện tượng thường xuyên biến đổi hơn.
Khả năng và hiện thực:
Khi đã nhận thức được bản chất và những mâu thuẫn vốn có của những sự vật,
hiện tượng, chúng ta có thể phán đoán là sự vật, hiện tượng sẽ biến đổi theo
hướng nào, nghĩa là chúng ta có thể nhận thức được đồng thời cả hiện thực và
khả năng biến đổi của sự vật, hiện tượng. Khả năng là cái chưa xảy ra, nhưng sẽ
xảy ra khi có các điều kiện thích hợp. Hiện thực là cái đang có, cái tồn tại thực sự.
Học viên : Doãn Quốc Sĩ. Lớp: Đêm 5-K17 Page 7
Tiểu luận
Cách thức vận động, phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng- Giá trị thực tiễn
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình
vận động, phát triển của sự vật. Trong hiện thực bao giờ cũng chứa đựng những
khả năng nhất định, ngược lại khả năng lại trong hiện thực và khi đủ điều kiện sẽ
trở thành hiện thực mới. Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực diễn ra rất phức
tạp. Trong từng giai đoạn phát triển của sự vật thường xuất hiện rất nhiều khả
năng. Khả năng nào biến thành hiện tực là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể. Trong
hoạt động thực tiễn phải dự báo các khả năng và tạo điều kiện để khả năng tốt trở
thành hiện thực và ngăn ngừa các khả năng xấu.
Các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là hệ thống bất biến,
mà phát triển cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn. Mối liên hệ giữa
các cặp phạm trù của các ngành khoa học với các phạm trù của phép biện chứng
duy vật là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Do vậy, khi nghiên cứu các
cặp phạm trù, cần liên hệ chúng với nhau và với các quy luật cơ bản của phép
biện chứng duy vật, bởi vì dù quan trọng đến mấy, chỉ riêng các cặp phạm trù
hoặc các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật cũng không phản ánh đầy
đủ các mối liên hệ của thế giới.
Ba quy lu t ph bi n : ậ ổ ế
Bên cạnh các cặp phạm trù, phép biện chứng duy vật còn bao hàm ba quy luật
phổ biến về sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đó là quy luật
chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược
lại; quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; quy luật phủ định của
phủ định.
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi
về chất và ngược lại:
Chỉ ra cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. trong đó, chất là
t1inh quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, là sự thống nhất hữu
cơ giữa các thuộc tính làm cho nó là nó chứ không phải là cái khác. Lượng là tính
quy định vốn có của sự thất về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự
vận động, phát triển của sự vật cũng nư các thuộc tính của nó. Mỗi sự vật đều là
sự thống nhất giữa chất và lượng. giới hạn, trong đó những sự thay đổi về lượng
chưa gây ra sự thay đổi về chất được gọi là độ. Nhữngthay đổi về lượng vượt
quá giới hạn độ sẽ làm cho chất của sự vật thay đổi. Điểm mà tại đó sự thay đổi
căn bản về chất được thực hiện được gọi là điểm nút. Bước nhảy là bước thay
đổi căn bản về chất của sự vật, hiện tượng do sự thay đổi về lượng trước đó gây
Học viên : Doãn Quốc Sĩ. Lớp: Đêm 5-K17 Page 8
Tiểu luận
Cách thức vận động, phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng- Giá trị thực tiễn
ra. Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất còn có chiều
ngược lại. Đến lượt nó, sự thay đổi về chất lại tác động đến lượng, thúc đẩy
lượng tiếp tục phát triển.
Nắm được quy luật này sẽ tránh nôn nóng, đốt cháy giai đoạn tích lũy về lượng;
đồng thời tránh tư tưởng tuyệt đối hóa sự thay đổi về lượng, không kịp thời
chuyển những thay đổi về lượng sang những thay đổi về chất, từ những thay đổi
mang tính tiến hóa sang những thay đổi mang tính cách mạng và ngược lại không
biết sử dụng chất mới để thức đẫy lực lượng tiếp tục phát triển.
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập:
Là hạt nhân của phép biện cứng duy vật, nó chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự
vận động, phát triển. Theo phép biện chứng,mặt đối lập là những mặt có khuynh
hướng biến đổi trái ngược nhau. Mọi sự vật đều có những mặt đối lập. Sự tác
động giữa chúng tạo thành mâu thuẫn bên trong của sự vật. Mâu thuẫn biện
chứng là phổ biến khách quan, vốn có của sự vật. Các mặt đối lập lại vừa thống
nhất, vừa đấu tranh với nhau. Trong đó thống nhất là tương đối, là tạm thời ; đấu
tranh là tuyệt đối, vĩnh viễn. Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là
nguồn gốc, động lực của sự vận động, sự phát triển.
Quy luật này có ý nghĩa phương pháp luận to lớn trong việc phát hiện và phân tích
mâu thuẫn của sự vật cũng như tìm ra con đường đúng đắn để giải quyết mâu
thuẫn nhằm thúc đẩy sự phát triển.
Quy luật phủ định của phủ định:
Chỉ ra khuynh hướng phát triển của sự vật. Phủ định biện chứng là trình khách
quan, tự thân, là quá trình kế thừa cái tích cực đã đạt được từ cái cũ, là mắt khâu
trong quá trình dẫn tới sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới cao hơn, tiến bộ hơn.
Quá trình phủ định của phủ định tạo thành sự vận động, phát triển không ngừng
mang tính chu kỳ của thế giới khách quan. Trải qua một số lần phủ định, sự vật,
hiện tượng dường như lặp lại những giai đoạn đã qua trên cơ sở mới, cao hơn và
như vậy, điều đó chứng tỏ phát triển đi theo đường xoắn ốc.quy luật này có một ý
nghĩa phương pháp luận to lớn trong quá trình thay thế cái cũ bằng cái mới. nó
đòi hỏi phải xuất phát từ những điều kiện khách quan cho phép, phải tạo điều
kiện, tiền đề cho phép cái mới chiến thắng cái cũ, phải biết kế thừa và phát triển
sang tạo những cái tích cực đã đạt được từ những cái cũ; đồng thời thấy được
tính chất phức tạp trong quá trình ra đời cái mới.
Học viên : Doãn Quốc Sĩ. Lớp: Đêm 5-K17 Page 9
Tiểu luận
Cách thức vận động, phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng- Giá trị thực tiễn
Trong phép biện chứng duy vật, nếu quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về
lưỡng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức của sự phát
triển; quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập chỉ ra nguyên nhân và
động lực bên trong của sự phát triển, thì quy luật phủ định của phủ định chỉ ra
khuynh hướng, hình thức và kết quả của sự phát triển đó. Các quy luật cơ bản
của phép biện chứng duy vật định hướng việc nghiên cứu những quy luật đặc thù
của khoa học chuyên ngành và đến lượt mình, các quy luật cơ bản về sự phát
triển của thế giới chỉ có tác dụng trên cơ sở và trong sự gắn bó với những quy
luật đặc thù. Mối liên hệ qua lại giữa các quy luật cơ bản với các quy luật đặc thù
tạo nên cơ sở khách quan của mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng với
các khoa học chuyên ngành.
Giá trị thực tiễn trong quản lý doanh nghiệp:
Xã hội loài người là một bộ phận đặc biệt của thế giới vật chất, tuân theo những
quy luật tồn tại và phát triển của riêng mình. Con người cũng là một bộ phận của
giới tự nhiên, là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên. Con người sở dĩ phát triển
vượt bậc so với các loại động vật khác là do sự kết hợp giữa các tố chất riêng của
loài người, kết hợp với lao động thực tiễn mà từ từ nâng cấp mình lên. Cùng với
sự sáng tạo không ngừng, lao động, sản xuất vật chất là lực lượng chủ yếu và
quyết định làm cho xã hội phát triển tiến lên từ thời đại nguyên thủy đến ngày nay.
Phải chăng, hoạt động sản xuất là hoạt động đặc trưng riêng có ở con người và
của xã hội loài người. Đó là quá trình hoạt động có mục đích và không ngừng
sang tạo. Theo Ph.Ăngghen :”Điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với
xã hội loài vật là ở chỗ : loài vật cùng lắm là chỉ hái lượm, trong khi con người sản
xuất”
Sự sản xuất xã hội bao gồm sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra
bản thân con người. Ph.Ăngghen viết:’Lao động đã sáng tạo ra bản thân con
người”. Ba quá trình này không tách biệt nhau, trong đó sản xuất vật chất giữ vai
trò là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội và suy cho cùng, nó quyết định
của toàn bộ sự vận động của đời sống xã hội. Sản xuất vật chất là quá trình con
người sử dụng công cụ lao động tác động trực tiếp hay gián tiếp đến tự nhiên, cải
biến các dạng vật chất của tự nhiên để tạo ra của cải xã hội, nhằm thỏa mãn nhu
cầu tồn tại và phát triển - nhu cầu phong phú và vô tận của con người. Do vậy,
quá trình quản lý doanh nghiệp thực chất là quản lý con người và công cụ sản
xuất, sao cho mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao, đảm bảo được cuộc sống
của người lao động, và cũng từ đó người lao động tự cải tạo bản thân mình.
Học viên : Doãn Quốc Sĩ. Lớp: Đêm 5-K17 Page 10
Tiểu luận
Cách thức vận động, phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng- Giá trị thực tiễn
Người quản lý doanh nghiệp muốn làm tốt được điều đó phải xác định được “nội
dung” và “hình thức” của doanh nghiệp từ giác độ duy vật biện chứng.
Thông thường, người ta nghĩ rằng “nội dung” là cái bên trong, “hình thức” là cái
bên ngoài. “cái bên trong” của doanh nghiệp rất phong phú, “cái bên ngoài” của
doanh nghiệp cũng rất đa dạng. Do vậy, cần thiết phải có khoa học triết học để
khái quát hóa “cái bên trong”, “cái bên ngoài” và mối quan hệ giữa chúng bằng
cặp phạm trù có nội hàm chặt chẽ : “nội dung – hình thức”. Điều quan trọng,
chúng ta phải phân biệt các phạm trù của các khoa học khác nhau; phạm trù của
phép biện chứng duy vật là những khái niệm chung nhất, phản ánh toàn bộ thuộc
tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất của toàn bộ thế giới hiện thực,
bao gồm tự nhiên, xã hội, tư duy.
Mỗi cặp phạm trù không xuất hiện một cách tùy tiện, nó là kết quả của giai đoạn
nhận thức trước đó, đồng thời là nguyên nhân của giai đoạn nhận thức kế tiếp…
Do vậy, những vấn đề đang nảy sinh trong nội bộ doanh nghiệp, nảy sinh giữa
doanh nghiệp và thị trường không xuất hiện một cách đơn lẻ, nó có mối quan hệ
biện chứng với nhau rất chặt chẽ. Nhà quản lý cần phải nắm bắt mối liên hệ này
để tìm ra nguồn gốc, nguyên nhân, và để thay đổi nhận thức, thay đổi cách làm
việc trong doanh nghiệp sao cho phù hợp với những cái đang diễn ra xung quanh.
Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, chúng ta thấy cặp phạm trù nội dung-
hình thức trong doanh nghiệp không có sẵn trong người quản lý, cũng không tồn
tại độc lập bên ngoài hoạt động sản xuất, mà được hình thành trong quá trình
hoạt động nhận thức và thực tiễn của họ.
“Nội dung” của doanh nghiệp là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những
quá trình tạo nên doanh nghiệp, trong đó yếu tố con người và công cụ lao động là
nội dung cơ bản của doanh nghiệp. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp, bởi lẽ người lao động tác động vào đối tượng như thế nào tùy
thuộc một phần vào công cụ lao động. Theo Ph.Ăngghen, công cụ lao động là “khí
quan của bộ óc con người”, là “sức mạnh của tri thức đã được vật thể hóa”, có tác
dụng “nối dài bàn tay” và nhân lên sức mạnh trí tuệ của người lao động. Bởi vậy,
khi công cụ lao động trong doanh nghiệp đã đạt tới trình độ cao, kỹ thuật mới, tự
động hóa… thì vai trò “khí quan vật chất” của nó trở nên kỳ diệu. Chính sự biến
đổi, cải tiến công cụ lao động đã gây nên sự biến đổi sâu sắc trongtoàn bộ tư liệu
sản xuất của doanh nghiệp. Xét cho cùng, đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đếnsự
phát triển của doanh nghiệp, tất nhiên không thể tách khỏi yếu tố người lao động.
Nghĩa là, lực lượng sản xuất trong doanh nghiệp (bao gồm con người và tư liệu
Học viên : Doãn Quốc Sĩ. Lớp: Đêm 5-K17 Page 11
Tiểu luận
Cách thức vận động, phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng- Giá trị thực tiễn
sản xuất) đóng vai trò làm thay đổi quan hệ giữa người với người trong doanh
nghiệp và làm thay đổi những quan hệ xã hội khác của người lao động. Các Mác
viết : “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất.
Do có nhữngsản xuất mới, con người thay đổi phương thức sản xuất của mình,
và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay
đổi tất cả các mối quan hệ xã hội của mình. Cái cối xay quay bằng tay đưa xã hội
có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa xã hội có nhà tư bản công
nghiệp”
Như vậy, dưới giác độ triết học duy vật biện chứng, quan tâm đến nội dung của
doanh nghiệp là thực chất quan tâm đến người lao động (cả vật chất và tinh thần);
quan tâm đến sự cải tiến công cụ lao động phù hợp với trình độ của người lao
động trong doanh nghiệp. Trong thực tế, có nhiều doanh nghiệp thất bại vì sai
lầm trong phương pháp luận: đầu tư không đồng bộ giữa hai yếu tố : “người lao
động” và “công cụ lao động”. Cụ thể: nậng cao kiến thức chuyên môn cho người
lao động nhưng lại không cải tiến công cụ lao động cho thích hợp; hoặc đầu tư,
trang bị công cụ quá hiện đại, nhưng trình độ chuyên môn của người lao động
chưa được đào tạo để theo kịp với công cụ lao động đó.
“Hình thức” của doanh nghiệp không phải là vẻ bên ngoài của doanh nghiệp mà là
cách thức tồn tại và phát triển của doanh nghiệp – hệ thống các mối liên hệ tương
đối bền vững bên trong của doanh nghiệp. Chính vì vậy các nhà quản lý doanh
nghiệp muốn quan tâm đến “hình thức” của doanh nghiệp thì phải quan tâm trước
hết là việc tổ chức các phòng, ban, tổ sản xuất sao cho hoàn thành được nhiệm
vụ đã đặt ra. Một số doanh nghiệp thất bại vì chạy theo “hình thức bề ngoài” hoàn
toàn không phù hợp với “nội dung” bên trong của doanh nghiệp, mang tính phô
trương, phản nguyên lý: nội dung quyết định hình thức. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý
rằng hình thức bên ngoài cũng có tác dụng nhất định chứ không hoàn toàn phi tác
dụng. Bởi lẽ hình thức bên ngoài cũng tạo cảm giác ban đầu cho khách hàng, nếu
hình thức bên ngoài hấp dẫn, khách hàng sẽ tiếp cận lần thứ hai, nếu không hấp
dẫn, khách hàng sẽ chán ngay từ đầu vì “cảm giác là nguồn gốc của mọi nhận
thức về sau”. Một lưu ý nữa được đặt ra: các nhà doanh nghiệp đừng bao giờ
dùng cảm giác để quyết định công việc, vì “cảm giác là hình thức thấp nhất của
quá trình nhận thức”.
Triết học duy vật biện chứng đã chỉ rõ : không có một hình thức nào không chứ
đựng nội dung; ngược lại, không có nội dung nào không tồn tại trong hình thức.
Tuy nhiên, khẳng định điều đó không có nghĩa là một nội dung bao giờ cũng chỉ
Học viên : Doãn Quốc Sĩ. Lớp: Đêm 5-K17 Page 12
Tiểu luận
Cách thức vận động, phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng- Giá trị thực tiễn
thể hiện ra trong một hình thức nhất định và một hình thức bao giờ cũng chỉ thể
hiện một nội dung nhất định. Người quản lý cần phải nhìn thấy sự đa dạng trong
cách thể hiện của nội dung, để điều chỉnh doanh nghiệp cho phù hợp giữa bên
trong và bên ngoài.
Dưới giác độ triết học duy vật biện chứng, khi xem xét đến phạm trù cái riêng, cái
chung, cái đơn nhất ta thấy xuất hiện các mối quan hệ biện chứng xảy ra trong
doanh nghiệp:
Cái lợi ích riêng của từng cá nhân trong doanh nghiệp với cái lợi ích chung của
doanh nghiệp:
Mối quan hệ này tồn tại song song, tác động qua lại lẫn nhau, nếu nhà quản lý chỉ
chú trọng đến lợi ích của doanh nghiệp thôi, thì chắc chắn sẽ gây ra bất bình trong
lực lượng sản xuất, sản xuất trì trệ, họ cũng mất luôn lợi ích của doanh nghiệp.
Còn nếu người lao động chỉ quan tâm đến lợi ích của riêng mình mà không quan
tâm đến lợi ích doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ sụp đổ, khi đó, người lao động
cũng sẽ mất luôn lợi ích mà họ đang cố theo đuổi. Như vậy, để xác định đúng đắn
mối quan hệ này, và đặt nó nằm trong một thể thống nhất, người quản lý và người
lao động cần nhận thức và xác lập cho mình một mối quan hệ hỗ trợ nhau, sao
cho đôi bên cùng có lợi, cái lợi riêng từng cá nhân phải phù hợp với lợi ích chung
của tập thể,của doanh nghiệp.
Cái riêng của doanh nghiệp với cái chung của ngành, của thị trường:
Khi một doanh nghiệp muốn đưa một sản phẩm mới ra thị trường, họ phải nghiên
cứu, xác định xem sản phẩm mà họ sắp cho ra đời có mối liên hệ nào với sở thích
của một nhóm khách hàng tiềm năng mà họ muốn hướng đến, sản phẩm đưa ra
có phù hợp với mong muốn của khách hàng hay không? Nếu không xem xét mối
liên hệ này, doanh nghiệp dễ đi vào tình trạng sản phẩm bán ra không được, thị
trường không ưa chuộng, sản phẩm không có tính cạnh tranh trên thị trường
Điều này sẽ dẫn đến thất bại cho doanh nghiệp. Ngược lại, doanh nghiệp nào
xem xét kỹ mối quan hệ biện chứng giữa sản phẩm và thị trường thì sẽ đạt được
kết quả khả quan nhất, thành công nhất.
Cái đơn nhất, tức cái thế mạnh riêng của doanh nghiệp so với các đối thủ trên thị
trường:
Khi một doanh nghệp bắt đầu khởi sự, điều đầu tiên để họ tự tin khi xâm nhập thị
trường chính là những lợi thế riêng biệt của doanh nghiệp đó, và đó cũng là cơ sở
Học viên : Doãn Quốc Sĩ. Lớp: Đêm 5-K17 Page 13
Tiểu luận
Cách thức vận động, phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng- Giá trị thực tiễn
để họ thành công khi cạnh tranh với các đối thủ khác. Nếu một doanh nghiệp mà
không có những cái đơn nhất, cái lợi thế riêng của họ thì doanh nghiệp đó sẽ
nhanh chóng bị các đối thủ vượt qua mặt, sẽ không có khả năng cạnh tranh trên
thị trường và sụp đổ. Ngược lại, doanh nghiệp có nhiều cái đơn nhất, chiếm nhiều
cái ưu thế trên thị trường thì sẽ trở nên thống lĩnh thị trường trở thành doanh
nghiệp độc quyền, hoặc có sự ảnh hưởng lớn trên thị trường.
Ta tiếp tục xem xét tới cặp phạm trù “khả năng – hiện thực”:
Đây cũng là cơ sở lý luận nòng cốt cho doanh nghiệp trong việc hoạch định các
chính sách kinh doanh, hoặc đề ra các mục tiêu để phấn đấu, dự báo trước
những rủi ro và đưa ra biện pháp phòng tránh. Trong hiện thực, thực tế của doanh
nghiệp luôn luôn tồn tại những khả năng xảy ra theo cả hai chiều hướng tốt và
xấu mà người lãnh đạo cần phải có tầm nhìn để phán đoán trước : khả năng khi
tiếp xúc với những điều kiện nhất định thì sẽ trở thành hiện thực. Vì vậy, nhà lãnh
đạo cần xem xét mối liên hệ biện chứng này trong nội tại của công ty, của thị
trường để tạo điều kiện cho các khả năng tốt có thể xảy ra, trở thành hiện thực,
đồng thời ngăn chặn các khả năng xấu không thể trở thành hiện thực.
Không chỉ riêng trong doanh nghiệp, mà còn trong rất nhiều khía cạnh của cuộc
sống, vấn đề “bản chất – hiện tượng” là vấn đề rất đáng được nghiên cứu kỹ và
nắm bắt được những quy luật, cách thức thể hiện của chúng để có được cách
hành xử thích hợp cho mỗi sự việc đang xảy ra:
Liệu đó chỉ là hiện tượng hay là bản chất thực của sự việc đó? Trong thực tiễn
kinh doanh của doanh nghiệp, chắc chắn cũng có không ít những lần rủi ro hoặc
các biến cố xảy đến cho doanh nghiệp nói riêng và cho cả thị trường nói chung,
như vậy nhà quản lý cần phải phân tích mối quan hệ biện chứng giữa những cái
hình thức bên ngoài, những hiện tượng đang xảy ra, để xác định xem nội dung
bên trong những hiện tượng đó là gì? Điều gì đang thực sự xảy đến? Nếu phân
tích đúng và xác định đúng bản chất của sự việc đó, doanh nghiệp sẽ được lợi rất
lớn trong việc đón đầu những diễn tiến của thị trường; ngược lại nếu chủ quan,
hoặc không xác định rõ đâu là bản chất - đâu là hiện tượng, thì doanh nghiệp dễ
dàng bị nhầm lẫn và hành động sai, không thể làm chủ được tình hình và dễ bị
“chết đứng” trong thương trường.
Kết luận:
Học viên : Doãn Quốc Sĩ. Lớp: Đêm 5-K17 Page 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét