II. CƠ CẨU TỔ CHỨC VÀ BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY
Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế, những quy luật khách quan, chủ
quan, môi trường kinh doanh trong nước cũng như ngoài nước tác động rất lớn
đến các đến các doanh nghiệp nói chung cũng như Công ty Điện tử Đống Đa
nói riêng, đòi hỏi công ty phải có một bộ máy linh hoạt gọn nhẹ. Bộ máy của
công ty theo kiểu trực tuyến chức năng, theo sơ đồ:
Các hội
đồng cố vấn
Giám đốc
công ty
Các tổ chức
đo n thà ể
Phó giám đốc
công ty
Khối
văn
phòng
công ty
Ban
thiết bị
y tế
Phòng
kế toán
tài
chính
Phòng
kinh
doanh
thị
trường
Phòng
kế
hoạch
vật tư
Phòng
đầu tư
phát
triển
Phòng
tổ chức
hành
chính
Trung
tâm bảo
h nh sà ản
phẩm
Các trung
tâm dịch
vụ v cà ửa
h ngà
Xưởng
thiết bị
điện tử
Xưởng
anten
điện tử
Xưởng
cơ điện
Liên
doanh
DVC
Qua sơ đồ trên và qua thực tế tại công ty thì giám đốc là người chịu trách
nhiệm cao nhất về mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, trực
tiếp chi phối hoạt động kinh doanh chính, chỉ đạo và phối hợp của các
phòng ban.
♣ Phó giám đốc có nhiệm vụ giúp giám đốc điều hành hoạt động
của công ty, chịu trách nhiệm thay thế giám đốc điều hành các bộ phận được
uỷ quyền, giúp đỡ cho ban giám đốc và các phòng chức năng và phó giám
đốc còn trực tiếp chỉ đạo khối văn phòng công ty và ban trang thiết bị y tế.
Trong đó, ban trang thiết bị y tế có nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ thường
xuyên cho cán bộ công nhân viên, phòng chống các dịch bệnh và tạo điều
kiện sinh hoạt vệ sinh cho cán bộ công nhân viên.
♣ Phòng tổ chức hành chính: Có nhiệm vụ tổ chức quản lý lao động,
giải quyết chế độ cho người lao động như: Điều động lao động, tuyển dụng
lao động, giải quyết hưu trí, tiền lương cho người lao động.
♣ Phòng kinh doanh thị trường: Nghiên cứu, xây dựng, nắm bắt thị
trường trong và ngoài nước, đảm bảo tiêu thụ sản phẩm và thực hiện các
công việc kinh doanh của công ty.
♣ Phòng tài chính kế toán: Làm nhiệm vụ kế toán, có chức năng thu
nhập và xử lý thông tin về tình hình vốn, tài sản, tài chính của công ty để
giám đốc cũng như các phòng ban của công ty có những thông tin cần thiết,
phù hợp, kịp thời phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
♣ Phòng kế hoạch vật tư: Có nhiệm vụ lập kế hoạch sản xuất kinh
doanh và cung cấp vật tư nguyên vật liệu.
∗ Nhiệm vụ lập kế hoạch: Lập kế hoạch sản xuất cho từng năm,
từng giai đoạn sản xuất, đồng thời phòng còn có nhiệm vụ ký kết các
hợp đồng và tổ chức thực hiện các nội dung ký kết trong hợp đồng. Chức
năng lập kế hoạch cho toàn công ty đóng vai trò quan trọng.
∗ Nhiệm vụ cung cấp đầy đủ vật tư thiết bị cho sản xuất. đồng thời
quyết toán số vật tư đã sử dụng.
Tóm lại: Phòng kế toán vật tư quản lý các nguyên vật liệu vật tư phục vụ sản
xuất, cung ứng vật tư đảm bảo chất lượng kịp thời. Ngoài ra, phòng còn xây
dựng các dự án đầu tư, đổi mới máy móc, thiết bị phục vụ nhu cầu sản xuất,
kinh doanh, quản lý việc nhập, mua bán nguyên vật liệu, …
Các ban, khối, trung tâm trực thuộc, xưởng và liên doanh DVC: Thực hiện các
nhiệm vụ theo đúng chức năng, nhiệm vụ quyền hạn đã được giao phó.
♦ Mối quan hệ công tác giữa các phòng ban trong công ty:
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi phòng ban mà trưởng và phó
các phòng ban là người chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty và kết quả
thực hiện nhiệm vụ của các phòng ban và nghiệp vụ ngành dọc của các đơn
vị trực thuộc.
Trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ, các phòng ban có trách nhiệm
phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau cùng tham gia giải quyết các công việc chung của
công ty có liên quan đến chức năng và nhiệm vụ của phòng ban mình phụ trách.
Các phòng ban của công ty có trách nhiệm hướng dẫn và giúp đỡ các đơn vị
trực thuộc tổ chức triển khai thực hiện công tác chuyên môn nghiệp vụ theo
ngành dọc, đồng thời có trách nhiệm đôn đốc kiểm tra giám sát việc thực hiện
chức năng nhiệm vụ chuyên môn do phòng ban phụ trách.
III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG VÀ KINH DOANH CỦA CÔNG TY
1. Vốn tài chính và tình hình quản lý vốn:
1.1. Vốn tài chính:
Vốn là điều kiện đầu tiên của bất kỳ một công ty nào khi bước vào hoạt
động kinh doanh. Có thể nói, vốn quyết định sự sống còn của công ty và là dấu
hiệu của sự làm ăn thịnh vượng hay thua lỗ của công ty. Đối với công ty Điện
tử Đống Đa thì vốn có vai trò đặc biệt quan trọng và có thể huy động từ nhiều
nguồn khác nhau với số lượng lớn. Tuy nhiên, để có số lượng vốn hợp lý phù
hợp với điều kiện kinh doanh và đảm bảo an toàn trong kinh doanh thì các công
ty phải dựa vào thực trạng kinh doanh của công ty mình, khả năng duy trì và
khả năng quay vòng vốn. Vốn của công ty Điện tử Đống Đa chủ yếu là vốn
vay ngân hàng, chiếm khoảng 63% tổng số vốn.
Trên thực tế, ở nước ta hầu hết các công ty đều thành lập trên cơ sở không
có đảm bảo chắc chắn về tài chính nên không có khả năng cạnh tranh cao hoặc
không chịu đựng được những biến động của thị trường.
Nguồn vốn của công ty được huy động từ 3 nguồn:
∗ Nguồn vốn do Nhà nước cấp: Mặc dù công ty đang hoạt động
trong nền kinh tế thị trường song công ty vẫn do Nhà nước quản lý. Vì vậy
công ty hàng năm vẫn được Nhà nước cấp bổ sung một lượng vốn mặc dù
có hạn chế.
∗ Vốn tự có của công ty: Lượng vốn này rất ít, đặc biệt trong năm
2000 lượng vốn tự có của công ty chiếm khoảng 20% tổng số vốn nhưng
năm 2002 do hoạt động kinh doanh của công ty có tiến triển dẫn đến lượng
vốn tự có của công ty đã tăng lên =30% tổng số vốn.
∗ Vốn vay ngân hàng: Đây là nguồn vốn chủ yếu của công ty từ
năm 1999 đến năm 2001 tình hình hoạt động của công ty có phần sáng sủa
hơn và lượng vốn vay của ngân hàng tăng từ 64% lên 74% tổng số vốn vì
công ty đã mở rộng quy mô sản xuất của mình ra nhiều lĩnh vực với nhiều
mặt hàng trong lĩnh vực điện tử và đồ gia dụng.
Tuy nhiên, đến năm 2002, hoạt động kinh doanh của công ty có chuyển biến về
lượng vốn vay ngân hàng và lượng này đã giảm nay chỉ còn 67% tổng số vốn.
Công ty vay vốn ngân hàng dưới 2 hình thức:
- Vay dài hạn: Chiếm 17% tổng số vốn vay lãi suất 8,0%/năm thời
gian hoàn vốn là 5 năm.
- Vay ngắn hạn: Chiếm 83% tổng số vốn vay với lãi suất
8,3%/năm. thời hạn hoàn vốn là 1/4 năm, lượng vốn này nhằm để bổ
sung vốn lưu động và chủ yếu là vay theo từng lô hàng. Ngoài ra công
ty còn áp dụng phương pháp trả chậm trong việc mua linh kiện nước
ngoài để tăng lượng vốn vận chuyển.
Với lượng vốn vay khá lớn mà lại trong thời gian ngắn thì có thể thấy khả
năng thu hồi vốn của công ty là rất cao và có thể đánh giá được tình hình hoạt
động tiêu thụ của công ty đang có tiến triển. Tuy vậy, vẫn có thể đánh giá được
chính xác công ty chưa thể thu được nhiều lợi nhuận trong hoạt động kinh
doanh vì với lượng vốn vay lớn và lãi suất cao thì công ty phải trả nhiều lãi do
đó làm tăng giá thành sản phẩm và nó ảnh hưởng rất lớn đến tiêu thụ sản phẩm,
điều đó làm cho doanh thu và lợi nhuận không cao.
Theo quy định, công ty phải có trách nhiệm công khai và báo cáo tình hình
tài chính với các cơ quan nhà nước có liên quan nếu thấy cần thiết sẽ được cấp
một lượng vốn bổ sung để duy trì và mở rộng quy mô sản xuất.
Tính đến thời điểm năm 2002 công ty hiện có 29,087 tỉ đồng vốn. Trong đó, tài
sản cố định chiếm 11,743 tỉ đồng và đã tăng thêm 0,901 tỉ đồng so với năm 2001.
Sau đây là bảng cơ cấu vốn của công ty trong năm 1999-2002
BẢNG CƠ CẤU VỐN
Đơn vị: Triệu đồng
CHỈ TIÊU 1999 2000 2001 2002
Vốn cố định 11290 11410 11530 11743
Vốn lưu động 14526 15248 16656 17343
Tổng vốn 25816 26658 28186 29087
Hệ số vốn vay 0,639 0,665 0,736 0,624
Doanh thu
thuần
14815 16154 15086 17922
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh các năm từ 1999 đến 2002)
Từ bảng số liệu trên ta thấy: Vì công ty phần lớn là sản xuất tivi các loại
và tivi là mặt hàng chủ yếu của công ty nên doanh thu của công ty cũng biến
động theo mùa vụ cũng như sự thay đổi doanh thu khi có sự kiện xẩy ra:
Ví dụ như:Trong năm 2000 và 2002 trên thế giới có 2 sự kiện thể thao nổi tiếng
là EURO2000 và WORDCUP2002 làm cho nhu cầu về mua máy thu hình tăng
lên để phục vụ cho nhu cầu giải trí và xem bóng đá của người dân. đây là thời
điểm công ty bán được nhiều máy thu hình nhất đặc biệt là các loại máy thu
hình từ 20 inch trở lên và kết quả là doanh thu 2 năm 2000 và 2002 tăng lên so
với năm 1999 và 2001. Mặt khác, nếu xét trong một năm thì thì doang thu theo
các mùa có sự khác biệt. Để chứng minh điều này chúng ta hãy xem bảng thống
kê tình hình tiêu thụ máy thu hình trong năm 2002 như sau:
Bảng thống kê tình hình tiêu thụ máy thu hình năm 2001
Đơn vị: chiếc
CHỦNG LOẠI Tháng 1
đến 3
Tháng 4 đến 6 Tháng 7 đến 9 Tháng 10 đến
12
Tivi D1409 30 25 27 50
Tivi D1497 67 62 69 72
Tivi D2066 75 63 71 84
Tivi SANYO 50 30 43 64
Tivi Viettronics
2199A
450 439 429 502
Tổng cộng 672 619 639 772
Nguồn: Bản báo cáo tình hình tiêu thụ các mặt hàng của công ty
Từ bảng số liệu trên cho thấy: Doanh thu từ việc bán tivi của công ty cũng biến
động theo mùa:
∗ Trong các tháng 1,2,3: Đây là các tháng giáp tết âm lịch thu nhập của
người dân có phần gia tăng, nhu cầu mua sắm gia tăng và nhu cầu vui chơi giải
trí tăng lên làm cho số lượng tivi bán được nhiều.
∗ Trong các tháng 4;5;6: Nhu cầu tiêu dùng và mua sắm có phần lắng
xuống nhất là nhu cầu về mua sắm những đồ dùng phục vụ nhu cầu vui chơi
giải trí mà họ thường tập trung vào công việc nên số lượng tivi bán có phần
giảm xuống 53 tivi so với các tháng 1;2;3.
∗ Trong các tháng 7;8;9: Đây là các tháng hè đối với học sinh, sinh viên
nên nhu cầu vui chơi giải trí có phần tăng lên, ngoài những nhưng cũng không
thể tăng hơn các tháng đầu năm và cụ thể là: Tăng lên 20 chiếc so với các tháng
4;5;6 và giảm 33 chiếc so với các tháng đầu năm.
∗ Trong 3 tháng cuối năm mặc dù bận rộn với những công việc cuối năm
và thu nhập cũng tăng lên làm nhu cầu mua sắm tăng mạnh. Đây là thời điểm
mua sắm mạnh trong năm trong đó đồ gia dụng, đồ điện tử và đồ trang trí trong
mỗi gia đình tăng mạnh nhất. Lượng tivi bán ra tăng kỉ lục trong năm và tăng
133 chiếc so với các tháng 7;8;9.
1.2 Tình hình quản lý vốn:
Về vấn đề quản lý doanh thu và chi phí:
Thông thường doanh thu của công ty chủ yếu từ hoạt động sản xuất kinh
doanh và công ty sẽ hạch toán doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh,
doanh thu từ các hoạt động bất thường khác để xác định lợi nhuận công ty.
Chi phí của công ty phần lớn bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu và chi phí quản
lý điều hành doanh nghiệp của các phòng ban trong công ty. Công ty sẽ tiến
hành hạch toán chi phí trong toàn công ty.
Vấn đề lợi nhuận và trích lập các quỹ:
lợi nhuận của công ty là chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của
hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động bất thường khác và lợi nhuận
của công ty được sử dụng để trích lập các quỹ sau:
♣ Quỹ đầu tư phát triển: Trích tối thiểu là 50% từ phần lợi nhuận hạch toán
tập trung sau khi bù đi các khoản lỗ của năm trước và các khoản lỗ không được
trừ vào lợi nhuận trước thuế, nộp tiền thu sử dụng vốn ngân sách nhà nước, trả
các khoản phạt do vi phạm Pháp luật Nhà nước, các khoản chi phí thực tế đã
chi nhưng không được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế,
trả lãi cho các đối tác theo hợp đồng của công ty. Quỹ đầu tư phát triển để đầu
tư mở rộng kinh doanh, đổi mới thay đổi và phát triển phương tiện máy móc kỹ
thuật và điều kiện làm việc, bổ sung vốn lưu động cho công ty, mở rộng quy
mô sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm.
♣ Quỹ dự phòng tài chính:Trích tối thiểu 10% từ phần lợi nhuận hạch toán
tập trung, quỹ dự phòng tài chính tập trung được sử dụng để bù đắp, hỗ trợ
phần còn lạI những tổn thất về tàI sản do thiện tai hay những rủi ro kinh doanh
của công ty.
♣ Quỹ nghiên cứu khoa học, công nghệ và đào tạo: trích 3-10% từ lợi
nhuận hạch toán, huy động thêm tối đa 15% từ quỹ đầu tư phát triển của công
ty trong năm. quỹ nghiên cứu khoa học công nghệ và đào tạo được sử dụng để
chi cho công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực
nhằm nâng cao năng suất lao động cho người lao động trong doanh nghiệp.
♣ Quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng: được trích căn cứ vào phần lợi nhuận
còn lạI sau khi đã trích các quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính và quỹ
dự phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ phúc lợi và khen thưởng được huy động tối
đa 10% lợi nhuận của công ty.
∗ Quỹ phúc lợi được tập trung vào việc đầu tư xây dựng và sửa
chữa, bổ sung xây dựng các công trình phúc lợi công cộng của công ty,
góp vốn đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi công cộng với các công
ty khác theo hợp đồng thoả thuận. Ngoài ra, còn chi cho các hoạt động
phúc lợi xã hội, thể thao, văn hoá, phúc lợi công cộng của tập thể cán bộ
công nhân viên trong công ty; đóng góp các quỹ phúc lợi công cộng; trợ
cấp khó khăn thường xuyên, đột suất cho cán bộ công nhân viên của
công ty.
∗ Quỹ khen thưởng được dùng để thưởng về quản lý tài chính,
thưởng cho tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc thực hiện nhiệm vụ
được giao, thưởng cho cá nhân, đơn vị ngoài công ty có quan hệ hợp
đồng kinh tế đã hoàn thành với công ty.
♣ Cuối cùng là quỹ trợ cấp mất việc làm cho cán bộ công nhân của công
ty: Được trích từ 10% lợi nhuận của công ty sau khi đã trích hết các quỹ trên
đây.
2. Tài sản và thiết bị công nghệ:
Công ty Điện tử Đống Đa trụ sở chính tại 55-Nguyễn Chí Thanh - Đống Đa-
Hà Nội với tổng diện tích trên 3000 m
2
gồm 2 phân xưởng lắp ráp và các phòng
ban. Các trang thiết bị máy móc dây truyền lắp ráp của công ty đều nhập từ
Nhật Bản và Hàn Quốc, giá trị dây truyền lắp ráp này chiếm tỉ trọng vốn cao.
Tài sản và thiết bị máy móc năm 2001
THIẾT BỊ, MÁY MÓC ĐƠN VỊ TÍNH THÀNH TIỀN
Nhà văn phòng, nhà sản
xuất
USD 475290
Máy móc thiết bị phục
vụ sản xuất
USD 400000
Phương tiện vận tải đi lại USD 180888
Thiết bị văn phòng USD 100000
TỔNG CỘNG
USD 1156178
Thiết bị, máy móc Đơn vị tính Th nh à
tiền
1.Nh và ăn phòng, nh sà ản xuất USD
475290
2. Máy móc thiết bị USD 400000
phục vụ sản xuất
3.Phương tiện vận tải đi lại USD 180888
4.Thiết bị văn phòng USD 100000
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán năm 2001)
Tivi là mặt hàng rất tinh xảo, chứa đựng nhiều hàm lượng khoa học. Do
đó, nó đòi hỏi dây truyền công nghệ sản xuất tiên tiến và hiện đại. Công ty đã
nhập khẩu một số máy móc thiết bị dây truyền lắp ráp hiện đại của Nhật Bản và
Hàn Quốc đạt sản lượng 75000 sản phẩm/ năm. Các dây truyền được thiết kế
hoạt động điều khiển theo kiểu logic có thể lập trình được. Muốn thay đổi hoạt
động của dây truyền và muốn thay đổi chủng loại sản phẩm chỉ việc lập trình
và xử lý qua bộ xử lý vi mạch trung tâm thông qua công nghệ lắp ráp. Trong hệ
thống dây truyền công nghệ thì thiết bị điện tử đo kiểm là phần rất quan trọng,
giá trị thiết bị đo kiểm chiếm tới 50% tổng giá trị thiết bị đầu tư. Trước đây,
công ty có dây truyền lắp ráp tivi theo dạng IKD, trong đó:
SKD: Sản phẩm được lắp ráp từ 100% chi tiết ngoại nhập là các linh kiện
rời.
IKD: Sản phẩm lắp ráp từ bộ linh kiện ngoại nhập và có những chi tiết
được sản xuất trong nước tối thiểu là 10% giá trị CIP (theo bộ hướng dẫn
incoterms) bộ linh kiện nhập khẩu.
Để hiểu rõ hơn quy trình lắp ráp tivi của công ty, chúng ta có thể khái quát hoá
theo sơ đồ sau:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét