Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Phân tích hoạt động kinh doanh của CTCP Dược phẩm và vật tư y tế Lạng Sơn giai đoạn 1999-2003

Theo niên giám thống kê y tế & tổng kết công tác dược năm 2003, tiền
thuốc bình quân đầu người được nêu trong bảng sau:
Bảng 1.2 :Tiền thuốc bình quân(TTBQ) & tổng sản phẩm quốc nội qua
các năm
Năm
Chỉ tiêu
1999 2000 2001 2002 2003
TTBQ/người/năm(USD) 5,0 5,4 6,0 6,7 7,6
GDP bq/người/năm(TriệuVND) 5239,8 5716,6 6157,3 6705,0 7384,3
Bảng trên cho thấy rằng, tuy TTBQ/người /năm có sự gia tăng đáng kể
qua các năm, song mức độ tiêu thụ thuốc của nhân dân ta còn vào loại thấp so
với các nước trong khu vực & các nước phát triển khác (Mức bình quân trên thế
giới 40USD/người/năm, các nước đang phát triển là 10USD). Mức gia tăng tiền
thuốc bình quân/người/năm còn chậm và không đồng đều so với mức tăng GDP
hàng năm.
Nguồn cung ứng thuốc chính cho thị trường thuốc Việt Nam là nhập
khẩu và sản xuất trong nước.Tỷ trọng thuốc sản xuất trong nước so với thuốc
nhập khẩu không còn chênh lệch quá lớn, tuy nhiên thuốc nhập khẩu vẫn còn
chiếm ưu thế.
+ Nguồn sản xuất trong nước:
Một vài năm trở lại đây, thuốc nội đã dần tìm được chỗ đứng tại thị
trường trong nước. Các doanh nghiệp Dược Việt Nam đã từng bước tìm
được hướng đi cho mình, phát triển sản xuất trong nước, thu hẹp thị phần
của thuốc ngoại nhập trên thị trường Việt Nam.
Bảng 1.3 :Tỷ trọng thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu
Chỉ tiêu Dân số
(1000
Thành phẩm nhập khẩu
Tiền
thuốc
Tỷ trọng(%)

5
Trị giá
(1000 USD)
Bình
quân(USD)
Thuốc
nhập
khẩu
Thuốc
trong
nước
1999 76597 314897 3,4 5,0 67,0 33,0
2000 77685 258194 3,7 5,4 68,0 32,0
2001 78000 286720 4,4 6,0 65,0 35,0
2002 78685 343503 4,4 6,7 61,9 38,1
2003 79398 366821 4,6 7,6 57,1 39,7
Tuy nhiên có thể thấy rằng, mặc dù ngành Dược Việt Nam đã có sự cố gắng
phát huy nội lực, nhưng thuốc nội vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu điều
trị trong nước, nguồn thuốc chủ yếu phục vụ nhu cầu vẫn là thuốc ngoại nhập.
+ Nguồn nhập khẩu:
Hiện nay có khá nhiều công ty tham gia xuất nhập khẩu dược phẩm, coi
đây là lĩnh vực kinh doanh thu lời chủ yếu cho công ty. Vẫn có sự chênh lệch
lớn giữa giá trị thuốc ngoại nhập và thuốc xuất khẩu.

6
Bảng 1.4 : Trị giá thuốc nhập và xuất khẩu : ĐV Triệu USD
Số
lượng
Tổng trị
giá thuốc
xuất và
nhập
Trị giá Chênh lệch
giữa nhập
khẩu và
xuất khẩu
Tăng
trưởng
chênh
lệch so
Tỷ lệ Xuất
khẩu/Tổng
giá trị Xuất
nhập khẩu
Nhập
khẩu
Xuất
khẩu
1999 372.678 361.250 11428 349822 100 3,1
2000 418.400 397.935 20465 377470 107,9 4,9
2001 431.260 417.631 13629 404002 115,5 3,2
2002 469.016 457.128 11888 445240 127,3 2,5
2003 463871 451352 12519 438833 125,5 2,7
Có thể thấy rằng, tỷ trọng của thuốc xuất khẩu so với tổng giá trị thuốc
xuất và nhập khẩu chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Xuất khẩu không phải là thế mạnh của
chúng ta, nhưng cần thiết phải đầu tư phát triển theo hướng xuất khẩu để tăng
vị thế của ngành Dược Việt Nam và thu nhiều ngoại tệ về cho đất nước. Giá trị
thuốc nhập khẩu có xu hướng tăng, hàng năm chúng ta phải bỏ ra một lượng
lớn ngoại tệ cho việc nhập khẩu thuốc là một điều rất bất lợi đối với nền kinh tế
một nước nghèo như nước chúng ta. Như vậy phát huy nội lực của ngành Dược
nước nhà là hướng đi cần thiết và cấp thiết cần thực hiện không thể chậm chễ.
1.2.Một số nét về doanh nghiệp dược nhà nước & thực trạng cổ
phần hoá DNNN
1.2.1.Một số nét về DNDNN
Từ khi thực hiện chính sách mở cửa kinh tế đổi mới đất nước, nhiều
thành phần kinh tế đã ra đời và phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự vận động của
tiến trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, các DNDNN cũng từng bước
đổi mới và đạt được những kết quả bước đầu khả quan, đóng góp vai trò quan
trọng trong tiến trình phát triển ngành Dược Việt Nam.

7
Hiện nay, việc sản xuất thuốc trong nước đã được chú trọng hơn. Thuốc
nội xuất hiện ngày càng nhiều, đa dạng về chủng loại, mẫu mã phong phú, chất
lượng cũng ngày càng được nâng cao. Bên cạnh việc củng cố, mở rộng thị
trường trong nước, các DND Việt Nam đã quan tâm hơn đến thị trường nước
ngoài. Các cơ quan Trung ương và địa phương đã tạo điều kiện thúc đẩy các
DND mở rộng thị trường trong khu vực và thế giới.
Giá trị tổng sản lượng thuốc sản xuất trong nước có sự gia tăng hàng
năm.Theo nguồn niên giám thống kê y tế ta có :
Bảng 1.5 : Giá trị tổng sản lượng thuốc sản xuất trong nước qua các
năm :
Năm
Chỉ tiêu
1999 2000 2001 2002 2003
Giá trị tổng sản
lượng(Triệu đồng)
1.727.504 2.314.810 2.657.415 3.144.158 3.424.357
Tỷ lệ % so với
năm 1999
100,0 134,0 153,8 182,0 198,2
Đến năm 2003, thuốc sản xuất trong nước đạt 3424,357 tỷ VND, đáp ứng
được 39,7 % tiêu dùng thuốc trong nước, tăng 198,2 % so với năm 1999. Các
DND đã có sự đầu tư đổi mới trang thiết bị, nghiên cứu sản xuất các sản phẩm
mới. Tính đến cuối năm 2003 đã có 41 cơ sở sản xuất thuốc đạt GMP. Công tác
cung ứng, phân phối thuốc cũng từng bước được cải thiện, trong đó các
DNDNN giữ vai trò không thể thiếu. Đến ngày 31/12/2003 toàn quốc có hơn
37.700 quầy thuốc, trong đó có gần 5300 quầy thuộc DNNN, hơn 5500 quầy
thuộc DNNN đã cổ phần hoá, hơn 10500 quầy đại lý bán lẻ, trên 200 nhà thuốc
bệnh viện.
Số lượng các doanh nghiệp tính đến năm 2003 như sau :
Bảng 1.6 : Số lượng DND năm 2003 (Niên giám thống kê y tế):
Chỉ tiêu DNDNNTƯ DNDNN địa CTTNHH, Dự án đầu tư

8
phương CTCP,DNTN nước ngoài
SL 19 126 590 28
Từ khi Nhà nước xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, các
DNDNN bước sang cơ chế, môi trường hoạt động mới không tránh khỏi những
khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặc dù đã đạt được một số
thành tựu nhất định, nhưng khó khăn thách thức vẫn còn ở trước mắt, các
DNDNN cần có đường lối phát triển đúng đắn thích hợp với mỗi doanh nghiệp,
tận dụng tốt ưu thế của mình, phát huy tiềm lực của doanh nghiệp góp phần đưa
ngành Dược nước nhà phát triển lên một tầm cao mới.
1.2.2.Thực trạng cổ phần hoá DNNN và DNDNN
Cổ phần hoá DNNN là một hướng đi đúng, đang được các cấp,các ngành
triển khai một cách tích cực. Sau khi cổ phần hoá nhiều doanh nghiệp đã tạo
hướng đi mới cho mình, nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh đảm bảo
được mục tiêu phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Ta tìm hiểu một chút về loại hình doanh nghiệp CTCP.
-Khái quát về công ty cổ phần : CTCP là loại công ty đối vốn trong đó
các thành viên (cổ đông) có cổ phiếu & chỉ chịu trách nhiệm đến hết giá trị
những cổ phần mà mình có.
-Một số hình thức cổ phần hoá của DNNN:
• Giữ nguyên giá trị phần vốn nhà nước hiện có tại DN phát hành cổ phiếu,
thu hút thêm vốn để phát triển DN.
• Bán một phần giá trị giá trị vốn nhà nước hiện có tại DN
• Tách một bộ phận DN để cổ phần hoá
• Bán toàn bộ giá trị vốn nhà nước hiện có tại DN để chuyển thành CTCP
-Chủ trương của Đảng & nhà nước trong công tác cổ phần hoá các DNNN

9
Từ sau đại hội IV của Đảng, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới về
kinh tế xã hội trên khắp các mặt. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác
cổ phần hoá các DNNN, Đảng và Nhà nước ta đã có quy định cụ thể về vấn đề
này trong Nghị định 44(1998) và luật Doanh nghiệp(2000), nêu rõ chủ trương
cổ phần hoá một bộ phận DNNN thành CTCP. Hội nghị TƯ Đảng lần IV cũng
nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc tổ chức, sắp sếp lại ngành Dược, khai
thác các tiềm năng để xây dựng và phát triển ngành Dược nước ta. Năm 2003,
thực hiện sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố, của lãnh
đạo Bộ Y tế, các Bộ, ban ngành có liên quan, công tác cổ phần hoá DNDNN đã
có những tiến triển hơn những năm trước. Đến hết năm 2003, đã có 73
DNDNN hoàn thành cổ phần hoá.
-Số liệu về DNDNN đã cổ phần hoá:
Bảng 1.7: Số lượng DNDNN từ năm 1999-2003:
NĂM
CHỈ TIÊU
1999 2000 2001 2002 2003
Σ
DNDNN trong cả nước
145 145 145 145 145
DNDTƯ chuyển sang cổ
phần hoá
0 1 6 6 8
DNDNN địa phương
chuyển sang cổ phần hoá
16 25 30 52 65
Σ
CTCP chuyển từ
DNDNN
16 26 36 58 73
Tỷ lệ % DNDNN đã cổ
phần hoá
11,0 17,9 24,8 40,0 50,3
Để có thể huy động vốn của toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ,
thay đổi phương thức quản lý nhằm phát triển doanh nghiệp, thì cổ phần hoá là
hướng đi đúng đắn.Tuy nhiên có thể thấy rằng tiến trình thực hiện cổ phần hoá
các DNDNN còn chậm chễ, mặc dù năm 2003 công tác cổ phần hoá đã có bước
chuyển biến nhanh hơn.

10
1.3.Khái quát về CTCP Dược phẩm & vật tư y tế Lạng Sơn
-Quá trình hình thành & phát triển của công ty: là một doanh nghiệp nhà
nước, có lịch sử hình thành & phát triển tương đối lâu dài ; là doanh nghiệp mới
được cổ phần hoá từ 12/2002. Bước sang cơ chế quản lý mới không tránh khỏi
phải đương đầu với những khó khăn khi điều kiện kinh doanh không còn như
trước, Công ty đã có những cố gắng trong quản lý tổ chức các hoạt động kinh
doanh, từng bước đưa hoạt động của Công ty đi vào ổn định và kinh doanh có
lãi.
-Môi trường hoạt động :
• Nằm trong bối cảnh thị trường thuốc VN rất sôi động ;thị trường thuốc
phong phú, đa dạng về chủng loại .
• Đặc điểm địa bàn là một tỉnh miền núi, diện tích lớn, dân số không tập
trung, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ & chữa bệnh của nhân dân lớn
S=8305,21Km
2
Dân số=733974(người)
• Cạnh tranh trong địa bàn hoạt động : Nhà thuốc tư nhân, đại lý bán thuốc,
công ty TNHN, các chi nhánh của một số công ty lớn mở trên địa bàn là yếu
tố cạnh tranh của Công ty, làm thị phần của Công ty tại tỉnh nhà bị thu hẹp.
-Chức năng, nhiệm vụ của công ty :kinh doanh thuốc chữa bệnh, vật tư
dụng cụ y tế, sản xuất nhỏ một số sản phẩm thông thường, phục vụ nhu cầu
chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
1.4.Phương pháp luận về phân tích hoạt động kinh doanh & các chỉ tiêu
khảo sát
1.4.1.Lý luận về phân tích hoạt động kinh doanh
 Khái niệm :

11
Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn
bộ quá trình kết quả hoạt động ở doanh nghiệp, nhằm làm rõ chất lượng hoạt
động kinh doanh & các nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó
đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở
doanh nghiệp.
 Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh:
-Cho phép nhà doanh nghiệp nhìn nhận đúng về sức mạnh cũng như hạn chế
của doanh nghiệp mình, từ đó có thể xác định đúng đắn mục tiêu cùng với
chiến lược kinh doanh phù hợp.
-PTHĐKD là công cụ để phát triển những khả năng tiềm tàng & công cụ cải
tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh.
-Là cơ sở quan trọng để đưa ra các quyết định kinh doanh.
-Là công cụ quan trọng trong những chức năng quản trị có hiệu quả ở doanh
nghiệp.
-Là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro.
-Tài liệu PTHĐKD không chỉ cần thiết cho các nhà quản trị bên trong doanh
nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tượng bên ngoài khi họ có mối quan hệ về
nguồn lợi với doanh nghiệp, vì thông qua phân tích họ mới có quyết định đúng
đắn trong việc hợp tác đầu tư, cho vay với doanh nghiệp.
 Nội dung của PTHĐKD:
- Thông qua các chỉ tiêu kinh tế đánh giá quá trình hướng đến kết quả hoạt
động kinh doanh dưới tác động của các yếu tố ảnh hưởng.
- Thực hiện PTHĐKD cần thiết phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu kinh tế,
xác định mối quan hệ phụ thuộc của các nhân tố tác động đến chỉ tiêu.Xây
dựng mối liên hệ giữa các chỉ tiêu với nhau để phản ánh được tính đa dạng
của nội dung phân tích.

12
 Nhiệm vụ của phân tích HĐKD:
-Kiểm tra, đánh giá hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu kinh tế đã
xây dựng.
-Tìm các nhân tố ảnh hưởng của các chỉ tiêu & nguyên nhân gây ra các ảnh
hưởng đó.
-Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác tiềm năng & khắc phục những yếu kém
trong quá trình hoạt động kinh doanh.
-Xây dựng phương án kinh doanh căn cứ vào mục tiêu đã đề ra.
1.4.2.Các chỉ tiêu khảo sát
1. Tổ chức bộ máy và cơ cấu nhân lực.
Tổ chức bộ máy và cơ cấu nhân lực là một trong bốn nguồn lực quan trọng
quyết định hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Sự biến động của nhân lực
và sắp sếp nhân lực không hợp lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động
của mỗi người, ảnh hưởng hoạt động của doanh nghiệp.
2. Doanh số mua & cơ cấu nguồn mua.
Doanh số mua thể hiện năng lực luân chuyển hàng hoá của doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp thực hiện tốt kế hoạch mua hàng, đảm bảo đủ số lượng, kết
cấu chủng loại thì sẽ góp phần vào việc thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh
doanh và tăng hiệu quả kinh tế.
Nghiên cứu cơ cấu nguồn mua còn giúp xác định được nguồn hàng, đồng thời
tìm ra được dòng hàng “ nóng ” mang lại nhiều lợi nhuận.


13
Doanh số bán hàng(giá bán)
Hệ số tiêu thụ hàng mua =
Tổng doanh số mua(giá mua)
Chỉ tiêu này cho biết mối quan hệ giữa lượng hàng mua vào và bán ra.
• Chỉ tiêu này ≥ 1 và tăng lên thì đánh giá hàng trong kỳ là tốt, vì tồn kho cuối
kỳ giảm.
• Chỉ tiêu nay< 1 và giảm thì mua vào quá nhiều, bán ra chậm, hàng tồn kho
cuối kỳ tăng lên là không tốt.
3. Doanh số bán và tỷ lệ bán buôn, bán lẻ.
Doanh số bán ra có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Xem xét doanh số bán, tỷ lệ giữa bán buôn, bán lẻ để hiểu thực
trạng của doanh nghiệp từ đó đưa ra một tỷ lệ tối ưu nhằm khai thác hết thị
trường, đảm bảo lợi nhuận cao.
4. Tình hình sử dụng phí.
Phân tích tình hình sử dụng phí để nhận biết được tình hình quản lý và sử
dụng chi phí của doanh nghiệp có hợp lý hay không, có mang lại hiệu quả kinh
tế hay không ? Để từ đó đưa ra những chính sách, biện pháp nhằm quản lý và
sử dụng chi phí kinh doanh tốt hơn.
5. Phân tích vốn.
Qua phân tích sử dụng vốn,doanh nghiệp có thể khai thác tiềm năng sẵn có,
biết mình đang ở vị trí nào trong quá trình phát triển hay đang ở vị trí nào trong
quá trình cạnh tranh với đơn vị khác, từ đó có biện pháp tăng cường quản lý.
 Kết cấu nguồn vốn.
-Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.
-Nguồn vốn nợ phải trả.
+ Nợ ngắn hạn.

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét