Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Lợi thế cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam xuất khẩu trên thị trường thế giới và giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh

LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình công nghiệp hóa, sự chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu
không chỉ phản ánh sự tiến hóa của các hình thái nhu cầu phục vụ sản xuất và tiêu
dùng trong phạm vi từng quốc gia mà còn phản ánh sự phân bố lại năng lực sản
xuất trên phạm vi toàn cầu. Chính vì vậy, công nghiệp hóa hướng xuất khẩu là một
định hướng quan trọng đưa nền kinh tế đất nước đến thành công.
Phương hướng phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam thời kì 2000 -2020
là tiếp tục mở rộng hoạt động ngoại thương theo hướng đa dạng hóa, đa phương
hóa, tích cực hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới. Tuy nhiên khi chấp nhận
hòa nhập vào kinh tế khu vực và thế giới là chấp nhận xu hướng hợp tác trong cạnh
tranh gay gắt. Đây là thời cơ và cũng là thách thức, đòi hỏi cơ quan quản lí cũng
như doanh nghiệp phải có các định hướng phát triển thị trường xuất nhập khẩu và
các biện pháp phù hợp trong hoàn thiện chính sách ngoại thương, nhằm đẩy mạnh
xuất nhập khẩu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Xuất khẩu thể hiện nhu cầu về hàng nội của các quốc gia khác nhau đối với
quốc gia chủ thể và còn có thể chỉ ra được những lĩnh vực có thể chuyên môn hóa,
những công nghệ và tư liệu sản xuất trong nước còn thiếu để sản xuất ra sản phẩm
xuất khẩu đạt được chất lượng quốc tế.
Với mong muốn tìm hiểu thêm về thị trường xuất khẩu của Việt Nam, em đã
lựa chọn đề tài “ Lợi thế cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam xuất khẩu trên thị
trường thế giới và giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh “. Do kiến thức còn hạn
chế nên bài viết của em khó tránh khỏi những sai sót. Kính mong các thầy cô góp ý
để bài viết của em được tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
1
CHƯƠNG I
Tổng quan về những hoạt động xuất khẩu hàng hóa và lợi thế cạnh
tranh
của các doanh nghiệp Việt Nam
Trong những năm qua kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam thường đạt tốc độ
cao.Tình hình chung thời kì 1991- 1998 kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân
20,4%, cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế ( đạt khoảng 7,5%). Kim ngạch xuất
khẩu tính trên đầu người kinh doanh, năm 1991 mới đạt 30USD, năm 1995 đạt
73USD, năm 1997 là 119 USD, năm 1999 là 150 USD và đến 2000 đã lên 184
USD, vượt qua ngưỡng cửa có nền ngoại thương kém phát triển ( 170 USD ). Cơ
cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã có sự chuyển biến tích cực phù hợp theo
sự dịch chuyển cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa. Tỷ trọng các nhóm mặt hàng
đã qua chế biến tăng, tỷ trọng nhóm hàng thô và sơ chế giảm dần.
Bảng 1. Cơ cấu xuất khẩu thời kì 1991 - 1999 ( % )
Năm
Mặt hàng
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Công nghiệp
nặng và khoáng
sản
33,4 37 34 28,8 25,3 28,7 28 23,8 25
Công nghiệp
nhẹ và thủ công
nghiệp
14,4 13,5 17,6 23,1 28,4 29 36,7 35,8 36,8
Nông,lâm, thuỷ
sản

52,2 49,5 48,4 48,2 46,2 42,3 35,3 40,4 38,2
Nguồn : Niên giám thống kê 1998 và báo cáo của Bộ Thương mại
Số liệu bảng 1 cho thấy tỷ trọng nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản , khoáng
sản và hàng công nghiệp nặng bình quân từ 79% thời kì 1991 - 1995 xuống còn
2
64,6% thời kì 1996 - 1999, tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công
nghiệp từ 21% lên 34,4%. Điều đó phản ánh cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam đã
được cải thiện theo hướng tăng đầu tư chiều sâu và chuyên môn hóa theo phân công
lao động xã hội, nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu, phù hợp với tiến trình hội
nhập và phân công lao động quốc tế. Một số mặt hàng chủ lực có giá trị lớn và xu
hướng tăng trưởng ổn định, làm trụ cột cho chiến lược xuất khẩu của Việt Nam
trong hiện tại cũng như trong tương lai, đó là dầu thô, gạo, cà phê, cao su, hải sản,
dệt may, giày dép và than đá.
Thị trường xuất khẩu của nước ta đã chuyển biến kịp thời và không ngừng
được mở rộng. Từ năm 1991, sau thị trường truyền thống là Liên Xô cũ và các
nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, Châu á là thị trường xuất khẩu chính của
nước ta, chiếm trên 60% tổng kim ngạch. Tỷ trọng xuất khẩu sang các khu vực Âu -
Mỹ đều tăng khá nhanh, nhất là thị trường các nước EU và Mỹ. Tỷ trọng thị trường
Tây Âu tăng 6% năm 1991 lên 24% năm 1999, còn thị trường Mỹ tăng từ 0,3 %
năm 1991 lên 5,3% năm 1999. Sự chuyển dịch cơ cấu thị trường trên mang tính tích
cực và phù hợp với chiến lược đa phương hóa thị trường, đa dạng hóa mặt hàng của
ta. Điều này cho thấy khả năng tham gia thị trường thế giới của ta tăng lên.
3
CHƯƠNG II
Thuận lợi và khó khăn đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt
Nam
trên thị trường thế giới
1. Thuận lợi :
Thành quả 15 năm đổi mới nền kinh tế đã đưa thế và lực của nước ta lên một
tầm cao mới, trong xu thế toàn cầu hóa khu vực thành một xu hướng tất yếu thúc
đẩy hầu hết các quốc gia mở rộng thị trường bằng cách giảm bớt, thậm chí xóa bỏ
hàng rào thuế quan và phi thuế quan, chuyển dịch một cách thông thoáng hàng hóa,
vốn đầu tư, tiền tệ, dịch vụ, lao động giữa các quốc gia với quy mô ngày càng lớn,
hình thành vô số tổ chức kinh tế, tài chính mang tính toàn cầu và khu vực, ký kết
nhiều hiệp định song phương đa phương, hàng trăm công ước kinh tế quốc tế, phát
triển nhiều tập đoàn xuyên quốc gia Khu vực hóa tập hợp những quốc gia trong
từng khu vực với những mục đích đa dạng, hình thức phong phú. Khu vực hóa góp
phần thúc đẩy tự do thương mại, đầu tư, dịch vụ trong phạm vi khu vực cũng như
giữa các khu vực, tạo lập những khu vực rộng lớn với một chính sách tài chính tiền
tệ, công nghệ, thị trường thống nhất, giúp cho các quốc gia thành viên tiết kiệm chi
phí, tạo môi trường kinh doanh có hiệu quả, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường
quốc tế.
Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với hơn 130 nước trên thế giới và nhiều tổ
chức kinh tế, tài chính quốc tế. Hàng hóa Việt Nam đã có mặt tại tất cả các nước
4
lớn như : Mỹ, EU, Nhật Bản và các trung tâm kinh tế lớn. Một số ngành sản xuất
phát triển với tốc độ cao, tạo được khối lượng lớn về sản phẩm hàng hóa chất lượng
cao, ổn định, giá thành hạ, có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Cơ chế chính
sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu ngày càng được thông thoáng, tạo môi trường pháp lí
thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.
Thị trường xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam như : dầu thô, hàng
dệt may, thuỷ sản, gạo, cà phê, than đá, cao su chủ yếu tập trung ở các thị trường
như khu vực Châu á - Thái Bình Dương chiếm 57,4%, khu vực Âu - Mỹ chiếm
37%, khu vực Châu Phi chiếm khoảng 4,6%.
Một sự kiện quan trọng đối với thị trường xuất khẩu của Việt Nam là hiệp
định thương mại Việt - Mỹ đã được kí kết mà hạ nghị viện - thượng nghị viện Mỹ
vừa thông qua, mở ra một cơ hội to lớn về giao lưu buôn bán thương mại giữa hai
nước. Thị trường Mỹ là một thị trường lớn được đánh giá là thị trường tiêu thụ lớn
nhất thế giới. Các nhóm hàng mà Việt Nam có thể xuất khẩu sang Mỹ là : chè, cà
phê, hải sản chế biến và hàng dệt may. Ngoài những mặt hàng trên, Việt Nam có
những mặt hàng thế mạnh như : dầu thô,cao su, hoa quả nhiệt đới, hàng thủ công
mỹ nghệ đều có thể xuất khẩu sang Mỹ. Những thành quả to lớn về đối nội, đối
ngoại của nước ta và những diễn biến trên thị trường đã tạo nhiều thuận lợi để nước
ta mở rộng kinh tế đối ngoại, làm cho kinh tế đối ngoại nói chung và xuất khẩu nói
riêng trở thành đòn bẩy để thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế.
2. Khó khăn :
Mặc dù thành quả của 15 năm đổi mới đã làm cho bộ mặt kinh tế nước ta khác
xa hơn trước, nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận một thực tế là nước ta là một
nước kém phát triển. Thách thức gay gắt nhất là nguy cơ tụt hậu về kinh tế ngày
càng xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới, do phát triển của nước ta
quá thấp, lại phải đối phó cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế.
5
Hàng xuất khẩu của nước ta đang phải cạnh tranh gay gắt với các khu vực như
Thái Lan, Indonesia, Malaysia đặc biệt là Trung Quốc -là một thành viên của tổ
chức thương mại thế giới WTO đủ tạo ra một lợi thế rất lớn cho hàng Trung Quốc
cạnh tranh chiếm thị phần các thị trường thế giới. Việc Trung Quốc ra nhập WTO
là một cản trở rất lớn cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập thị trường thế giới, vì
những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam ra thị trường thế giới cũng là
những thế mạnh của Trung Quốc.
Mỹ và phương tây tiếp tục thực hiện mưu toan “diễn biến hòa bình” ở Việt
Nam, gây áp lực với ta về vấn đề dân chủ, nhân quyền. Chính sách hai mặt của
Trung Quốc đối với Việt Nam chưa hề thay đổi, hành động lấn chiếm lãnh thổ của
ta, đặc biệt là trên biển, đặt ta trong tình trạng luôn luôn phải cảnh giác. Đối phó
với sức uy hiếp ngày càng tăng, cuộc chạy đua trong khu vực Châu á - Thái Bình
Dương diễn ra hết sức phức tạp, đe doạ an ninh chủ quyền lãnh thổ nước ta buộc
chúng ta phải hết sức coi trọng việc củng cố và tăng cường khả năng quốc phòng.
Bên cạnh đó nền kinh tế của chúng ta còn nhiều yếu kém, đội ngũ cán bộ làm
công tác đối ngoại vừa thiếu lại vừa yếu, tổ chức bộ máy kinh tế kém hiệu quả đã
ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế đối ngoại.
3. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam :
3.1. Dầu thô
Trong những năm gần đây mặt hàng dầu thô luôn luôn dẫn đầu trong kim ngạch
hàng hóa của Việt Nam, thường đóng góp 15- 20% kim ngạch xuất khẩu. Những
nước xuất khẩu dầu thô chủ yếu của Việt Nam là Nhật Bản, Singapore và Trung
Quốc, trong đó Nhật Bản là bạn hàng lớn chiếm khoảng 70%. Sau Nhật Bản là
Singapore chiếm khoảng 20% và Trung Quốc chiếm khoảng 5- 10%. Trong những
năm tới thị trường xuất khẩu chính vẫn là ba nước trên, ngoài ra còn có thị trường
Hoa Kì và Australia.
3.2. Thuỷ sản
6
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mù Đông Nam Á, có bờ biển dài 3260 km với
112 cửa sông, Việt Nam có điều kiện rất thuận lợi để phát triển ngành khai thác
nuôi trồng thuỷ hải sản xuất khẩu. Hiện nay Việt Nam đứng thứ 29 thế giới về xuất
khẩu thuỷ sản, xuất khẩu sang 64 nước. Năm 2000 thuỷ sản Việt Nam có một bước
phát triển nhanh chóng, kim ngạch đạt 1,475 tỷ USD tăng 504 triệu USD so với
1999. Thuỷ sản Việt Nam có giá trị cao, được thế giới ưa chuộng, các mặt hàng
chính là hàng khô, cá đông lạnh, tôm động lạnh. Tuy nhiên năm vừa qua, việc Hoa
Kì kiện Việt Nam bán phá giá một số mặt hàng thuỷ sản đã gây ảnh hưởng không
nhỏ đến thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
3.3. Gạo
Việt Nam đứng thứ 3 trên thế giới về xuất khẩu gạo. Gạo là một trong 10 mặt
hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu có lúc lên đến hơn 1
tỷ USD. Xuất khẩu gạo nước ta từ chỗ thiếu hụt đến có dư thừa, thành tựu đó cần
được giữ vững và nâng lên tầm cao mới trong điều kiện Việt Nam là một quốc gia
xuất khẩu lương thực đứng nhất nhì thế giới, đang trên bước công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
3.4. Cà phê
Trong những năm trước đây, xuất khẩu cà phê của Việt Nam chỉ đứng ở vị trí
thấp, hàng năm xuất khẩu khoảng 5000 -6000 tấn. Ngày nay cà phê Việt Nam đang
trực tiếp xuất khẩu sang 50 nước với khối lượng lớn đứng thứ 4 thế giới. Kim
ngạch xuất khẩu có năm đạt xấp xỉ 594 triệu USD. Tuy nhiên, tình hình diễn biến
phức tạp của thị trường với sự cạnh tranh của nhiều nước, ngành cà phê còn non trẻ
của Việt Nam cần xác định cho mình phương hướng sản xuất kinh doanh đúng đắn.
7
CHƯƠNG III
Một số giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh
1. Tạo khung pháp lý thuận lợi cho hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường
nước ngoài. Ký kết và rà soát để đàm phán thương mại song phương, đa phương,
đàm phán để tiến tới thương mại cân bằng với thị trường mà ta thường xuyên nhập
siêu, đàm phán để thống nhất hóa các tiêu chuẩn về đo lường, về kỹ thuật và nới
lỏng các hàng rào phi thuế quan.
2. Tăng cường các biện pháp thâm nhập thị trường cho hàng xuất khẩu. Các
doanh nghiệp cần phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thông
qua nâng cao chất lượng hàng hóa, mẫu mã, bao bì phù hợp với thị hiếu tập quán
tong thị trường và đội ngũ cán bộ ngoại thương có năng lực, xây dựng chiến lược
phát triển cho từng mặt hàng chủ lực xuất khẩu trong đó có chiến lược về thị
trường, đảm bảo chữ “tín” trong kinh doanh.
3. Nâng cao trách nhiệm và năng lực của cơ quan và tổ chức làm công tác thị
trường nước ngoài. Nâng cao năng lực cán bộ và đổi mới lề lối làm việc, gắn hoạt
động của các đơn vị này với các doanh nghiệp vì sự tăng trưởng xuất khẩu.
4. Hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại. Hỗ trợ
và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ra nước ngoài, để thâm nhập thị trường tiếp
cận cơ hội xuất khẩu, phát triển kinh doanh.
5. Xây dựng đội ngũ cán bộ và doanh nghiệp ngoại thương hùng mạnh. Xây
dựng một đội ngũ có khả năng để tìm hiểu một cách rõ ràng, chính xác và kịp thời
nhu cầu của thị trường quốc tế. Đồng thời phải nắm bắt được chính xác mọi thông
8
tin về sự thay đổi nhu cầu và giá cả thị trường, những nguyên nhân gây nên sự thay
đổi đó.
6. Tổ chức tốt việc thu nhập, xử lý và cung cấp thương mại cho các doanh
nghiệp. Ngoài việc cung cấp thông tin theo phương thức hỗ trợ của nhà nước cho
các doanh nghiệp, cần phải thực hiện thương mại hóa các thông tin và các áp dụng
của phương thức linh hoạt khác nhằm đáp ứng nhu cầu cá thể, kịp thời của doanh
nghiệp.
7. Sớm xây dựng và ban hành cơ chế công tác thị trường ngoài nước. Xác định
rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan của trung ương cũng như của
địa phương và trách nhiệm của doanh nghiệp.
9
KẾT LUẬN
Trong quá trình hội nhập và mở cửa của nền kinh tế Việt Nam trong những năm
vừa qua đã không ngừng thúc đẩy và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa. Việt
Nam từ một nước xuất khẩu kém trên thế giới đã vượt qua ngưỡng cửa của nước có
thị trường xuất khẩu kém. Cơ cấu thị trường và cơ cấu hàng hóa xuất khẩu chuyển
biến theo chiều hướng có lợi, tỉ trọng xuất khẩu hàng hóa qua chế biến tăng dần, tỉ
trọng xuất khẩu hàng hóa thô và sơ chế giảm dần. Có được những thành quả đó là
nhờ sự nỗ lực không ngừng của nhà nước cũng như các doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường.
Tuy nhiên so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia thì
tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam còn rất nhỏ bé. Vì vậy đòi hỏi nhà nước
cũng như các doanh nghiệp phải nỗ lực không ngừng trong việc tìm kiếm thị trường
xuất khẩu để tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta ngày càng tăng cao.
10
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tạp chí phát triển kinh tế
2. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu
3. Niên giám thống kê 1998, 2000
4. Chiến lược phát triển xuất khẩu 2001 - 2010
11

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét