Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

SKKN Tập đọc 4

Phng phỏp rốn c cho hc sinh lp 4, 5 lethuythiep@gmail.com
Đặt vấn đề
I. Cơ sở lý luận
` Tập đọc là một môn học có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các
môn học ở Tiểu học. Biết đọc là có thêm công cụ mới để học tập, để giao tiếp.
Đây là một công cụ mà chỉ ngời biết chữ mới có. Trong môn Tiếng Việt thì phân
môn Tập đọc có khả năng thực hiện tốt các nhiệm vụ của môn Tiếng Việt đề ra
đó là: Trau dồi kiến thức ngôn ngữ, kiến thức văn học, kiến thức đời sống, rèn
luyện kỹ năng đọc, nói, viết và đặc biệt nó còn góp phần không nhỏ vào việc
giáo dục tình cảm, mĩ cảm và phát triển năng lực t duy của học sinh. Có thể nói
thiếu phân môn Tập đọc mà chỉ có phân môn Chính tả, Luyện từ và câu, Tập
làm văn, Tập viếtthì nhiệm vụ của môn Tiếng Việt khó có thể thực hiện đợc.
Tóm lại, Tập đọc là một phân môn rất quan trọng trong chơng trình
Tiếng Việt ở Tiểu học. Dạy tốt phân môn này không những rèn luyện cho học
sinh kĩ năng đọc mà còn phát triển ở các em vốn từ ngữ phong phú, tạo điều
kiện để các em học tốt các phân môn khác ( Tập viết, Chính tả, Luyện từ và
câu, Tập làm văn.). Hơn thế nữa, dạy tốt phân môn Tập đọc sẽ giúp các em
có đợc một phơng tiện để học tập các môn học khác nh Toán, Đạo đức, Tự nhiên
và x hội, Âm nhạc, Mĩ thuật.đã ợc tốt hơn. Do vậy việc suy nghĩ, tìm chọn
những biện pháp hữu hiệu nhất góp phần nâng cao chất lợng giờ dạy của phân
môn Tập đọc là vô cùng cần thiết.
II. Cơ sở thực tiễn
Nh trên ta đ khẳng định phân môn Tập đọc có một vị trí đặc biệt quanã
trọng trong chơng trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Tuy nhiên việc dạy Tập đọc
ở Tiểu học nói chung và ở khối 4, khối 5 nói riêng cũng còn có những hạn chế,
thiếu sót; do vậy mà chất lợng giảng dạy phân môn Tập đọc cha cao.
Qua việc điều tra khả năng tập đọc văn bản của học sinh lớp tôi phụ
trách ( 4A ), ở tuần đầu tiên của năm học cho phép tôi đợc phép nêu ra kết quả
điều tra cụ thể nh sau:
1, Đọc ê a, ngắc ngứ ( tức là đọc rời vụn ra từng tiếng, sau mỗi tiếng lại
nghỉ kéo dài, không phân biệt đợc từ trong câu, hoặc có khi gặp vần khó các em
dừng lại ở giữa câu để đánh vần ) tỷ lệ mắc loại lỗi này khoảng 3 / 36 em
2, Đọc liến thoắng: có một số em lầm tởng rằng đọc thật nhanh mới là giỏi
vì vậy các em đọc liền một thôi từ đầu đến cuối, tỷ lệ loại lỗi này khoảng 4 / 36
em.
3, Đọc sai những tiếng, từ có phụ âm hay nhầm lẫn nh l n, tr ch, s x, r
d gi loại lỗi này khá phổ biến chiếm 25/ 36 em.
4, Đọc lên xuống giọng tuỳ tiện, hiện tợng này chiếm khoảng 13 / 36 em.
5, Đọc giọng đều đều: Khác hẳn với những em đọc nhát gừng, đọc liến
thoắng, các em này đọc với tốc độ vừa phải, biết ngắt nghỉ đúng dấu câu, nhng
1
Phng phỏp rốn c cho hc sinh lp 4, 5 lethuythiep@gmail.com
toàn bài không biết nhấn vào những từ quan trọng, không phân biệt đợc các
loại câu, giọng đều đều buồn tẻ, không thể hiện đợc nội dung t tởng, và ý định
của ngời viết ( không đọc diễn cảm đợc) loại lỗi khá phổ biến khoảng 23 /36 em.
* Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến khả năng đọc của học sinh còn hạn chế
nh vậy?
Qua nghiên cứu điều tra cho phép tôi đợc nêu ra hai nguyên nhân chính sau
đây:
- Trong giờ tập đọc, giáo viên còn xem nhẹ khâu luyện đọc cho học sinh, do
vậy phần luyện đọc mới chỉ đợc giáo viên tiến hành một cách máy móc, hình
thức nên dẫn đến hậu quả học sinh đọc cha tốt, còn đọc diễn cảm thì càng kém.
Phải nói rằng nguồn gốc của nguyên nhân này phần lớn do giáo viên còn lúng
túng trong phơng pháp rèn đọc cho học sinh, đồng thời rèn đọc cho học sinh cha
đến nơi đến chốn.
- Giáo viên đọc mẫu không tốt, thiếu tác dụng làm mẫu và cha kích thích đ-
ợc học sinh cố gắng đọc theo theo thầy
Giải quyết vấn đề.
I. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm

Nh chúng ta đ biết, trong một giờ tập đọc ngã ời giáo viên cần phải thực
hiện các hoạt động dạy học để đạt đợc những yêu cầu cơ bản nh sau:
Hớng dẫn học sinh đọc đúng, đọc hiểu, đọc hay một văn bản. Do vậy để
[nâng cao chất lợng tập đọc của học sinh, qua nhiều lần nghiên cứu tìm chọn
biện pháp rèn đọc và đ áp dụng những biện pháp đó vào thực tế giảng dạy, tôiã
đ có một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 4, lớp 5. Sau đây,ã
tôi xin đợc trình bày nội dung kinh nghiệm của mình Kinh nghiệm có tên gọi:
Phơng pháp rèn đọc cho học sinh lớp 4 5
Trong kinh nghiệm này, tôi xin đợc trình bày các biện pháp để rèn đọc
đúng, đọc hay (đọc diễn cảm) một văn bản cho học sinh lớp 4, lớp 5.
II. Những biện pháp, giải pháp đ thực hiệnã
1, Khắc phục tình trạng đọc ê a ngắc ngứ.
Nh chúng ta đ biết chữ Tiếng Việt của chúng ta viết rời ra từng âm tiếtã
chứ không phải viết liền từng từ nh chữ một số nớc khác (Anh, Nga, Pháp )
nhng khi đọc ta lại không đọc rời rạc từng âm tiết một mà phải đọc theo từng
cụm từ.
Ví dụ: Chị Nhà Trò đã bé nhỏ lại gầy yếu quá, ngời bự những phấn nh
mới lột. Chị mặc áo thâm dài đôi chỗ chấm điểm vàng, hai cánh mỏng nh cánh
bớm non lại ngắn chùn chùn.
Nếu tính về mặt âm tiết thì 2 câu văn trên có 38 âm tiết, 31 từ, 9 cụm từ.
Khi học sinh tập đọc không để các em đọc rời rạc từng âm tiết nh kiểu đọc nhát
2
Phng phỏp rốn c cho hc sinh lp 4, 5 lethuythiep@gmail.com
gừng. Nếu để học sinh đọc theo từng từ thì vẫn cha diễn đạt đợc ý của câu văn
nên tôi phải hớng dẫn học sinh đọc theo cụm từ.
Chị Nhà Trò /đ bé nhỏ/ lại gầy yếu quá,/ ngã ời bự những phấn/ nh mới
lột./ Chị mặc áo thâm dài / đôi chỗ chấm điểm vàng,/ hai cánh mỏng nh cánh b-
ớm non / lại ngắn chùn chùn.
Cách hớng dẫn học sinh đọc theo cụm từ của tôi nh sau:
+ Tôi viết câu văn đó ra bảng phụ (đ chuẩn bị từ trã ớc )
+ Vì giai đoạn đầu lớp còn đọc yếu do vậy tôi đọc mẫu theo cách nghỉ nh
trên sao cho thật chuẩn. Sau đó tôi cho học sinh phát hiện những chỗ ngắt nghỉ
của thầy, nếu đúng tôi sẽ dùng phấn màu gạch chéo sau những từ cần ngắt.
Nếu học sinh cha phát hiện ra tôi có thể đọc mẫu lần thứ 2 những câu đó để
học sinh có thể nhận ra. Đồng thời tôi luôn củng cố kỹ năng đọc khi gặp dấu
chấm( phải nghỉ hơi), gặp dấu phẩy phải ngắt hơi. Khi đ nhận ra cách ngắtã
nghỉ sau cụm từ, sau dấu phẩy, sau dấu chấm tôi gọi một số học sinh khá đọc,
sau đó mới gọi những em hay đọc ê a ngắc ngứ lên đọc. Có thể là một lần, cũng
có thể là hai lần và phải tiến hành trong một thời gian. Tôi nghĩ hiện tợng đọc
ê a ngắc ngứ ở các em sẽ không còn xảy ra nữa.
Nhng lu ý khi còn những em đọc ê a ngắc ngứ thì phải sửa một cách triệt
để, có thể phải hớng đẫn từng cụm từ; giáo viên hoặc học sinh khá đọc mẫu
cụm từ thứ nhất sau đó cho học sinh đọc yếu đọc lại cụm từ đó rồi mới chuyển
sang cụm từ khác và cũng theo trình tự đúng nh vậy, cuối cùng cho học sinh
đọc lại cả đoạn văn đó.
+ Vậy khi học sinh đọc những câu văn dài, học sinh đ biết ngắt hơi sau cụmã
từ nhng ngắt hơi trong thời gian bao lâu thì cũng là điều cần phải hớng dẫn các
em. Thông thờng tôi hớng dẫn các em ngắt hơi sau cụm từ bằng thời gian ngắt
nghỉ khi gặp dấu phẩy hoặc dấu chấm phẩy và đơng nhiên thời gian đó phải ít
hơn thời gian nghỉ khi đọc gặp dấu chấm. Tránh tình trạng học sinh ngắt nghỉ
quá lâu làm cho ngời nghe cảm thấy rời rạc.
Số học sinh mắc loại lỗi đọc ê a, ngắc ngứ hoặc đọc liến thoắng không nhiều
nên chỉ sau 2 tuần kiên trì rèn đọc cho các em( gọi cho các em đọc nhiều hơn,
sửa cho các em kỹ hơn) thì loại lỗi này không còn trong lớp tôi nữa, các em đọc
đ khá trôi chảy, lã u loát.
2, Khắc phục tình trạng đọc sai những tiếng, từ có phụ âm đầu hay nhầm
lẫn l- n; s- x; ch- tr; d- r- gi
Những tiếng, những từ này thờng là những từ khó đối với học sinh cho
nên trong bớc rèn đọc đúng cho học sinh tôi cho các em đọc thầm toàn bài để tự
phát hiện ra những tiếng, từ mà học sinh cảm thấy khó có trong bài. Trong
thực tế nhiều khi giáo viên quá phụ thuộc vào sách hớng dẫn mà ép học sinh
phải chỉ ra những từ khó giống nh trong sách nêu ra là không nên bởi những
từ đó với học sinh có thể cha phải là khó. Song từ, tiếng khó đọc mà tự các em
phát hiện ra có thể là rất nhiều. Do vậy giáo viên cần kết hợp vơí việc quan sát
3
Phng phỏp rốn c cho hc sinh lp 4, 5 lethuythiep@gmail.com
theo dõi của mình trong tất cả các giờ học để thấy học sinh lớp mình hay nhầm
lẫn ở những cặp phụ âm nào, vần nào để tập trung rèn cho các em những tiếng
khó, từ khó ở các loại đó.
Vídụ: ở lớp tôi, ngay từ khi mới nhận lớp, qua theo dõi trong các tiết học
và trong khi giao tiếp với học sinh tôi thấy các em còn hay nhầm lẫn giữa các
cặp phụ âm sau:
Các cặp phụ âm hay lẫn l- n x- s Ch- tr d r - gi
Tỷ lệ mắc lỗi 80.5% 25% 50% 72.2%
Tôi thấy đây không chỉ là những lỗi của các em học sinh khi đọc, khi nói
mà cả nhân dân địa phơng nơi đây cũng hay nhầm lẫn nh vậy. Do vậy trong
một giờ học, một tuần học thậm chí cả một tháng ta cũng không thể sửa ngay
cho các em tất cả các loại lỗi đó. Những lỗi mà tỷ lệ học sinh mắc ít hơn và cũng
dễ sửa hơn tôi đặt ra cho mình kế hoạch sẽ tiến hành rèn cho các em liên tục
trong 8 tuần đầu( Đó là những cặp phụ âm s x, ch tr ). Còn những cặp phụ
âm khó sửa hơn( l n), tỷ lệ học sinh mắc lỗi nhiều hơn, tôi đặt ra cho mình kế
hoạch rèn cho các em liên tục trong 3 tháng nhng sau đó phải thờng xuyên rèn
trong khi nói và khi đọc, khi viết có nh thế mới trở thành thói quen nói đúng,
viết đúng đợc.
Cách tiến hành rèn đọc đúng cho học sinh của tôi nh sau:
+ Mục đích phần rèn đọc của bài Mẹ ốm ( sách Tiếng Việt lớp 4 tập 1) tôi sẽ
tập trung rèn học sinh đọc đúng những tiếng có phụ âm đầu l- n
+ Sau khi nghe giáo viên đọc mẫu lần 1, tôi yêu cầu cả lớp đọc thầm toàn bài
( kết hợp với việc dặn học sinh chuẩn bị bài ở nhà) tìm ra những từ, tiếng khó
đọc có trong bài. Sau đó cho học sinh nêu ra, tôi lần lợt ghi lên bảng theo các
dòng riêng biệt
Ví dụ: Học sinh tìm đợc các từ khó: hôm nay, lá trầu, nắng, lặn, nóng ran,
xóm làng, sáng nay.
Tôi sẽ ghi lên bảng nh sau
l: lá trầu, lặn, xóm làng
n: hôm nay, nắng, nóng ran, sáng nay
Hỏi : Trong dòng 1 con thấy những từ đó khó đọc ở phần nào?
(khó đọc ở phần phụ âm đầu: l); giáo viên ghi âm l trớc dòng 1 bằng phấn màu
Với dòng 2 tôi cũng hỏi nh vậy và ghi âm n trớc dòng 2.
Đối với những âm này, với học sinh của tôi, tôi phải hớng dẫn học sinh
cách phát âm thật cụ thể, chi tiết.
+ Tôi hớng dẫn các em cách phát âm phụ âm l nh sau:
4
Phng phỏp rốn c cho hc sinh lp 4, 5 lethuythiep@gmail.com
Phụ âm l là phụ âm tắc, khi phát âm phụ âm này, đầu lỡi cong lên tiếp
giáp với vòm lợi trên, luồng hơi bị cản lại nên phải len qua hai cạnh lỡi để thoát
ra ngoài, do vậy luồng hơi bật ra mạnh.
Giáo viên làm mẫu hai lần, sau đó cho học sinh khá phát âm, gọi học sinh
hay nhầm lẫn về phụ âm này tập phát âm. Lu ý nên cho các em phát âm cá
nhân để dễ phát hiện những em phát âm sai để sửa; tiếp theo tôi cho học sinh
đọc tiếng khó có chứa phụ âm l
Phụ âm n là phụ âm xát, khi phát âm phụ âm này mặt lỡi tiếp giáp với
vòm lợi trên, luồng hơi không bị lỡi cản lại nên thoát ra nhẹ nhàng hơn. Cách
tiến hành cũng nh hớng dẫn phát âm phụ âm l
Để học sinh có đợc thói quen phát âm đúng tôi yêu cầu học sinh phát âm
và đọc theo kiểu đối nhau: đó là l- n; lá trầu- nóng ran, xóm làng- nóng ran,
nắng- lặn
Đa ra cách rèn nh vậy là tôi muốn cho học sinh có phản ứng nhanh nhạy
để tìm ngay ra đợc cách đọc đúng những từ có chứa các cặp phụ âm hay nhầm
lẫn.
Nếu chỉ rèn nh vậy thì cũng cha đủ mà việc luyện đọc từ khó cần phải đợc
đặt trong văn cảnh, trong môi trờng ngôn ngữ thì học sinh đọc những từ đó mới
đúng hơn bởi nhiều khi đọc riêng từ học sinh có thể đọc đúng nhng khi đặt từ
đó vào trong câu văn, đoạn văn thì cha chắc học sinh đ đọc đúng. Chính vì thếã
mà sau khi rèn phát âm luyện đọc từ khó có chứa âm khó tôi lại phải yêu cầu
học sinh tìm những câu văn, câu thơ thậm chí đoạn văn, đoạn thơ có chứa từ
khó đó cho học sinh đọc vì mục đích của rèn đọc đúng là rèn phát âm đúng để
đọc đúng văn bản.
Một số đồng chí giáo viên có hỏi: Trong một giờ Tập đọc nếu chỉ tập trung
hớng dẫn đọc những từ có chứa phụ âm l- n thì những tiếng khó khác rèn vào
lúc nào?
Tôi khẳng định: Một cặp phụ âm hay nhầm lẫn l- n và nó đ trở thành cốã
tật không chỉ ở học sinh mà cả nhân dân đĩa phơng nếu trong một tiết Tập đọc
có chủ định rèn cho học sinh về cặp phụ âm đó mà không thực hiện kĩ càng nh
vậy thì không thể đạt đợc cái đích đ đặt ra. Còn những từ khó khác ta có thểã
hớng dẫn các em đọc từ đó theo trình tự: giáo viên hoặc học sinh khá đọc mẫu
sau đó gọi học sinh yếu kém đọc lại
Rèn cho học thói quen đọc đúng những từ có các phụ âm mà học sinh hay
nhầm lẫn là một việc làm không đơn giản. Bản thân một mình phân môn Tập
đọc cũng khó có thể giải quyết đợc. Do vậy, theo tôi trong tất cả các giờ học và
trong bất kỳ hoàn cảnh giao tiếp nào tôi và lực lợng nòng cốt của tôi gồm 20%
học sinh không mắc lỗi sẽ giúp các em sửa ngay, có nh thế mới giải quyết đợc
vấn đề. Với những cặp phụ âm còn lại tôi cũng tiến hành rèn cho học sinh lần
lợt theo từng bớc nh vậy. Đến nay, năm học đ tiến hành đã ợc gần 3 tháng thì
5
Phng phỏp rốn c cho hc sinh lp 4, 5 lethuythiep@gmail.com
mức độ sai những từ có phụ âm hay nhầm lẫn nh đ nêu ra ở trên đ giảm rõã ã
rệt
Các cặp phụ âm hay lẫn l- n x- s Ch- tr d r - gi
Tỷ lệ mắc lỗi 11.1% 5.5% 13.8% 11.1%
Từ kinh nghiệm của những năm học trớc, tôi tin tởng rằng trong hơn một
tháng của học kỳ 1 tôi sẽ giải quyết triệt để các lỗi còn lại
3. Khắc phục tình trạng đọc lên xuống giọng tuỳ tiện
Theo tôi, muốn khắc phục tình trạng lên xuống giọng tuỳ tiện thì giáo
viên phải hớng dẫn thật tốt cách đọc các kiểu câu:
Câu kể ở cuối câu có dấu chấm khi đọc thờng phải xuống giọng ở cuối câu.
Câu hỏi ở cuối câu có dấu chấm hỏi, khi đọc ta phải lên giọng ở cuối câu.
Câu kể có dấu chấm lửng khi đọc phải kéo dài giọng.
Câu cảm, câu cầu khiến ở cuối câu có dấu chấm than khi đọc cần phải lên
giọng ở cuối câu.
Ví dụ: Trong bài Chú Đất Nung ở sách Tiếng Việt lớp 4 tôi hớng dẫn
học sinh cách đọc các loại câu này nh sau:
+ Chép đoạn văn đó lên bảng phụ
+ Hỏi học sinh trong đoạn văn đó có những câu văn nào là câu hỏi, câu kể,
câu cảm, câu cầu khiến và cách đọc của từng loại câu này, giáo viên dùng phấn
mầu ghi ký hiệu lên giọng xuống giọng ở cuối mỗi loại câu
Ông Hòn Rấm cời bảo: (câu kể)
- Sao chú mày nhát thế ? ( câu hỏi). Đất có thể nung trong lửa cơ mà! ( câu
cảm)
Chú bé đất ngạc nhiên hỏi lại: ( câu kể )
- Nung ấy ạ? ( câu hỏi)
- Chứ sao? . Đ là ngã ời thì phải dám xông pha, làm đựoc nhiều việc có ích.
( câu kể)
Nghe thế, chú bé Đất Nung không thấy sợ nữa. ( câu kể ). Chú vui vẻ
bảo:( câu kể )
- Nào, nung thì nung! ( câu kể )
Từ đấy chú thành đất nung. ( câu kể )
Sau đó tôi hoặc học sinh khá đọc mẫu theo cách đọc đó rồi cho học sinh
nhất là những em yếu kém luyện đọc với số lợng từ 7 8 em. Việc làm này phải
đợc tiến hành thờng xuyên khi gặp những bài Tập đọc có các kiểu câu nh vậy,
có nh thế mới hình thành đợc thói quen đọc đúng. Sau khoảng thời gian 1
tháng số học sinh mắc lỗi này đ giảm chỉ còn 1/36 em.ã
4. H ớng dẫn học sinh đọc ngắt nhịp thơ
6
Phng phỏp rốn c cho hc sinh lp 4, 5 lethuythiep@gmail.com
Một số ngời lầm tởng hớng dẫn đọc ngắt nhịp trong thơ là hớng dẫn đọc
diễn cảm.
Không phải nh vậy, mà đó mới chỉ là cách đọc đúng trong thơ mà thôi.
Vậy muốn hớng dẫn học sinh đọc ngắt nhịp thơ đúng thì giáo viên phải nắm
vững cách đọc các thể thơ. Các bài thơ trong sách Tiếng Việt lớp 4, lớp 5 thờng
đợc viết ở thể thơ lục bát, song thất lục bát, và các thể thơ khác.
- Đọc thơ lục bát ngắt nhịp theo nhiều cách:
Câu 6 có thể ngắt theo nhịp 2 /2/2 4 / 2 2 / 4
Câu 8 có thể ngắt theo nhịp 2 / 2 /2 /2 4 /4 3 / 5 2 / 4 / 2
Thế nhng trong bài cũng có những câu hoặc những đoạn không ngắt theo
nhịp thông thờng thì giáo viên phải chọn những câu đó để hớng dẫn học sinh
cách ngắt nhịp.
Ví dụ: Trong bài Tập đọc Truyện cổ nớc mình là một bài thơ lục bát.
Thông thờng câu 6 ngắt theo nhịp 2 / 4; câu 8 ngắt theo nhịp 2 / 4/ 2 hoặc 4 / 4.
Thế nhng trong bài cũng có những câu phá lệ (có cách ngắt nhịp khác). Do vậy
ta phải đa những câu đó ra để hớng dẫn.
Đời cha ông / với đời tôi 3/3
Nh con sông / với chân trời đ xa 3/5ã
Ví dụ: Trong thơ 5 tiếng thông thờng ta ngắt theo nhịp 3/ 2 hoặc 2 / 3 nh-
ng cũng có những câu lại ngắt theo nhịp 1 / 4 hoặc 4 /1 thì ta cũng phải hớng
dẫn học sinh cách ngắt nhịp những câu này.
Ôi/ triệu triệu vì sao 1/ 4
Bừng bừng/ muôn ánh mắt 2/ 3
Trong thơ bảy chữ thông thờng ta ngắt theo nhịp 3/ 4( lẻ trớc, chẵn sau)
thế nhng cũng có câu lại có cách ngắt nhịp khác
Hát rằng: / Cá bạc biển Đông lặng 2/ 5
Gõ thuyền / đ có nhịp trăng cao 2/ 5ã
Sao mờ / kéo lới kịp trời sáng 2 /5
Do vậy tôi muốn nói khi hớng dẫn học sinh ngắt nhịp thơ thì giáo viên
cần phải cho học sinh nhận biết bài thơ đó đợc viết ở thể thơ nào? Cách ngắt
nhịp chung của toàn bài ra sao? Song cũng cần phải phát hiện ra những câu,
những đoạn có cách ngắt nhịp khác biệt trong bài để hớng dẫn học sinh. Thực
chất ngắt nhịp thơ cũng đợc dựa trên cơ sở ngắt nhịp theo cụm từ. Do vậy ngắt
nhịp thơ không đúng câu thơ sẽ trở nên tối nghĩa, mất hết ý vị còn đâu có thể
cảm nhận đợc nội dung của bài.
Làm tốt khâu rèn đọc đúng tức là ta đ tạo ra cơ sở ban đầu để giúp họcã
sinh hiểu đúng nội dung bài tập đọc và nh vậy mới có thể hớng dẫn học sinh
đọc diễm cảm đợc.
III/ Giải pháp rèn đọc diễn cảm
Chúng ta đều biết đọc diễn cảm khó hơn đọc bình thờng. Đọc bình thờng
chỉ đòi hỏi phát âm đúng, đọc lu loát, biết nghỉ đúng chỗ theo các dấu ngắt câu,
7
Phng phỏp rốn c cho hc sinh lp 4, 5 lethuythiep@gmail.com
biết lên, xuống giọng. Đọc diễn cảm đòi hỏi ngời đọc phải nắm chắc nội dung
từng đoạn, từng bài; tâm tình và lời nói của từng nhân vật để diễn tả cho đúng
tinh thần của câu văn, bài văn, tức là đi sâu vào bản chất của câu văn, bài văn.
Cho nên mục đích đọc diễn cảm là bộc lộ ra đợc cái bản chất của nội dung và
trên cơ sở đó muốn truyền đạt đúng những ý nghĩ và tình cảm của tác giả.
Muốn đọc diễn cảm tốt phải hiểu kỹ nội dung của bài Tập đọc và phải truyền
đạt tốt sự hiểu biết của mình tới ngời nghe. Học sinh đọc diễn cảm cha tốt là do
nguyên nhân: giáo viên cha giúp học sinh cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc và
nguyên nhân cũng không kém phần quan trọng là khả năng đọc mẫu của giáo
viên còn hạn chế.
Muốn đọc diễn cảm tốt, ta cần:
1. Giúp học sinh cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc. Muốn vậy cần phải chú ý:
a. Bám sát yêu cầu của bài Tập đọc
Yêu cầu của bài tập đọc phải đợc xác định từ khi soạn bài ở nhà
VD khi dạy bài Chợ tết tôi đ xác định yêu cầu của bài nhã sau:
+Yêu cầu về rèn đọc:
- Đọc đúng những tiếng, từ có phụ âm đầu l n , đọc lu loát toàn bài.
- Biết đọc diễn cảm bài thơ với giọng chậm r i nhẹ nhàng phù hợp với việc diễnã
tả bức tranh giàu màu sắc vui vẻ hạnh phúc của phiên chợ ngày tết.
+ Yêu cầu về hiểu: Cảm nhận và hiểu đợc vẻ đẹp của bài thơ bức tranh chợ tết
giầu màu sắc và vô cùng sinh động đ nói về cuộc sống vui vẻ hạnh phúc củaã
những ngời dân quê
+ Giáo dục về tình cảm, mỹ cảm: Giáo dục lòng yêu quê hơng đất nớc cho học
sinh( đây là yêu cầu toát ra từ bản thân bài tập đọc và cũng rất phù hợp với
học sinh).
Bám sát yêu cầu của bài tập đọc, song 3 yêu cầu ấy phải đợc toát ra từ
bản thân bài tập đọc và giáo viên phải vận dụng vào thực tế lớp mình giảng
dạy thì việc bám sát yêu cầu của bài tập đọc mới thực sự hiệu quả
b. Giảng từ và khai thác nghệ thuật .
@ Giảng từ: trong bài Tập đọc thờng có nhiều từ, vậy ta cần phải giảng những
từ nào ?
Qua kinh nghiệm về giảng dạy phân môn tập đọc tôi thấy có thể chia
những từ để giảng làm 3 loại: loại từ khó, loại từ gắn với chủ đề đang học và
loại từ chìa khoá (từ trung tâm)
Từ khó có thể là từ điạ phơng đợc tác giả đa vào bài, là loại từ Hán Việt, là
danh từ riêng. Loại từ này thờng có trong phần chú giải cho nên sau khi đọc
mẫu xong tôi cho học sinh đọc phần chú giải để học sinh hiểu ngay đợc những
từ này khi bắt đầu tiếp xúc với bài Tập đọc.
Từ chủ đề: Trong mỗi chủ đề Tập đọc có một số từ ngữ mà giáo viên cần lu ý
bởi đó là những từ làm toát lên chủ đề. Từ chủ đề cũng có khi là từ khó. Giáo
8
Phng phỏp rốn c cho hc sinh lp 4, 5 lethuythiep@gmail.com
viên có thể kết hợp giảng các từ chủ đề với các từ khó hoặc với các từ trung tâm
trong quá trình khai thác.
Từ trung tâm: Đây là những từ có sức nặng, giáo viên cần khai thác để làm
toát lên nội dung bài học.
Ta chia những từ cần giảng làm 3 loại nh vậy để dễ phân biệt còn trong
thực tế nhiều khi từ khó cũng là từ chủ đề hoặc từ trung tâm.
Vậy khi giảng từ ta có thể dùng những phơng pháp nào?
Những phơng pháp phổ biến là phơng pháp trực quan, liên hệ, so sánh,
phơng pháp định nghĩa, giảng giải.
Khi dùng phơng pháp trực quan, tôi áp dụng bằng nhiều hình thức: Trực
quan bằng giọng nói, giọng đọc, nét mặt, ánh mắt, dáng điệu, động tác, hình
mẫu, tranh ảnh vật thực. VD trong bài Ngời ăn xin khi giảng về từ nhìn
chằm chằm tôi có thể dùng ánh mắt của mình nhìn một cách chăm chú, lâu
không chớp mắt và có ý dò hỏi?
Trong bài Tập đọc khác tôi có thể dùng môi để giảng từ mấp máy, dùng
cách đi để giảng từ rón rén, dùng t thế để giảng từ lom khom, dùng giọng nói
để giảng từ sang sảng, oang oang, dùng chỉ màu để giảng từ sặc sỡ, dùng hình
mẫu để giảng từ nhà sàn, nhà trệt.
Phơng pháp trực quan là phơng pháp rất tốt để học sinh có thể hiểu và
nhớ lâu nghĩa của từ nhng phơng pháp này chỉ dùng để giảng từ cụ thể. Khi
gặp những từ trừu tợng nh độ trì, đa tình, đa mang, hữu nghị, khiêm tốn thì
rất khó dùng phơng pháp này. Do vậy ngoài phơng pháp này tôi còn sử dụng
nhiều phơng pháp khác.
Phơng pháp định nghĩa, giảng giải.
ở lớp 4, 5 nhận thức lý tính tổng quát của học sinh đ phát triển nênã
trong khi giảng từ cho học sinh hiểu tôi vẫn thờng dùng phơng pháp định
nghĩa hay giảng giải xen lẫn các phơng pháp khác
Ví dụ: Khi giảng từ quyến rũ tôi dùng phơng pháp giảng giải.
- Quyến rũ có nghĩa là có một sức lôi cuốn mạnh mẽ làm cho quyến luyến
không muốn rời xa.
- M nh liệt day dứt ý nói thôi thúc, day dứt, dai dẳng và mạnh mẽ.ã
Khi giảng về từ truyền thống tôi dùng phơng pháp định nghĩa.
Truyền thống là những phẩm chất tốt đẹp hoặc những điều tốt đẹp đợc
giữ gìn, phát triển và truyền từ đời này sang đời khác.
Ví dụ: Dân tộc ta có truyền thống yêu nớc nồng nàn.
Phơng pháp so sánh:
Khi giảng về từ lạnh tê tái tôi nêu lên một loạt các khái niệm lạnh lẽo,
lạnh buốt, lạnh giá để học sinh thấy đợc lạnh tê tái ở mức độ cao hơn. Mặt
khác tôi cho học sinh tìm từ trái nghĩa với từ lạnh tê tái là nóng hầm hập để
học sinh càng hiểu rõ hơn về ý nghĩa của từ này.
9
Phng phỏp rốn c cho hc sinh lp 4, 5 lethuythiep@gmail.com
@ Khai thác nghệ thuật
Theo tôi bài tập đọc là một thể thống nhất giữa hai mặt nội dung và nghệ
thuật, do vậy tôi nghĩ chúng ta phải thông qua việc khai thác nghệ thuật để
làm toát lên nội dung t tởng. Tôi thấy phần này trong khi dạy tập đọc vốn kiến
thức văn học mà học sinh tích luỹ đợc cha nhiều.
Có đồng chí hỏi: Khai thác nghệ thuật của một bài tập đọc là khai thác
những gì?
Theo tôi tuỳ từng bài mà chúng ta phải xem bài tập đọc ấy có những nét
gì nổi bật về nghệ thuật cần khai thác.
VD trong bài Chợ tết tôi giúp học sinh hiểu đợc nghệ thuật dùng từ
của tác giả khi miêu tả những ngời đến chợ tết, tác giả đ chọn tả những nétã
rất riêng của từng ngời đó là:
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon
Cô yếm thắm che môi c ời lặng lẽ
Ngời hai thôn gánh lợn chạy đi đầu
Vài cụ già chống gậy b ớc lon khom
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau
Bên cạnh cách dùng từ giầu sức gợi cảm nh vậy tác giả còn chọn tả những
màu sắc rất tơi rất trong sáng: trắng, đỏ, hồng, lam, xanh, biếc, thắm, vàng,
tía son. Ngay cả một màu đỏ cũng có nhiều cung bậc: hồng, đỏ, tía, thắm, son.
Với cách dùng từ nh vậy tác giả đ phác hoạ ra trã ớc mắt chúng ta bức
tranh chợ tết miền trung du giầu màu sắc và vô cùng sinh động. Qua đó ta
thấy đợc sinh hoạt nhộn nhịp của ngời dân quê vào dịp tết
Hoặc trong bài mùa thảo quả tôi tập trung khai thác điệp từ thơm và việc
sử dụng một loạt câu văn ngắnĩen lẫn với câu văn dài để làm nổi bật mùi thơm
đặc biệt của thảo quả
VD: Gió tây lớt thớt bay, qua rừng, quyến hơng thảo quả đi, rải theo triền
núi, đa hơng thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào các thôn xóm Chin San. Gió
thơm. Cây cỏ thơm. Đất trời thơm. Ngời đi từ rừng thảo quả về, hơng thơm
đậm, ủ ấp trong từng nếp áo nếp khăn.
VD: Trong bài Hoa học trò tôi lại khai thác vẻ đẹp của hoa phợng theo
trình tự thời gian: Lúc đầu màu hoa phợng là màu đỏ còn non, có ma hoa càng
tơi dịu. Dần dần số hoa tăng, màu hoa cũng đậm dần ròi hoà với mặt trời chói
lọi, màu phợng rực lên
Tuy nhiên vẫn phải kết hợp xen kẽ các hình thức nghẹ thuật khác nhau
nh: Khai thác nghệ thuật dùng từ, khai thác nghệ thuật viết câu văn, khai
thác nghệ thuật xây dựng bố cục bài văn có nh thế phần khai thác nội dung
bài mới đầy đủ. Song nói nh vậy cũng cha thật đầy đủ nếu ta không nhắc đến
10
Phng phỏp rốn c cho hc sinh lp 4, 5 lethuythiep@gmail.com
biện pháp khai thác biện pháp nghệ thuật tu từ. Qua thực tế nhiều năm giảng
dạy tôi thấy các biện pháp tu từ ở tiểu học cần tập trung khai thác là: Biên
pháp so sánh, điệp từ, nhân hoá.nếu khai thác tốt các biện pháp tu từ này
thì giúp ích rất nhiều trong việc hớng dẫn học sinh cảm thụ bài văn
Trong bài con chuồn chuồn nớc tôi lại khai thác nghệ thuật so sánh.
Bốn cái cánh mỏng nh giấy bóng. Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh nh
thuỷ tinh. Đó là hình ảnh so sánh rất đẹp giúp ngời nghe hình dung đợc rõ
hơn về đôi cánh của chuồn chuồn
Thân nhỏ và vàng nh màu vàng của nắng mùa thu. Bốn cánh khẽ rung
rung nh còn đang phân vân.
Cách so sánh này rất mới lạ: màu vàng của thân chuồn chuồn với màu
vàng của nắng mùa thu. So sánh độ rung của cánh với tâm trạng phân vân
của con ngời. Rõ ràng với cách so sánh ấy tác giả đ làm cho bài văn trở nênã
sinh động hơn, hấp dẫn ngời đọc hơn rất nhiều nhng đồng thời nó lại rất thực
giúp cho ngời đọc dễ hình dung vẻ đẹp đáng yêu của chú chuồn chuồn.
VD: Trong bài thơ Tre Việt Nam tôi tập trung khai thác việc sử dụng
điệp ngữ Qua đi, Mai sau để nhấn mạnh và khẳng định sức sống bất diệt
của những phẩm chất tốt đẹp của dân tộc Việt Nam qua hình tợng cây tre.
VD: Trong bài Dòng sông mặc áo tôi tập trung khai thác các biện pháp
nhân hoá thông qua các từ: mặc áo, điệu, thơ thẩn, nép, cờiđể giúp học sinh
thấy đợc nét đẹp dịu dàng của dòng sông quê hơng. Nét đẹp ấy mang đậm vẻ
duyên dáng của một ngời thiếu nữ
c, Giảng ý và liên hệ thực tế
Giảng ý: Qua kinh nghiệm giảng dạy tôi khảng định một điều: giảng từ
và giảng ý thờng phải gắn chặt với nhau. Ta phải giảng từ, khai thác hình ảnh
để làm toát lên ý của bài hay nói cách khác ta phải khai thác nghệ thuật để
làm toát lên nội dung.
VD: Trong bài Hạt gạo làng ta tác giả có viết:
Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sông Kinh Thầy
Có hơng sen thơm
Trong hồ nớc đầy
Có lời mẹ hát
Ngọt bùi hôm nay.
Hỏi: trong khổ thơ trên tác giả nêu lên hạt gạo quê hơng thơm ngon là
nhờ đâu? ( câu hỏi về nội dung)
Học sinh sẽ trả lời( nhờ có vị phù sa, có hơng sen thơm, có lời mẹ hát)
11
Phng phỏp rốn c cho hc sinh lp 4, 5 lethuythiep@gmail.com
Hỏi: trong khổ thơ đó từ nào đợc lặp lại nhiều lần? Lặp lại nh vậy để
nhằm mục đích gì?
( Từ có đợc lặp lại nhiều lần, để nhấn mạnh hơng vị thơm ngon của hạt
gạo quê hơng)
VD: cho học sinh đọc khổ thơ thứ 3 của bài Hạt gạo làng ta
Hạt gạo làng tamẹ em xuống cấy
Hỏi: Hạt gạo làng ta còn có gì đáng nhớ?
( Có b o tháng 7, có mã a tháng 3khó khăn do thiên nhiên gây ra)
Có giọt mồ hôi của mẹ rơi trong những ngày nắng nóng công sức vất vả
của mẹ đây là câu hỏi về nội dung
Tác giả dùng hình ảnh gì để diễn tả nỗi vất vả khó nhọc của ngời mẹ?
đây là câu hỏi về nghệ thuật
(Đó là: Cua ngoi lên bờ mẹ em xuống cấy). Sự đối lập giữa hoạt động của
con cua với hoạt động của mẹ đợc rõ thêm qua cặp từ trái nghĩa lên xuống để
càng giúp ta thấy rõ nỗi vất vả gian truân của mẹ cùng các bác x viên khi làmã
ra hạt gạo.
VD: Cho học sinh đọc khổ thơ cuối và hỏi câu cuối Hạt vàng làng ta ý
nói gì?
Câu hỏi nặng về giảng ý để toát lên nội dung bài.
(Hạt gạo rất quý vì đợc làm ra bởi công sức của biết bao ngời với bao thử
thách gay go quyết liệt. Hạt gạo xứng đáng đợc ví nh hạt vàng.)
Tóm lại trong quá trình giảng dạy những câu hỏi giảng ý thờng gắn với
những câu hỏi giảng từ và câu hỏi khai thác hình ảnh thành một hệ thống câu
hỏi dẫn dắt học sinh thâm nhập vào nội dung của bài để cảm nhận đợc cái hay
cái đẹp của bài văn từ đó học trò mới có cảm xúc thực sự và mới đọc hay bài
tập đọc đợc.
Liên hệ thực tế
Các bài tập đọc cung cấp cho học sinh những kiến thức phong phú về cuộc
sống muôn màu muôn vẻ của nhân dân ta. Những kiến thức đó muốn đợc cụ
thể, sinh động thì tuỳ từng bài mà giáo viên cần có sự liên hệ với thực tế cho
phù hợp
VD: Trong bài tập đọc Hạt gạo làng tacó thể học sinh liên hệ nêu ra
những khó khăn mà cha mẹ và các bác x viên phải trải qua để làm ra hạt gạoã
( Khó khăn do thời tiết, khó khăn do sâu bệnh gây ra, chứ không còn khó
khăn do bom đạn kẻ thù nữa)
Qua đó mà ta giáo dục cho học sinh tình cảm trân trọng, nâng niu từng
hạt lúa và cũng muốn đóng góp công sức nhỏ bé của mình để làm ra hạt lúa
Rõ ràng chỉ sau khi giáo viên đ giảng thật kĩ nội dung bài, học sinh hiểuã
đợc bài, thâm nhập vào nội dung cảu bài thì lúc đó các em mới có thể truyền
tải tới ngời nghe những ý nghĩ, tình cảm của tác giả ( Tức là lúc đó các em mới
đọc diễn cảm đợc).
12
Phng phỏp rốn c cho hc sinh lp 4, 5 lethuythiep@gmail.com
Phần hớng dẫn học sinh đọc diễn cảm đợc tiến hành ngay sau khi tìm
hiểu nội dung của toàn bài.
+ Cách tiến hành hớng dẫn học sinh đọc diễn cảm:
Tôi chép từng đoanh thơ lên bảng phụ. Sau khi hỏi học sinh về nội dung
của từng đoạn, tôi hỏi về cách đọc hay của từng đoạn sau đó cho học sinh khá
hoặc cô giáo đọc mẫu để thể hiện cách đọc hay của từng đoạn đó; cho học sinh
khác phát hiện ra những điểm nhấn, giáo viên gạch chân những từ cần nhấn
và gọi học sinh khác luyện đọc lại.
VD: đoạn 1 của bài Chợ tết, tôi hỏi: đoạn thơ này nói lên điều gì?
( Tả cảnh đẹp của thiên nhiên vào hôm có phiên chợ )
- Vậy khi đọc ta cần đọc nh thế nào cho hay?
( Đọc chậm r i, đồng thời nhấn giọng vào những từ có sức gợi tả)ã
Dải mây trắng / đỏ dần trên đỉnh núi
Sơng hồng lam / ôm ấp nóc nhà gianh
Trên con đờng viền trắng mép đồi xanh
Ngời các ấp tng bừng ra chợ tết
VD: đoạn thơ 2 tôi hỏi : ý của đoạn thơ này nói lên điều gì?
( Cảnh mọi ngời tng bừng đi chợ tết )
- Vậy ta cần phải đọc nh thế nào cho hay?
( Đọc với giọng vui, rộn ràng, thể hiện không khí vui vẻ, tng bừng của ngời đi
chợ tết đồng thời nhấn vào những từ có sức gợi tả đợc in đậm.
Họ vui vẻ kéo hàng / trên cỏ biếc
Những thằng cu áo đỏ / chạy lon xon
Vài cụ già chống gậy / bớc lom khom
Cô yến thắm / che môI cời lặng lẽ
Thằng em bé / nép đầu bên yếm mẹ
Ngời hai thôn / gánh lợn chạy đi đầu
Con bò vàng ngộ nghĩnh / đuổi theo sau
Cái gốc để giúp cho học sinh có thể đọc diễn cảm tốt là phải giúp học sinh
cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc. Cách thức giúp học sinh cảm thụ tốt nội
dung bài tập đọc chính là các bớc tiến hành mà tôi đ nêu ra ở trên. Song họcã
sinh có thể đọc diễn cảm tốt hơn nếu nh học sinh đợc nghe cô giáo mình đọc
hay, đọc tốt. Cách đọc của cô chính là một thứ phơng tiện trực quan có hiệu
quả nhất góp phần minh chứng cho những gì mà cô và trò cùng thống nhất ở
trên. Để rèn cho mình khả năng đọc diễn cảm tôi thờng soạn bài thật kỹ (bài
soạn của tôi dựa trên những gợi ý của sách giáo viên song cũng phải căn cứ
vào tình hình thực tế của lớp mình về trình độ nhận thức cũng nh khả năng
đọc của học sinh để có một bài soạn phù hợp nhất, cân đối nhất giữa hai phần
rèn đọc và cảm thụ). Xem lại toàn bộ nội dung bài soạn trớc khi lên lớp để nắm
13
Phng phỏp rốn c cho hc sinh lp 4, 5 lethuythiep@gmail.com
chắc nội dung bài, thẩm thấu toàn bộ nội dung của bài và nắm đợc suy nghĩ,
tình cảm của tác giả đợc gửi gắm trong bài văn và đặt mình vào hoàn cảnh của
tác giả để nhằm truyền tới ngời nghe hiểu biết của mình và tình cảm của tác
giả. Với các bớc tiến hành rèn luyện nh vậy cùng với sự kiên trì tập luyện mà
mỗi lần tôi đọc mẫu đ thực sự cuốn hút các em chú ý vào nội dung của bài.ã
Qua nghiên cứu tìm tòi và áp dụng biện pháp rèn đọc diễn cảm cho học
sinh trong nhiều năm tôi thấy rất vui mừng vì khả năng đọc diễn cảm của lớp
4a đ có những tiến bộ rõ rệt. Trong năm học này theo số liệu tôi mới tiến hànhã
điều tra ngày 15/ 1/ 2009 ở lớp tôi nh sau:
Khả năng
đọc diễn cảm
Mức độ đạt
Tốt Khá Trung bình Cha đạt
10/36 em 13/36 em 10/36 em 3/36 em
Kết thúc vấn đề
I. Bài học kinh nghiệm
1. Qua kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy tôi thấy muốn rèn đọc cho học
sinh có hiệu quả thì ngời giáo viên phải nắm chắc phơng pháp dạy đọc bao
gồm:
a, Phơng pháp đọc rõ văn xuôi: Đó là hớng dẫn học sinh đọc chính xác
(phát âm đúng, đọc đúng những tiếng có vần khó, những tiếng có dấu thanh
mà học sinh hay nhầm lẫn, hớng dẫn học sinh biết đọc ngắt theo cụm từ, đọc
đúng các kiểu câu )
b, Phơng pháp dạy đọc rõ văn vần ( đó là cách ngắt nhịp các thể thơ )
c, Phơng pháp dạy đọc to và đọc thầm: Cần phải lu ý có đọc to đúng thì đọc
thầm mới đúng đợc do đó khâu hớng dẫn đọc đúng phải đợc tiến hành trớc và
phải làm thật tốt. Trong giờ tập đọc, một em đợc chỉ định đọc to thì đồng thời
giáo viên cũng yêu cầu các em khác luyện đọc thầm theo bạn. Nh vậy trong 1
giờ tập đọc có khoảng 15 em đợc đọc thì cả lớp cũng đợc luyện đọc thầm 15 lần
d, Phơng pháp dạy đọc diễn cảm: Cơ sở để giúp học sinh luyện đọc tốt là phải
hiểu và cảm thụ đợc nội dung của bài. Đồng thời phải tạo cho các em một tâm
trạng bình tình, tự nhiên và thởi mái khi đọc. Các em không thể đọc diễn cảm
đợc nếu nh trong một trạng thái sợ sệt, hồi hộp, lo lắng. Vận dụng tốt những
phơng pháp đ dạy đọc nhã đ nêu ở trên là nhằm mục đích đạt dã ợc 4 yêu cầu về
đọc đó là: đọc chính xác, đọc lu loát, đọc thầm, đọc diễn cảm.
Bốn yêu cầu đó phải đợc thâm nhập vào nhau, hỗ trợ nhau mà không nên
tách rời thì mới có thể nâng cao hiệu quả của giờ tập đọc
14

Xem chi tiết: SKKN Tập đọc 4


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét