Thứ Hai, 3 tháng 3, 2014
Tiết 86: Nỗi thương mình
Tiết 86:
Đoạn trích:
Nỗi thương mình
(trích Truyện Kiều Nguyễn Du)
- Đoạn trích gồm 20 câu, từ câu 1229 đến câu
1248. (thuộc phần 2: Gia biến và lưu lạc).
Đoạn trích: Nỗi thương mình, vừa miêu tả
cảnh sống ô nhục ở lầu xanh và tâm trạng
đau đớn, tủi nhục của Thuý Kiều. Đồng thời
thể hiện thái độ thờ ơ trước cảnh sống, thú vui
ở lầu xanh, bộc lộ ý thức về nhân phẩm của
Thuý Kiều.
Bố cục: 3 phần
-
4 câu đầu: Hoàn cảnh sống của Kiều.
-
8 câu tiếp: Tâm trạng Kiều khi ở lầu xanh.
-
8 câu còn lại: Khái quát tâm trạng qua cảnh vật
Biết bao bướm lả ong lơi,
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh.
- Nghệ thuật:
+ Hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng
+ Sáng tạo từ
+ Đối xứng từng câu thơ
Bướm lả, ong lơi, lá gió, cành chim
Ong bướm lả lơi => Bướm lả ong lơi
Cuộc say đầy tháng / trận cười suốt đêm
Sớm đưa Tống Ngọc / tối tìm Trường Khanh
=>Miêu tả khách làng chơi ra vào dập dìu,
nhộn nhịp.
Tóm lại: Chỉ 4 câu thơ mà đã miêu tả được đầy
đủ hoàn cảnh sống của Kiều ở lầu xanh. Bút
pháp ước lệ lá gió cành chim , bướm lả ong
lơi thể hiện thân phận của nàng Kiều. Một mặt
phê phán hiện thực cảm thông với nhân vật của
Nguyễn Du.
Khi tỉnh rượu lúc tàn canh,
Giật mình mình lại thương mình xót xa.
Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!
Mặc người mưa Sở mây Tần,
Những mình nào biết có xuân là gì.
Khi tỉnh rượu lúc tàn canh,
- Nhịp 3 /3 tạo ra 2 vế đối càng khắc sâu hơn
cảnh ngộ nàng Kiều (gợi bước đi của thời gian).
Cảnh ngộ bẽ bàng.
* Câu 1:
mìnhmìnhmình
Câu 2: Giật lại thương xót xa.
-
Từ mình được nhắc lại 3 lần:
Mình (1): Trạng thái cảm xúc -> giây phút
sực tỉnh của Kiều để nhận ra thực trạng nhơ nhớp
ở chốn lầu xanh.
Mình (2): Chỉ chủ thể
nhân vật trữ tình.
Mình (3): Kiều tách mình
ra để nhìn lại mình.
mìnhmình mìnhCâu 2: Giật lại thương xót xa.
=> Kiều đang sống trong tâm trạng buồn tủi, đau
đớn, xót thương cho chính mình.
- Nhịp thơ: 2/4/2: phá cách, không bình thường ở
thơ lục bát.
+ Sự cô đơn của Kiều.
+ Tâm trạng thảng thốt, bàng hoàng, tái tê,
đau đớn.
Quá khứ >< Hiện tại
Khi sao phong gấm rủ là >< tan tác ,
mặt dày gió dạn sương ,
thân bướm chán ong chường
Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!
- Phép lặp: từ sao lặp 4 lần -> Lời thơ như
tiếng nấc tức tưởi
- Phép đối:
- Thành ngữ
Yên ổn, êm đẹp >< phũ phàng, nghiệt ngã
Mặc người mưa Sở mây Tần
(1)
,
Những mình nào biết có xuân là gì
(2)
.
Mặc người mưa Sở mây Tần
(1)
,
Những mình nào biết có xuân là gì
(2)
.
=> Kiều đã dám nhìn thẳng vào sự thật phũ
phàng ấy với tất cả sự xót xa, ghê tởm và đi đến
một khẳng định dứt khoát.
Từ mặc diễn tả sự từ chối dứt khoát.
Từ những mình chỉ riêng mình, vừa chỉ sự
cô độc của Kiều.
- Tác giả đã biến đoạn thơ thành lời
độc thoại nội tâm của nhân vật.
Tiểu kết:
Đòi phen gió tựa hoa kề
(3)
,
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu.
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
Đòi phen nét vẽ câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa.
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét